TIN TỨC

Thăm thẳm nỗi niềm trong ‘Ngõ gió’ của Lưu Hồng Vân

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-09-29 00:58:31
mail facebook google pos stwis
2906 lượt xem

  Nguyễn Văn Hòa

Thâm trầm và lặng lẽ, Lưu Hồng Vân miệt mài với những con chữ đượm tình, sau một Rượu xưa đầy khắc khoải; Tập tàng vời vợi nhớ thương thì lại đến một Ngõ gió hoang hoải những chiêm nghiệm về tình yêu và cuộc đời.

Ngõ gió đã tạo được những nét riêng nhất định cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện. Đây là bước chuyển rất đáng được ghi nhận của một người làm thơ cần mẫn, hăng say như Lưu Hồng Vân.

119 bài thơ trong Ngõ gió, Lưu Hồng Vân đã thể hiện được thi pháp riêng của cái tôi tự biểu hiện, tự soi tỏ; để từ đó nhìn ra - nghiệm suy mọi thứ đang hiện hữu quanh mình, ở thời đại mình đang sống với sự đồng hiện và đan cài giữa hiện tại -  khứ - tương lai.

Dòng người trôi cuồn cuộn/ Muốn thành danh phải dơ hơn một tý/ Người khóc thuê/ Người lệch chuẩn/ Trên đường về cổ vũ hào hoa// Đường lối nhân sinh có lẽ rất xa hoa/ Mắt em cong mi dài lóng lánh/ Trước ly rượu nâu anh cười sang chảnh/ Trong lòng buồn hoang hoác thâm sâu... (Hoang mang).

Thơ Lưu Hồng Vân là thơ của cảm xúc rất đỗi chân thành, từng câu chữ cứ hiển hiện một cách tự nhiên qua lăng kính của một người luôn nhìn cuộc sống một cách trầm tĩnh và đa chiều. Có lẽ chính những chiêm nghiệm cuộc đời của một con người từng đi qua hết mọi cung bậc cảm xúc, yêu thương rồi xa cách để tĩnh lặng,  tự chất vấn chính mình. Mơ hồ những vết chân chim/ Bảng bay son phấn đi tìm phấn son/ Đường nhân gian đã quá mòn/ Đá phơi sương gió có còn biết đau (Đá đau).

Thâm trầm là thế, song cũng có lúc người thơ vẫn không khỏi thảng thốt trước những dự cảm riêng mình về thời gian, về những ký ức sống động của tuổi trẻ: Em vừa cắt tỉa lời ru/ Xa xưa bím tóc còn chưa gọi thề/ Ta vừa đứt đoạn đam mê/ Tóc xanh đã ngả bên lề trắng phau (Tóc xanh); hay Đường heo hút gió phong tình/ Họa mi khắc họa trắng tinh chớm mùa/ Dã quỳ vàng dã khúc cua/ Em trong leo lẻo tiếng xưa còn thề/ Ta bong tróc với đam mê/ Vàng son hắt hủi bước về lạnh sâu (Đường cuối thu); Nắng cứ gắt, mưa cứ rơi/ Tình si trói buộc khắp nơi một mình/ Trái ngọt nhiều trái ngọt xinh/ Hoa chưa nở đã thấy mình tàn phai/ Dòng trôi heo hút đường dài/ Thời gian rất ngắn cũng thoai thoải buồn (Si).

Với tâm hồn đa mang, đa cảm của người thi sĩ thì dù một biến chuyển nhỏ của tự nhiên hay lòng người cũng khiến Lưu Hồng Vân không khỏi suy tư: “Thu vàng hạ đỏ xuân xanh/ Dụi ngang mày xám cho thành mùa đông/ Người hay nói có thành không/ Xoa tay hoang vắng vẫn trông miệng cười/ Dung dăng bỏ chín thành mười/ Mắc mang duyên phận ngoài tươi trong tàn (Thu tàn). Cũng có lúc khi nhìn thấu được những nhiễu nhương, bất trắc và cả sự hoang mang dâng lên từng câu chữ: Kẻ loạn ngôn thành kẻ tinh hoa/ Nói mãi/ Hát mãi/ Câu hát sau không như câu hát trước/ Bấy nhiêu năm/ Nói xong/ Rồi chẳng biết đã nói gì/ Bị vặt lông/ Bị hiến tế/ Bầy cừu vẫn im lặng/ Đi… (Bầy cừu); Ngọn gió hôm nay rực rỡ đèn mầu/ Ôi thứ đèn ăn son ăn phấn/ Như con thú bắt ánh sáng giữa rừng sâu/ Hay như thiêu thân lao vào để chết/ Ngày hôm nay người ta quên hết/ Muốn đi nhanh hơn phải biết xếp hàng/ …Chưa kịp buồn đã thấy hoang mang (Hoang mang).

Là người con đất Bắc nên những kỷ niệm ấu thơ, những vụng dại buổi đầu lẫn những chông chênh, hẫng hụt với đời đều gắn liền với vùng đất ấy. Bởi vậy nên rất dễ bắt gặp những câu thơ với thanh âm và hình ảnh mang đậm dấu ấn thâm trầm, nét đặc trưng xứ sở: “Em có về Nghĩa Lộ không em...”/ Ruộng bậc thang đang mùa lúa chín/ Suối vắt trong mây trời bịn rịn/ Đá ngâm mình chiêm nghiệm những phù sa// Nắng đồi chè loang loáng trôi qua/ Vết trăng tròn lấp sau áo trắng/ Gốc chè mốc hoang chiều thầm lặng/ Bỗng rạng ngời tím ngắt hoa sim (Về Nghĩa Lộ). Hay Tư Đình nắng xuống Lâm Du/ Làm sao nhạt bớt mùa thu đang tàn (Bờ vai); Sáng đầu đông trong veo Tây Yên Tử/ Thiếu nữ người Dao khua chổi quét lá thông/ Người phiêu lưu bắc lên bao bậc đá/ Đá đã mòn trơ sao em vẫn nói không// Ở phía trên An Kỳ Sinh bất tử/ Người dựng tượng hơn hai trăm tấn/ Trên đỉnh non thiêng chùa xây mới/ Sắc nét bên ngoài nhạt bên trong (Yên Tử).

Tình yêu trong thơ Lưu Hồng Vân rất khó nắm bắt, tựa như một hồ sâu hun hút, mặt nước tịnh yên nhưng dưới thẳm sâu sóng gợn khôn cùng. Đó là tình yêu của người đàn ông thật sự trưởng thành và mang những vết đau không phai dấu. Bởi vậy nên người đàn ông ấy lặng lẽ cất niềm thương vào đáy mắt, cất nỗi buồn vào tận đáy tim và giữ sự trầm tĩnh đến vô cùng để đi qua năm tháng. Thôi đừng trích dẫn ngày mưa/ Hàng cây giơ ngón như vừa tắt thu/ Sắc thanh thanh sắc phiêu du/ Đồng vong trống trải xóm tu chật rồi/ Thôi đừng trích dẫn xa xôi/ Tóc xanh bướm trắng đã vừa vội bay/ Nhân gian canh bạc tất tay/ Ái nhân chai sạn mỗi ngày một xa (Thôi đừng); Gió mùa cắt đứt cơn mê/ Yêu thương roi quất nhớ về sẹo non// Tự thiêu ngày tháng mất còn/ Tìm đâu giày đỏ chân son mà tìm// Ta về gói ghém lặng im/ Nhớ thương buộc lại cánh chim lạc mùa (Gió mùa).

Cũng bởi vì thế mà xuyên suốt tập thơ là nỗi niềm hoang hoải, là một tình yêu không thể nắm bắt, dẫu không bi lụy nhưng cũng chưa bao giờ trọn vẹn. Mưa nhà ai đổ mãi trăm nơi/ Ngọn vu quy tìm nơi gõ cửa/ Cánh gập rồi gió còn lạc lối/ Mịt mùng đêm gieo giắc hôm trưa/ Ta tìm nhau đến vô hạn định/ Chút tình yêu biết mấy cho vừa (Hạn định). Để rồi nơi “ngõ gió”: Người theo ngõ Thông Phong về với gió/ Để trên trời ríu rít những dây/ Mỏi cánh chim tìm hoài không có/ Ngày cuối năm mưa bụi cứ bay// Ta lang thang trên ngày gian khó/ Biết tìm ai trong đám đông người/ Đành đậu neo niềm tin ảo cũ/ Nhấp tâm tình trong cốc chè tươi// Ngõ một mình qua tuổi năm mươi/ Ngày tháng rộng nay càng hạn hẹp/ Gió đi qua hun hút biết cười (Ngõ gió).

Với Ngõ gió, có lúc Lưu Hồng Vân như đang độc thoại với chính mình. Sấp ngửa đời người với bao nhiêu được mất, với bao nhiêu chiêm nghiệm về thế thái nhân tình, những điều đã và đang xảy ra đầy nhức nhối.

Buồn quá đất ơi/ Thầy địa lý sợ rằng đất biết nói/ Người với người sợ đất biết chia/ Ngày hôm qua, ngày hôm kia/ Đất trào máu// Đất có trước/ Người sinh ra sau/ Người bạc trước đất bạc sau// Đất và người không cho riêng ai hết/ Đất biết đau/ Người ta nói “trái đất ba phần tư nước mắt/ Là biển sâu/ Hay do đất khóc... (Đất).

Trên đường đời tấp nập với bao nhiêu điều tốt - xấu; bình yên - bất trắc... xảy ra; để rồi Lưu Hồng Vân nhận ra rằng: Ông trời gieo những sinh linh/ Vòng quay thì ngắn sợi tình thì dai/ Nhân sinh hít một hơi dài/ Cùng nhau ngụp lặng đến phai bạc đầu… (Gieo). Dẫu ở góc nhìn nào, với cung bậc cảm xúc nào thì Lưu Hồng Vân cũng chạm vào tận cùng những trở trăn nhân thế. Ngai ngái chiều nắng vàng tịnh độ/ Chuông từ tâm thăm thẳm rất sâu/ Lời yêu đương mặc nhiên bến đỗ/ Sương khói đem đi thả giữa cầu/ Dòng sông nào bồi đắp đã lâu/ Ngày tháng năm hồn nhiên rơi vãi/ Giữa đục trong phù sa mê mải/ Đãi cát tìm ta lại thấy mắt nhau (Mắt nhau). Và với Ngõ gió, khi đọc đến trang cuối cùng, gấp sách lại rồi mà lòng vẫn hoang hoải gió và thăm thẳm những nỗi niềm trắc ẩn!

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm