TIN TỨC

Chân dung người nổi tiếng được chấm phá bằng vần điệu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-07 16:11:20
mail facebook google pos stwis
876 lượt xem

TUY HÒA

Chân dung người nổi tiếng khi khắc họa qua thi ca cũng có những thú vị riêng, vì công chúng vừa thấy tài năng nhân vật vừa thấy tài năng tác giả. Sau trường hợp “Chân dung nhà văn” của nhà thơ Xuân Sách, nhiều tác giả khác cũng tỏ ra hào hứng với thể loại này.

Chân dung người nổi tiếng là một đề tài được nhiều nhà thơ yêu thích. Trong tập di cảo của nhà thơ Lê Đạt (1929-2008) có tên gọi “Album trắng” do NXB Hội Nhà văn ấn hành, cũng có khá nhiều bài thơ chân dung người nổi tiếng. Ví dụ, nhà thơ Lê Đạt viết về nhạc sĩ Tử Phác “Người đáy mộ tâm còn luyến láy/ Đèn vàng nhấp nháy ngã tơ quay” hoặc viết về triết gia Trần Đức Thảo “Lặng lẽ bước đường trường độc thoại/ Nghĩa trang lành cỏ dại bình xanh”.
 

Bìa tập sách của tác giả Nguyên Hùng ký họa chân dung người nổi tiếng bằng thơ.

Dùng vần điệu để chấm phá chân dung người nổi tiếng không hề đơn giản. Bởi lẽ, ngoài thủ pháp đơn giản là sử dụng những tư liệu, những sự kiện liên quan đến nhân vật, thì không dễ tạo điểm nhấn riêng biệt để công chúng mường tượng đầy đủ chân dung người nổi tiếng. Phổ biến nhất trong dòng thơ về chân dung người nổi tiếng là vần điệu các nhà thơ ký họa đồng nghiệp. Lý do, các tác giả vốn có sẵn tên gọi tác phẩm của họ để lắp ghép lại thành những câu mang giá trị thẩm mỹ nhất định.

Ví dụ, trong tập “Ký họa thơ”, nhà thơ Nguyên Hùng viết về bậc tài danh Văn Cao: “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế/ Càng ngẫm càng yêu khuôn mặt em/ Càng thương những người trên cửa biển/ Bạc đầu chờ mùa xuân đầu tiên/ Anh có nghe không những bài ca sống lại/ Về bến xuân hát mãi không thôi/ Tự lúc nào trong âm thầm gác tối/ Buồn tàn thu ám vận suốt một đời?”.

Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh có ý thức làm thơ chân dung từ lâu. Rải rác suốt hành trình sáng tạo của chị, những chân dung của tiền nhân và những chân dung của bè bạn cứ hiện ra nhẹ nhàng và ấm áp. Bây giờ, gom các bài thơ chân dung ấy vào một tập “Thơ chân dung” do NXB Hội Nhà văn ấn hành, bỗng nhận ra thơ chân dung cũng là kết quả “trời đất chẳng phụ người nhân hậu” như một câu thơ của chị.

Thơ chân dung thường được viết bằng thái độ thù tạc hoặc bằng tư duy đáo để. Thái độ thù tạc thì chủ yếu câu chữ vuốt ve để giao lưu và bông đùa. Còn tư duy đáo để, đôi khi lại nhấn nhá vài góc khuất có ý mỉa mai và cười cợt. Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh không đi theo lối mòn ấy. Hay nói cách khác, nhà thơ Đặng Nguyệt Anh có một nguồn năng lượng yêu thương và trân trọng để tìm thấy chân dung thơ theo cách riêng mình.

Nguyễn Bính và Trần Dần là hai trường hợp có tài năng khác nhau và cũng nếm trải bi kịch dương gian khác nhau. Không thể viết về Nguyễn Bính và Trần Dần bằng những lời vu vơ giống hệt nhau. Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh phát hiện nét độc đáo của mỗi người, để giúp Nguyễn Bính thổ lộ: “Tương tư chưa hết một đời/ Duyên thơ thắt buộc cho người dở dang” và khẳng định giá trị của Trần Dần: “Ông mang một tia hy vọng/ Tặng cho người tuyệt vọng”.

Mỗi tác giả viết thơ chân dung luôn đặt ra hai mục tiêu, viết vì nhân vật và viết cho chính mình. Cho nên, bên cạnh việc gửi gắm sự tin yêu đến nhân vật, thì thơ chân dung phải có được những câu thơ mang dấu ấn đích thực của tác giả.

Loại thơ chân dung gây xôn xao nhất phải nhắc đến tập “Chân dung nhà văn” xuất bản năm 1992 của nhà thơ Xuân Sách (1932-2008). Lúc sinh thời, chứng kiến tập “Chân dung nhà văn” được đón nhận với những ý kiến trái chiều, nhà thơ Xuân Sách đã hé lộ loại thơ chân dung của ông đã nhen nhóm từ cuối thập niên 1960 ở tòa soạn Văn nghệ Quân đội:

“Cơ quan chúng tôi có tục lệ sau các cuộc họp sơ kết tổng kết thường có mục vui cười. Lần này cũng vậy, Nguyễn Khải khởi xướng: “Tôi đề nghị anh Xuân Sách đọc những bài thơ chân dung mới ra lò. Thời phong kiến vua uy quyền đến thế mà vẫn để một khe hở, tha chết cho quan ngự sử khi có lời trái ý hoàng thượng, anh Sách cũng được hưởng cái quyền miễn trảm ấy nên cứ đọc thoải mái. Xin đọc về tôi trước”.

Thực ra lúc đó tôi chưa chính thức viết chân dung Nguyễn Khải, chỉ có mấy câu đùa tếu, Nguyễn Khải vẫn cứ đọc làm mồi. Rằng trước khi tôi đi ra đảo Cồn Cỏ, vợ tôi lo lắng, tôi có an ủi: “Em đừng tính quẩn lo quanh, họ chiến đấu chứ có phải anh đâu”, rồi khi tôi gặp đồng chí Bí thư huyện ủy Hòa Vang được triệu tập ra Bắc để báo cáo thành tích chiến đấu, vợ tôi lại tưởng tôi đi B nên tôi phải nói: “Anh đi một lát về ngay. Hòa Vang chính ở ngoài này đó em”.

Chờ mọi người cười xong, Nguyễn Khải tiếp: “Tôi chỉ nhớ có vậy, vả lại tôi vốn nhạt nên ông Xuân Sách khó viết hay, bây giờ đề nghị anh đọc bài mới, những bài về anh em ngồi đây càng tốt”.

Tập di cảo của nhà thơ Lê Đạt.

Sau khoảng ba mươi năm miệt mài, nhà thơ Xuân Sách sàng lọc được 100 bài thơ để đưa vào tập “Chân dung nhà văn”, trong đó 99 bài xưng tụng các đồng nghiệp và một bài ông tự vẽ mặt mình: “Cô giáo làng tôi đã chết rồi/ Một đêm ra trận đất bom vùi/ Xót xa Đình Bảng người du kích/ Đau đớn Bạch Đằng lũ trẻ côi/ Đường tới chiến công gân cốt mỏi/ Lối vào lửa sởn tóc da mồi/ Mặt trời ảm đạm quê hương cũ/ Ở một cung đường rách tả tơi”.

Khi cấp giấy phép xuất bản tập “Chân dung nhà văn”, nhà thơ Lữ Huy Nguyên (1939-1998) với tư cách Giám đốc NXB Văn học đã viết: “Đây là những ký họa có tính đặc tả của Xuân Sách, những chân dung vốn đã khá phổ biến trong và ngoài giới văn học suốt vài chục năm qua. Tác giả không nêu đích danh một ai, nhưng dưới nét bút phác thảo, những độc giả và người làm văn học vẫn có thể nhận ra từng đối tượng.

Dĩ nhiên thể loại này thường cố ý phóng to những đặc điểm và khi nhìn vào những nét đặc tả ấy, tuy mất cân đối và đôi khi phiến diện, vẫn dễ dàng nhận ra diện mạo, cốt cách từng nhân vật. Chất vui hóm và nhất là khả năng chơi chữ có thể khiến người ta ngạc nhiên một cách thú vị, nhưng cũng có thể gây nên những sự không hài lòng đây đó.

Chúng tôi chỉ coi đây là nét tự trào của giới cầm bút, cười đấy nhưng cũng tự nhận ra những xót xa hạn hẹp của chính mình, những gì chưa vượt qua được trên các chặng đường quanh co của lịch sử và thời đại. Tự soi mình, học hiểu mình thêm qua cách nhìn của người cùng hội cùng thuyền lắm khi cũng hữu ích. Rất mong độc giả và các nhà văn nhận xét ra mối chân tình trong cuộc vui của làng văn, và lượng thứ cho những khiếm khuyết”.

Dẫu tập “Chân dung nhà văn” rất lừng lẫy, nhưng nhà thơ Xuân Sách không phải người đầu tiên làm thơ chân dung trong văn học chữ quốc ngữ Việt Nam. Nhà thơ Thế Lữ (1907-1989) và nhà thơ Tú Mỡ (1906-1976) trên mục “Minh niên giáng bút” của Báo Ngày nay xuân 1940, đã cùng nhau viết thơ chân dung các đồng nghiệp. Chẳng hạn, chân dung Nguyễn Tuân được Thế Lữ và Tú Mỡ chấm phá: “Nghe vang theo bóng một thời/ Tên này thực biết vâng lời người trên/ Bây giờ gần gụi ả phiền/ Hỏi han câu chuyện ngọn đèn dầu ta”.

Khi làm thơ chân dung, mỗi nhà thơ có một góc nhìn nhân vật và một thái độ thẩm mỹ khác nhau. Cùng bái vọng tiền bối Nguyễn Bính, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm và nhà thơ Trần Mạnh Hảo đều dùng thể loại lục bát, nhưng lại mang hai phong cách dị biệt.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm viết: “Hai lần lỡ bước sang ngang/ Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi/ Trăm hoa thân rã cành rời/ Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ/ Kìa ai đường nắng mịt mù/ Giắt đầu nắm lá hương nhu gánh gồng/ Kìa con bướm trắng vẽ vòng/ Và hồn trinh nữ ngồi hong tơ buồn/ Hình như phía cuối hoàng hôn/ Hao hao anh lái vào thôn bán thuyền/ Đường xa thi khách không tiền/ Bước vô quán trọ đến thềm lại thôi/ Sững sờ trước giậu mùng tơi/ Hỏi người, người đã mấy hồi sang ngang”.

Còn nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết: “Trăm hoa dễ được hoa nào/ Về xem bướm hóa thi hào vườn dâu/ Về xem cái kén mọc đầu/ Ruột gan rút hết từng câu nhân tình/ Tài cao đẩy thấp phận mình/ Vỉa nồi niêu vẫn còn kinh hề mồi/ Thơ không thể đổ vào nồi/ Ngắm mình trong nước giếng thơi hết hồn/ Đêm sao sáng cạn hoàng hôn/ Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần/ Một đoàn bươm bướm đưa chân/ Hai hàng lục bát khiêng phần mộ thơ”.

Trở lại với tập “Album trắng” của nhà thơ Lê Đạt. Thơ chân dung cũng được nhà thơ Lê Đạt thể hiện tối giản, độc giả phải đoán “bóng” qua “chữ”. Chẳng hạn, viết về nhà thơ Quang Dũng “Tây tiến Mai Châu còn mộng biếc/ Trọn đời nhất bận việc rong chơi”, viết về nhà thơ Hoàng Cầm “Hồn cò trắng khất tình trăng sông Đuống/ Mộng vàng cầm giải chấp cuống diêu bông”, viết về nhà thơ Hữu Loan “Mấy chữ sim đồi hoa tím mãi/ Tóc dài râu bạc đãi sông mưa” hoặc viết về nhà văn Trương Tửu “Rời bục giảng đường về ở ẩn/ Ông lang Hàng Gà cứu hận Bách Khoa”.

Nguồn:  .

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm