TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Cái tôi trữ tình mang nhiều nỗi niềm hoài niệm và những trắc ẩn, suy tư trong thơ Trần Quang Khánh

Cái tôi trữ tình mang nhiều nỗi niềm hoài niệm và những trắc ẩn, suy tư trong thơ Trần Quang Khánh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-11-28 17:12:13
mail facebook google pos stwis
1865 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Thơ Trần Quang Khánh được viết ra bởi những cảm xúc chân thành của một trái tim nhạy cảm, giàu trắc ẩn với nhiều nỗi trăn trở, suy tư. Có lẽ chính đời binh nghiệp và những thăng trầm của cuộc sống đã cho anh những bài học, sự trải nghiệm về con người, cuộc đời trong một cái nhìn thấu đáo, đầy tính nhân văn.

Núi cứ chồng lên như ngói lợp/ Tuyết rơi phủ trắng cả lưng trời/ Cây im chết cóng trong đêm lạnh/ Chỉ thấy màu xanh áo của anh/ Chiến sĩ biên phòng mang ngọn lửa/ Tình yêu sưởi ấm đất biên cương/ Non sông một dải xanh màu mới/ Đất nước bình yên. Tổ quốc ơi!

Đọc thơ anh, phần nào bạn đọc hiểu được con người đời thường và con người thơ Trần Quang Khánh. Thành công ấy là biểu hiện của quá trình trải nghiệm của một hồn thơ đã chín với những suy nghĩ, quan niệm đúng đắn về thơ và công việc làm thơ - giãi bày tấm lòng thành thật của mình về những điều muốn được ký gửi. Vì thế, trong thơ Trần Quang Khánh không chỉ là nơi ký thác tâm hồn với những suy tư, trăn trở, khát vọng yêu thương mà còn là sự ngợi ca đồng chí, đồng đội - những người đã hy sinh máu xương, công sức cho sự bình yên, đẹp giàu của đất nước này, dân tộc này.

Thơ Trần Quang Khánh viết về nhiều chủ đề, đề tài nhưng có lẽ những vần thơ về chiến tranh, người lính, đồng đội, quê hương, đất nước là những vần thơ để lại nhiều ấn tượng nhất với bạn đọc.

Với Trần Quang Khánh, cảm xúc về thơ luôn thường trực, nhưng vì công việc trong môi trường quân đội nên anh không có thời gian để sáng tác thơ. Mãi cho đến khi về hưu, anh mới có thời gian để thực hiện ước muốn của mình thời trẻ. Và Trần Quang Khánh đã bắt đầu tìm lại những trang nhật ký để viết lại một cách đầy đủ hơn, hoàn thành những vần thơ để tri ân với bạn bè, quê hương, đồng đội… Anh viết bằng chính sự thôi thúc, rung động của trái tim chân thành; viết ra trong nỗi nhớ thương da diết và cả những nỗi niềm day dứt của bản thân.

Sáu mươi tuổi rồi bạn ơi

Nếu sáng ấy bạn không hứng trọn chùm pháo địch

Chúng bắn như điên những tên khát máu

Mắt trợn trừng miệng tả tả như rên

Bốn mươi năm trôi đi xương cốt bạn nơi nào

Nơi khe suối, hốc cây, mõm núi

Bạn đã hóa vào sông vào suối

Chảy hiền hòa cho đất mẹ bình yên

Bốn mươi năm sáng ấy giặc tràn lên

Tiểu đội chúng ta quay quanh đồi Yết Ngựa

Bọn bành trướng lũ quỷ điệp trùng cây cỏ

Lấy thịt đè người hòng nuốt chửng chúng ta

Đạn nổ vang trời bạn vẫn đứng bên tôi

Siết còi súng giặc ào ào gục đổ

Khắp mặt đất rung lắc như rây bột

Khẩu trung liên bay mất đầu nòng

Một loạt cối 82 nổ chùm quanh hào

Nơi bạn đứng chỉ còn trơ chân súng

Thân thể bạn hòa vào bầu trời rực sáng

Tôi căm hờn lao vào lũ quỷ nhe nanh

Bốn mươi năm đi qua hai mươi tuổi xuân xanh

Trong ký ức mọi người bạn vẫn khuôn mặt ấy

Đôi mắt đen hàm răng cười sóng dậy

Tuổi hai mươi lồng ngực căng đầy

Bốn mươi năm bạn vẫn ở nơi này

Nơi biên cương bốn nghìn năm tổ tiên không chớp mắt

Để canh giữ phẩm giá người dân Việt

Ngẩng cao đầu không chịu lạy quỳ ai

(Bốn mươi năm bạn vẫn ở nơi này)

Con người trong thơ Trần Quang Khánh bao giờ cũng trong tư thế ngẩng cao đầu, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng tiến công dù cho mưa bom, bão đạn của kẻ thù. Nhà thơ đã gọi kẻ thù bằng những từ đúng với bản chất của kẻ bạo tàn. Niềm đau đớn khôn nguôi của những người còn sống hôm nay đó là một số liệt sĩ vẫn chưa tìm được hài cốt.

Bốn mươi năm trôi đi xương cốt bạn nơi nào

Nơi khe suối, hốc cây, mõm núi

Bạn đã hóa vào sông vào suối

Chảy hiền hòa cho đất mẹ bình yên

Sự hy sinh, mất mát của những người đồng chí, đồng đội đã góp phần tô thắm ngọn cờ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì hòa bình thống nhất đất nước.

Bao nhiêu ký ức về đồng đội đã ngã xuống làm cho anh day dứt khôn nguôi. Trần Quang Khánh cảm thấy may mắn khi mình còn được sống, được cống hiến cho đến hôm nay.

Đọc hồi ức đồng đội tuổi đôi mươi/ Thuở lũ giặc tàn sát miền biên giới/ Năm bảy chín đất mẹ đầy nhức nhối/ Những bạn bè còn mất ở nơi đâu/ Chúng ta đi ở thuở ban đầu/ Của tuổi trăng tròn ra trận/ Trong mỗi đứa lung linh lời mẹ dặn/ Đất nước mình phải giữ lấy nghe con/ Chúng ta đi không tính chuyện mất còn/ Lên phía trước cha ông từng đi vậy/ Ta ngã xuống cho màu xanh thắm mãi/ Cho núi sông biển cả muôn đời/ Đất nước mình Tổ quốc Việt Nam ơi/ Bốn nghìn năm không yên bề cuộc sống/ Giặc phương Bắc dập dồn như biển sóng/ Cổ Loa xưa máu đỏ vẫn loang thành/ Chúng rập rình muốn cướp cạn biển xanh/ Cả trời cao chúng muốn ta cúi đầu nô lệ/ Ta chỉ có làm người trong tư thế/ Cáo Bình Ngô trong sáng nghĩa nhân/ Những hồi ức ùa dậy trong tôi/ Ta đã sống những ngày không hổ thẹn/ Bạn và tôi phải đâu là cánh én/ Bởi mùa xuân đã có ở trong đời (Hồi ức đồng đội).

Trần Quang Khánh luôn tìm về đồng đội và những ký ức của chiến tranh, sự ý thức cao độ về chủ quyền, lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc.

Ta lặng đứng giữa biên cương Tổ quốc/ Trắng mây trời, trắng cả rừng cây/ Trắng mái tóc đoàn quân đi trong gió/ Đôi mắt đen rọi sáng cả đêm ngày// Những người lính băng mình qua bụi đỏ/ Những hồng cầu giữ nhịp con tim/ Lọc trong suốt trăm triệu lần sắc tố/ Dòng sông sâu, câu hát mãi không chìm// Những nấm mộ vẫn nằm nghe gió hát/ Nơi thung sâu, nơi chót vót mây trời/ Bên vách đá, trong dòng sâu cửa biển/ Đảo khơi xa đáy nước vẫn đầy vơi// Tổ quốc ở trong tim người chiến sĩ/ Người ra đi, cùng người sống ôm ghì/ Dẫu có hóa thành muôn vàn sương khói/ Vẫn quyện vào sông núi chẳng chia ly! (Tổ quốc giữa tim mình).

Viết về quê hương, bản quán Trần Quang Khánh cũng dành những vần thơ đậm chất trữ tình. Là một đứa con nơi xa, xa quê đã ngót nghét gần 1/2 thế kỉ nhưng tận sâu trong tâm khảm vẫn luôn hướng về “cố hương”, dõi theo tất cả những đổi thay của đất mẹ bằng tình cảm sâu nặng và thiêng liêng nhất.

Quê hương nhà thơ, Đại tá Trần Quang Khánh đó là nơi có dòng sông Lam, núi Hồng, nơi có mẹ có cha, gia đình, bạn bè và những ký ức sâu đậm của thuở thiếu thời. Một xứ Nghệ diễm tình với những hình ảnh vừa quen thuộc, gần gũi nhưng cũng có gì đó huyền ảo, lung linh. Nó bảng lảng, giữa hai bờ hư thực, gần đó mà lại xa vời vợi…

Khuôn hồng soi bóng mặt ao

Dòng Lam cuộn sóng gió Lào thổi ngang.

 

Nón em chao chiếc thuyền vàng

Gom đầy cả một mênh mang nước trời.

 

Anh đi ngày ấy xa xôi

Dòng xanh lơ đễnh để trôi... ánh chiều.

 

Núi Hồng ngả bóng đăm chiêu

Cánh đồng xơ xác, cánh diều ngẩn ngơ.

 

Anh về kéo lại vần thơ

Ráng chiều đã úa, trăng mơ đã tàn.

 

Đôi bờ cầu đã bắc sang

Con đò bến cũ mấy hàng cây xanh.

(Lục bát chiều)

Vì thế, nhà thơ lại càng nhớ thương da diết hơn về quê hương, nguồn cội. Trần Quang Khánh càng miên man trong ký ức, càng đi sâu vào cái tôi thì vùng đất xứ Nghệ của anh được mở rộng ra: từ những điều bình dị, quen thuộc đến những sự kiện lịch sử quan trọng được sử sách lưu danh…

Trong bài thơ Hưng Nguyên, Trần Quang Khánh viết về một huyện đồng bằng tả ngạn sông Lam, nằm ở phía Nam của tỉnh Nghệ An. Huyện Hưng Nguyên ra đời vào năm 1469, khi vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ hành chính của cả nước. Hưng Nguyên từ xa xưa đã là địa bàn chiến lược về quân sự. Nơi xảy ra nhiều sự kiện lịch sử, gắn liền với những tên tuổi của các vị vua, quan, trí thức nổi tiếng của nước nhà.

Gần sáu trăm năm

Bên dòng sông Lam miệt mài bền bỉ

Lọc dòng xanh biếc xanh

Người với sông tạo nên bãi nên bờ

Nên những cánh đồng, trang sử, câu thơ.

 

Những ngọn núi cũng mang tên Thành, tên Lũy

Quả cảm hiên ngang Dũng Quyết, thành Vinh

Sừng sững nhìn ra biển lớn

Bạn Hồng Sơn gội nước Lam chiều.

 

Những con người không quản máu xương

Giữ trọn lời thề non nước

Núi Nhón còn in dấu chân cha ông thuở trước

Lam Kiều vằng vặc trăng soi.

 

Hưng Nguyên đã bao lần tuyến đầu

Bao lần hậu cứ!

Dấu vết ghi trên khuôn mặt mỗi con người

Niềm tin ánh thép

Miệng nở đóa hoa tươi!

 

Ai đặt tên quê hương Hưng Nguyên

Tôi lật tìm trang sách cũ

Tôi hỏi những ông già râu tóc bạc phơ,

Hỏi nắng bình minh trong giấc mơ

Không tìm được tháng ngày xác tín.

 

Nhưng tôi biết Hưng Nguyên quê hương tôi

từ khi ở trong nôi

Tôi biết là quê hương của tổ tiên, ông bà, cha mẹ

Là mảnh đất của nước Việt ngàn đời

từ khi chưa được đặt tên.

 

Hưng Nguyên qua biết bao cuồng phong, dâu bể

Đạn bom cày nát đồng quê

Đạn bom nhiều hơn hạt lúa

Bão lụt như cơm bữa

Những bữa cơm là củ sắn ,củ khoai

Nuôi những anh hùng, những người sáng tạo

Từ trong bùn lầy

Hai tiếng Hưng Nguyên vẫn đủ đầy.

 

Hưng Nguyên hôm nay khác xưa rồi

Phố phường ngõ xóm xa xôi

Rộn rã tiếng cười

Những nụ cười vút lên tầng cao

Hòa trong tiếng máy

Hòa trong điệu nhạc

Câu hát sông quê xao xuyến mây trời!

Nỗi niềm hoài niệm với quê hương trong thơ Trần Quang Khánh không đơn thuần là sự trở về với những kỷ niệm mà là sự quay về với những truyền thống, cội nguồn, trở về với  những giá trị đạo đức thẩm mỹ mang tính lâu bền, vĩnh cửu.

Viết cho bạn, Trần Quang Khánh cũng dành những vần thơ trữ tình, da diết. Ở đó, là sự yêu kính, trân trọng và cả sự nuối tiếc. Khi nhận được tin người bạn, người đồng đội của mình năm nào vừa rời cõi tạm, Trần Quang Khánh rưng rưng, nấc nghẹn:

4h sáng giật mình tỉnh giấc/ Điện thoại bật lên. Đạo đã đi rồi / Đạo đã bay thật rồi về cõi mộng/ Giấc mơ bay hóa thực ở phương trời!// Ta gặp nhau trong bước hành quân/ Trên trời Tổ quốc những làn mây trắng/ Ta đi trong mùa hoa đào biên cương khói sạm/ Sông Hồng mang sắc đỏ đau thương…// Sáng nay  Đạo bay về cõi mộng/ Bay về nơi quê mẹ thắt lưng ong/ Đất Quảng Bình ngày đêm trông ngóng/ Xếp cánh mơ đời yên lặng ngày đông!

        Vĩnh biệt Trần Quang Đạo - TP HCM, 4h sáng 10/11/2024

(Tiễn đưa Trần Quang Đạo)

Nếu bạn đọc tinh ý sẽ nhận ra trong thơ Trần Quang Khánh bên cạnh cái tôi trữ tình tự hào, ngợi ca, biết ơn, trân trọng sang lắng đọng, suy tư. Những vấn đề sử thi chuyển dần mang màu sắc thế sự, xuất hiện tâm thế đối thoại, chất vấn, hoài nghi.

Bài Đếm là một trong những bài thơ đậm chất thế sự. Đó là nỗi bi ai trước một thực tế đã diễn ra đầy chua chát.

 Người nông dân đếm tiền chưa hết bàn tay

Thi sỹ đếm tiền như đếm sao buổi sáng

KidsTet đếm tiền bằng vi tính màu sáng láng

Trăm triệu Mỹ Kim máu nhuộm đỏ sơn hà!!

Đi qua những năm tháng ở chiến trường, sau đó Trần Quang Khánh cũng có hơn 30 năm đứng trên bục giảng. Chừng ấy thời gian là có biết bao kỷ niệm gắn liền với nghề dạy học. Nhà thơ sâu sắc nhận ra sự cao quý của nghề và cả những điều kiện cần phải tuân thủ, những thứ nên tránh. Người thầy phải không ngừng rèn luyện, vun bồi cả kiến thức và nhân cách đạo đức, lối sống. Bởi nghề dạy học là nghề đặc biệt quan trọng, nghề đạo tạo ra con người, đào tạo ra cả một thế hệ tương lai cho đất nước.

Ta có thể ảo với ta suốt cả cuộc đời/ Ảo để sống với nỗi niềm khát vọng / Nuôi ngọn lửa đời trong tim không tắt ngấm/ Vật vã ngày đông truyền lửa yêu thương.// Nhưng không thể ảo trước con người lương thiện/ Những khuôn mặt ngây thơ khao khát đến trường/ Với người mẹ, người cha phơi mình trong nắng, bão/ Vun mầm non để ruộng rẫy nên hương.// 30 năm miệt mài trên bục giảng;/ Những năm tháng xa xôi khói lửa chiến trường/ Không thể ảo với quê hương, con đường ta bước/ Với dòng sông, biển đảo yêu thương.// Thà để bị vùi trong khói bụi/ Trong lò nung triệu độ trời cao / Nhưng không chịu rạp mình thành cỏ dại/ Để mong đời ban tặng chút xôn xao.

Bài thơ cho thấy rõ nhận thức, bản lĩnh, cốt cách của Trần Quang Khánh, một trí thức mẫn cảm, ý thức sâu sắc trách nhiệm công dân của mình.

Vốn là người từng trải, tinh tế nên Trần Quang Khánh nhìn đời trong sự linh ứng, nhạy cảm riêng.

Ta giật mình mùa thu lại đến/ Chiếc lá vàng tiễn một mảnh thu rơi/ Dòng nước biếc lọc bầu trời xanh biếc/ Có lọc được hồn ta trở lại thuở yêu đời!// Ôi cái thuở ngập tràn tình thương mến/ Mất mát đau thương không xóa nổi ánh mắt cười/ Ta nắm tay nhau giữa dòng xoáy lũ/ Bom đạn thét gào- Sông vẫn hát thương yêu!// Tiếng hát thành sợi chỉ nối đường đi/ Nối bền chặt một tình yêu tươi mới/ Con đường cứ đi và tình người lại đến/ Một nắm xôi đủ san sẻ những sắc đời! (Sắc đời).

Thơ Trần Quang Khánh đậm chất suy tư, giàu tính triết luận. Đọc thơ anh người đọc nhận ra đó là tiếng thơ của một con người từng trải. Tiếng thơ ấy của Trần Quang Khánh đã nói hộ được tâm trạng, cảm xúc, tiếng lòng của rất nhiều người mà họ không thể diễn đạt được bằng thơ như anh! Vì thế, bạn đọc đồng cảm và yêu thích thơ anh là vì lẽ đó.

Nhà thơ Trần Quang Khánh sinh năm 1959 ở Nghệ An. Ông nhập ngũ từ năm 1978, theo học và tốt nghiệp khoa Ngữ văn của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, sau đó tốt nghiệp trường Sĩ quan và có nhiều năm giảng dạy trong nhiều trường biên phòng cho đến khi về hưu năm 2017. Với những trải nghiệm phong phú của đời lính trong hơn 10 năm là chiến sĩ bộ đội đặc công, 30 năm là chiến sĩ bộ đội biên phòng cùng với tình yêu văn chương của mình; Đại tá, nhà thơ Trần Quang Khánh đã có rất nhiều bài thơ viết về quê hương nguồn cội, viết về chiến tranh, đặc biệt là đề tài về người lính bộ đội biên phòng. Ông đã cho mắt công chúng 2 tập thơ riêng là: Ký ức xanh (2021), Nốt nhạc mùa (2022) và hiện là hội viên Hội Nhà văn TPHCM...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm