TIN TỨC

Bùi Phan Thảo với khúc ca bi tráng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-09 16:29:11
mail facebook google pos stwis
1472 lượt xem

CHÂU HỒNG THỦY

Trường ca "Những ngọn khói về trời" của Bùi Phan Thảo là cuốn truyện bằng thơ, kể lại một thảm họa lịch sử - đại dịch COVID - 19 vừa mới xảy ra ở TP. Hồ Chí Minh.

"Những ngọn khói về trời" giống như một bộ phim tư liệu nhiều tập, có nhiều phân cảnh đan xen, có những khung cảnh chung bi tráng, có lúc lại cụ thể chi tiết như ống kính tập trung đặc tả. Mười chương của trường ca:"Đêm trước ngày phong tỏa", "Nhân loại bàng hoàng", "Sài Gòn đau một phần thân thể", "Những chiến binh thầm lặng", "Thơm mãi những bàn tay", "Chúng tôi chỉ tạm xa thành phố", "Những ngọn khói về trời", "Đối diện", "Tưởng niệm", "Hồi sinh" đã tái hiện được cả quá trình của thảm họa đau thương mà người dân thành phố gánh chịu…

Mở đầu tập thơ là những "thước phim" tả cảnh TP Hồ Chí Minh "Đêm trước ngày phong tỏa" đầy âu lo, với dự cảm tang tóc cận kề. Ống kính tập trung vào nhân vật "tôi - tác giả" đang mất ngủ "đứng trên tầng 20 cao ốc chung cư" nhìn xuống thành phố "ánh điện nhiều tháng rồi vàng vọt hơn…". Vì dịch bệnh kéo dài đã nhiều ngày nên "thành phố vắng hoe… tiếng rao đêm đã chìm sâu sau những bức tường mái tôn dãy trọ/ không có tiếng xe ba gác phành phạch giữa khuya/ í ới gọi nhau ra chợ Bình Điền gom hàng về bỏ mối…" (tr 14).


Nhà thơ Bùi Phan Thảo

Những âm thanh trong đêm bây giờ chỉ là những âm thanh báo hiệu chết chóc: "Xe cứu thương rúc những hồi còi dài nhức nhối tâm can/ xoắn thêm những nỗi lo rõ ràng và mơ hồ/ có tên và không tên/ cứ sợ thành phố bật cơn ho rũ rượi/ ôm ngực đau/ đôi mắt thâm quầng"… Rồi ống kính máy quay đặc tả hai gương mặt: "Ông già bán vé số nằm chèo queo không biết ngày mai lấy gì để sống/ thằng bé lượm ve chai ngồi mơ gói xôi mặn có miếng lạp xưởng mỏng dính mỡ màng" (tr 14). Hai nhân vật này đại diện cho những thân phận tha hương nghèo khổ nhất, mỏng manh nhất trong đại dịch.

Nhà thơ dành nhiều dòng thơ miêu tả hoàn cảnh và nỗi tuyệt vọng của ông già bán vé số không rõ từ vùng quê nào lên thành phố mưu sinh. Tuy "Đất Sài Gòn dễ sống/ siêng năng tần tảo là có cơm ăn/ một góc vỉa hè cũng lập nghiệp, lập thân/ đất không phụ người, người không phụ đất/ Sài Gòn không đất lành chim đậu/ nhưng Sài Gòn bao dung cưu mang những phận dân nghèo" (tr 14), nhưng nào có ai nghĩ đến có một ngày dịch bệnh toàn thế giới kéo dài, cũng chẳng có ai nghĩ đến một ngày cả TP Hồ Chí Minh bị phong tỏa, nên giờ lâm vào cảnh lao đao. Lệnh phong tỏa đến trong lúc"những đồng tiền còm cõi đã bay đi theo bàn tay trắng", nhiều người chẳng còn khả năng trả tiền thuê nhà trọ, chẳng còn tiền mua nổi một cái bánh mỳ, hay cân gạo. Ông già kể: "Mấy hôm trước theo nhau làm một cuộc hồi hương bất thành/ quay lại sống qua ngày trong xóm trọ buồn thiu dây giăng tứ phía/ nay thành phố phong tỏa thêm một tháng/ lại vội vã hồi hương rồi cũng bất thành…" (tr 15).

Dịch bệnh đã tạo nên cảnh "sân bay vắng bóng người/ quốc lộ vắng bóng người/ phố xá đìu hiu/ làng quê quạnh quẽ/ ai ở đâu yên đấy/ mà lòng nào yên…"  (tr 26). TP Hồ Chí Minh trở thành nơi ''những chùm ca bệnh dồn vào hẻm nhỏ/ khăn tang trắng từ đầu con phố/ nước mắt vòng quanh ra đến bờ kinh" (tr 33-34).

Là nhà báo trực tòa soạn hàng ngày phải nhận dữ liệu, sắp xếp đưa tin số ca nhiễm bệnh, số người chết vì COVID-19 lên báo kịp thời, với Bùi Phan Thảo, đó không chỉ là những con số, mà còn là những thân phận bất hạnh của kiếp người: "Biết mỏng mảnh lằn ranh tử sinh/ mà vẫn nhói lòng con số mỗi ngày trên báo/ tôi ngồi lặng trước tin bài từng đêm giông bão/ ngoài kia gió quật mưa gào/ nước mắt khô lại đầy như biển/ sóng dâng lên trôi hết những vì sao" (tr 35).

Chương "Chúng tôi chỉ tạm xa thành phố" viết về cuộc hồi hương bất đắc dĩ là chương bi tráng nhất của trường ca. "Về thôi em/ về quê mình ư, xa lắm/ xa cũng phải về, ở đây không biết ra sao/ kéo nhau đi còn hơn chờ điều không rõ/ ừ thôi chở nhau về trên xe máy/ những ngả đường thiên lý vắng người qua/ bên vệ đường có ai nằm lại/ không đi nổi, bỏ cuộc rồi/ một nén nhang thay cho lời tạm biệt'' (tr 68-69). Cuộc hồi hương vạn dặm này (chủ yếu về phương Bắc) là con đường đi ngược với hành trình của cha ông. "Chúng tôi đi đường thiên lý rùng rùng/ vó ngựa xưa của cha ông tung bụi mù thế kỷ/ chinh chiến lao lung đổi lấy hòa bình/ con cháu hôm nay đối diện với nghiệt ngã tử sinh/ phải chọn lối về trú ngụ…" (tr 70).

Khó cầm được nước mắt khi đọc những dòng thơ tác giả miêu tả trong đoàn người hồi hương ấy, có hình ảnh người vợ trở về trong một chiếc bình tro trên tay người chồng: "Cha đưa mẹ về quê/ cha nâng mẹ trên tay ôm mẹ trong lòng/ đường dài hun hút mắt cha sâu như đêm trường/ Thôi em về yên nghỉ với quê hương/ bỏ lại phồn hoa những ngày yêu dấu/ những buổi tan ca hò hẹn tình đầu/ chúng ta đã có một gia đình/ có tiếng cười trong veo của con/ chúng ta đã có tất cả/ nhưng đại dịch đã lấy đi tất cả/ anh đưa em về/ quên hết buồn thương đau khổ/ em ngủ ngon trên xứ sở quê nhà/ trong lời ru ngọn gió đồng xa/ trong nỗi nhớ buồng tim anh quặn thắt…" (tr 73), hoặc người vợ vừa thoát khỏi lưỡi hái tử thần, mất trí, thẫn thờ, bởi trụ cột tựa nương của đời mình giờ chỉ còn là một bình tro: "Nhưng sao anh bỏ em đi trước/ em cô đơn và con mồ côi/… nén đau thương em biết mình mất trí/ quờ quạng đi quờ quạng sống qua ngày/ đưa anh về bến gió lắt lay/ gửi tro cốt lên chùa cho ấm cúng/ chiều xưa bờ sông tay trong tay/ chiều nay bờ sông hồi chuông rụng/ hơi thở trầm nghi ngút khói hương…" (tr 76)

Hình ảnh "Những ngọn khói về trời", là ngọn khói lò hỏa thiêu, là biểu trưng cho những linh hồn từ bỏ cõi đời trần thế về với cao xanh. Nhìn những ngọn khói bay lên trời suốt ngày đêm, kéo dài trong nhiều ngày không ngớt, người ta biết được mức độ của thảm họa.

Đọc "Những ngọn khói về trời", ta thấy Bùi Phan Thảo như hóa thân vào linh hồn của những người đã khuất, nhiều người chưa đi hết nửa cuộc đời đã phải chịu cái chết oan uổng - để nói lên nỗi lòng của họ: "Lối về đã trùng trùng vạn dặm/ lũ quỷ dẫn đường cho cuộc chia ly/ âm dương nhập nhòa chiều hôm nhập nhoạng/ có người vịn cành cây rướn cổ hát một bài ca/ Hát rằng: Quê hương ơi ta từng có quê hương/ nhà cửa ơi ta từng có cửa nhà/ phiêu bạt thân ta về viễn xứ'' (tr 86) "Những người mà thân xác không được trở về với nơi chôn rau cắt rốn: "Xác thân cha mẹ cho trở về tro bụi/ không về với đất bên mảnh vườn nhà/ không về làng xóm nghe tre ru ngân nga/ vào chùa nghe kinh nhẹ lòng siêu thoát/ ra sông tan vào phù sa/ ở ngoài kia còn có bao người chờ tới lượt/ bó lấy thân và dòng chữ ghi tên/ có người chỉ ghi vỏn vẹn: vô danh" (tr 87). Hình như tất cả tình cảm, bút lực của nhà thơ đã trút hết vào chương "Những ngọn khói về trời" để tạo nên một chương cảm động nhất, hay nhất của trường ca.

Dịch bệnh đã tạm lắng. TP Hồ Chí Minh cùng cả nước tưởng niệm, cầu siêu cho những người đã mất, mong cho linh hồn họ được siêu thoát ở cõi vô cùng. Khói của những ngọn nến cũng giống như ngọn khói lò hỏa thiêu, là linh hồn những người từ bỏ cõi trần, những ngọn khói giống như những câu hỏi day dứt đối với người đang sống: "Ngọn khói như dấu hỏi quẩn quanh/ rồi cũng tan vào hư vô thăm thẳm… những câu hỏi không lời đáp/ những đớn đau không di cư…" (tr 102-103). Trong khi tưởng niệm, cầu nguyện cho người đã khuất, không khí đau buồn, bi thương lại hiện về: "Có ngày người dân nước tôi đã khóc/ nước mắt thành dòng/ chảy như sông/ trên khắp ba miền/ ngược nguồn thấm vào núi/ xuôi dòng về biển khơi/ bé thơ đội vành tang trắng/ thương em gan ruột bời bời/ Đại dịch cướp đi bao sinh linh vô tội/ trong mắt đầy lên ám tượng không rời/ chập choạng phiên chợ chiều cánh dơi bay vào lịch sử/ người gọi người hoảng hốt chơi vơi/ xin những người không thể trở về/ hãy yên nghỉ trong tiếc thương vô tận/ đêm nay ngọn nến sáng lòng người/ xoa dịu nỗi đau bằng bàn tay ấm'' (tr 103-104). Và mừng thay, bĩ cực thái lai, thành phố đã hồi sinh: "Nắng lên xanh phố phường tấp nập… bé thơ đến trường rộn ràng lớp học/ xí nghiệp vào ca tiếng máy như reo... xin cảm ơn người đã trở về/ lá gọi ngày đông tàn khẽ rụng/ đất gọi trời đem về xuân xanh/ đóa tình thơm, nở giữa lòng lành" (tr 107-114).

COVID-19 là đại họa, đồng thời đại họa cũng là lời cảnh báo, dạy cho con người những bài học đắt giá: Không được tự phụ, cao ngạo trước thiên nhiên - tạo hóa. Chỉ là con virus nhỏ bé, gần như vô hình, mà nó đã quật ngã những thân thể cường tráng, lấy đi hàng triệu sinh mạng trên thế giới, làm cả loài người chao đảo, bàng hoàng, nó tàn phá nền kinh tế của các quốc gia. Đại dịch cũng là phép thử, góp phần sàng lọc con người: Những mặt tốt của con người được bộc lộ rõ ràng, những mặt xấu được phơi bày trần trụi. Hai chương "Những chiến binh thầm lặng" (tr 39- 47) và "Thơm mãi những bàn tay" (tr 49-61) tập trung miêu tả sự hy sinh cao cả của những chiến sĩ ngành y cứu mạng sống của người dân; miêu tả tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau của cả nước dành cho người dân Sài Gòn. Hai chương "Nhân loại bàng hoàng" (tr 17-28) và "Đối diện" (tr 91-98) góp phần vạch trần những bọn bất nhân vì lòng tham móc nối câu kết với nhau làm tiền trên sinh mạng của người dân vô tội và yếu thế. Nhà thơ khẳng định sẽ có lúc bọn bất nhân phải đối diện với tòa án lương tâm, đối diện với linh hồn những người chết trong oan ức, đối diện với luật nhân quả.

Nguồn: https://vnca.cand.com.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm