TIN TỨC

Nước sông Sa Lung chưng cất bầu rượu thơ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-27 00:24:53
mail facebook google pos stwis
702 lượt xem

NGUYỄN XUÂN SANG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng lớn lên bên dòng sông Sa Lung xanh trong. Có phải dòng sông Sa Lung là dòng sông thơ ca của đất Rồng - Vĩnh Long?. Tuổi thơ anh vô tư ngụp lặn vẫy vùng bơi lội tắm mát trong dòng sông ấy, nên anh rất yêu thơ, tập tành sáng tác thơ và thành công thơ khá sớm.

 

Nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng (bên phải) và Tác giả.

 

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chia tay xã Vĩnh Long, huyện Bến Hải, tân sinh viên Nguyễn Hữu Thắng nhập học khoa Ngữ Văn, trường Cao đẳng Sư phạm, số 04 Trần Cao Vân, thành phố Huế, tỉnh Bình Trị Thiên. Những năm tháng mộng mơ ngồi trên ghế giảng đường sư phạm bên dòng Hương giang, anh có thơ đăng đều đặn trên trang văn nghệ báo Dân và tạp chí Văn nghệ Bình Trị Thiên, lấy bút danh Nguyễn Hoài Chung. Năm 1977 khi mới 20 tuổi, Nguyễn Hữu Thắng vinh dự là hội viên trẻ nhất của Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Bình Trị Thiên. Thấm thoắt mới đó đã gần 50 năm, chàng sinh viên thư sinh trắng trẻo mơ mộng ngày nào, nay thành “lão nhà thơ 67 mùa lá vàng rơi”. Sự nghiệp đời anh hanh thông là niềm mơ ước của lứa bạn đồng niên; bước đầu là người thầy giáo mẫu mực dạy Văn, đến nhà quản lý, rồi nhà lãnh đạo. Ở vị trí nào, anh cũng đều hoàn thành xuất sắc vị trí đảm nhiệm. Dù thơ là “nghề tay trái” nhưng sức viết của anh thật đáng nể phục. Hình như trong anh có sẵn một “bồ chữ” đầy, nên khi vừa nắm bắt thông tin, sự kiện, tứ thơ chợt đến, anh hoàn thành một bài thơ khá nhanh. Thơ anh tràn trề sinh lực, dồi dào cảm xúc, bút pháp linh hoạt, nắm chắc các thể loại thơ, gieo vần nhuần nhuyễn. Thơ chính luận thì ngôn ngữ thơ nghiêm ngang nhưng lối viết nhẹ nhàng, dễ hiểu; thơ đời thường thì lời thơ hài hước, tếu táo, bông đùa nhưng lại khá sâu sắc. Anh chung thủy với các thể thơ truyền thống. Phần lớn nhà thơ “trung ương” hay nhà thơ “địa phương” một đời xuất bản hơn một tập thơ là sự cố gắng rất lớn. Vậy mà Nguyễn Hữu Thắng xuất bản liên tục đến 7 tập thơ riêng, được đánh giá là những tập thơ chất lượng, với hơn ngàn bài thơ. Hiện anh là Chủ tịch Hội Đồng Nghệ thuật phân hội VHNT Quảng Trị.

Trong tập thơ thứ 7 mang tựa đề: “Căn cước niềm tin” gồm 75 bài, do Nxb Thuận Hóa ấn hành tháng 7. 2023. Thơ Nguyễn Hữu Thắng hay nhắc nhớ về vĩ tuyến 17, ranh giới nỗi đau chia cắt giữa hai miền Nam - Bắc. Nhà thơ tự hào là con dân giới tuyến 17 lịch sử. Nơi đó có chiếc cầu Hiền Lương  mang hai màu sơn xanh và vàng chia đôi hai miền. Đầu cầu phía Bắc có lá cờ đỏ sao vàng rộng chín sáu mét vuông tung bay trên đỉnh cột cờ cao ba mươi tám mét, như là biều tượng niềm tin. Nhà thơ đau nỗi đau chia cắt hai miền và đặt câu hỏi: “Bến Hải ơi, giới tuyến tạm thời/ Tạm thời chi mà cách xa đằng đẵng/ Hiền Lương ơi, một vạch sơn giới hạn/ Giới hạn chi mà nghẽn lối, ngăn đường” (Một thời Bến Hải)

Quê Nguyễn Hữu Thắng ở Vĩnh Linh đất thép, địa đầu giới tuyến, tiền đồn miền Bắc XHCN nên Đế quốc Mỹ ném bom hủy diệt không kể ngày đêm: “Chẳng thể nào quên được người ơi/ Thuở quê hương chìm trong lửa đạn/ Bom cháy, bom bi, pháo chùm, pháo hạm/ Đêm đêm pháo sáng đỏ trời/ Thuở ấy chúng tôi lên chín, lên mười/ Một chiều thu xa nhà đi sơ tán/ Người lớn gọi đây “kế hoạch K8”/ Đưa chúng tôi ra gặp Bác Hồ…K8 một thời để tôi có hôm nay” (Ký ức K8). Trong những năm tháng chiến tranh đánh phá ác liệt từ vĩ tuyến 17 trở ra, trẻ con đến người già sợ nhất con ác quỷ B52 thả bom rải thảm, san bằng mặt đất bán kính đến vài km, tang tóc kể sao cho hết: “B52 rải thảm đất Vĩnh Linh/ 37 lần chiếc/ Mỗi chiếc ba mươi tấn bom/ Vĩnh Lâm, Vĩnh Thủy, Vĩnh Sơn/ Dải đất bờ Bắc Hiền Lương/ Bom nối bom, nhà cháy nối nhà/ …B52 lần đầu dội xuống Vĩnh Linh/ Nơi tuyến đầu miền Bắc/ Địa đạo, chiến hào khoét sâu vào lòng đất/ Người vẫn kiên cường bám trụ giữ quê hương (Có ai còn nhớ ngày này). Thời kỳ chiến tranh ác liệt, tôi sống ở quê ngoại gần bến phà Long Đại (quê nội ở Huế), nằm trong tọa độ bắn phá của máy bay Mỹ. Nhà tôi cách bến phà Long Đại khoảng 1km đường chim bay, đêm đêm trú ẩn dưới căn hầm chữ A. Từng tốp máy bay Mỹ rú rít điên cuồng ném bom xuống bến phà, nhằm ngăn chặn những đoàn xe quân sự âm thầm hành quân vào Nam. Lúc đó anh em chúng tôi liều ngóc đầu lên miệng hầm, coi các loại đạn pháo phòng không vút lên trời đêm bủa vây thần sấm Mỹ, những luồng đạn đẹp như những luồng pháo hoa hôm nay mừng ngày Tết. Đầu năm 1968 ưu tiên con cán bộ miền Nam tập kết, ba anh em tôi cho đi sơ tán đợt đầu ra Thanh Hóa. Năm 1970 nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng đi K8 sơ tán ra tỉnh Thái Bình, khi đang học lớp 4, đạt giải Nhất học sinh giỏi văn toàn tỉnh.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng chọn bài thơ “Căn cước niềm tin” làm tựa đề tập thơ. Niềm tin trong cuộc sống mang đến cho ta nguồn sức mạnh để hành động, nếu không có niềm tin, sẽ không làm được gì cả. Với cảm nhận trực quan nhạy bén, nhà thơ ngợi ca hình ảnh những cán bộ chiến sĩ công an ân cần làm “căn cước công dân” là loại giấy tờ tùy thân cho cư dân thành phố, nông thôn, miền xuôi, miền ngược: “Ngày nối ngày, đêm lại nối đêm/ Chiến dịch làm căn cước/ Cho anh hiểu thêm thế nào là hạnh phúc/ Khi được nhận về mình căn cước của niềm tin. (Căn cước niềm tin).

 

Bìa tập thơ "Căn cước niềm tin"

 

Nhà văn Andersen người Đan Mạch nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra”. Quả đúng như vậy, hơn bốn mươi năm trôi qua nhưng nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng vẫn nhớ như in những năm tháng mới ra trường làm “Người kỹ sư tâm hồn” tại thị xã Đông Hà sau giải phóng. Biết bao khó khăn vây bủa thầy giáo trẻ: Trường lớp dựng tạm lợp bằng mái tôn cũ, thiếu sách giáo khoa, trò đói nên nhặt từng mảnh bom dọc đường đến lớp bán phế liệu, còn thầy đói cồn cào tay phấn cứ run run. Tôi và nhà thơ lúc ấy cùng cảnh ngộ, nghĩ về quá khứ không khỏi bùi ngùi xa xót: “Bếp tập thể bữa sắn, bữa khoai/ Tháng chậm lương chia nhau từng nắm gạo/ Đứng trước học sinh vẫn nụ cười hiền hậu/ Vẫn say sưa bài giảng tiết cuối cùng/ Mấy dãy nhà tôn tạm gọi là trường/ Ghế không đủ ngồi, học trò thay nhau đứng/ Thầy giảng bài mà cồn cào đói bụng/ Mượn áo nhau san sẻ rách, lành” (Ký ức Đông Hà).

Hầu hết nhà thơ các thế hệ đều làm thơ ca ngợi Mẹ. Mẹ không chỉ là người “mang nặng đẻ đau” mà Mẹ còn đảm đang, tần tảo, thương yêu chồng con quên cả bản thân mình. Trong thơ Nguyễn Hữu Thắng hình ảnh Mẹ mình vẫn manh áo vá, đội nón lá, lội ruộng, gánh gồng nuôi anh ăn học thành tài. Bây giờ con trai mẹ “chăn ấm nệm êm” là nhờ công ơn trời biển của mẹ: “Con như cây lúa trên đồng/ Nhờ ơn gieo cấy vun trồng mà nên” (Vu lan nhớ mẹ). Bên cạnh thơ tự sự trữ tình, nhà thơ sắp bước vào tuổi “thất tuần” nên đôi lúc trầm tư, chiêm nghiệm cuộc đời: “Người già thường tỉnh giấc trong đêm/ Nhìn đồng hồ biết ngày còn xa ngái/ Đêm cứ dần dài ra/ Giấc ngủ thì ngắn lại/ Người già thường nghĩ về quá khứ/ Giấc ngủ cứ ngắt ra từng quãng/ Thấy dáng mình ở phía thanh xuân” (Đêm của người già). Tôi tin những lúc tỉnh ngủ, nhà thơ Nguyễn Hữu Thắng nhẹ nhàng bật đèn pin nằm nghiêng người làm thơ, che ánh sáng sợ đánh thức giấc mộng của “một nửa” nằm bên. Những bài thơ như những dấu mốc đáng nhớ: “Câu thơ trên đỉnh tháp”, “Những gương mặt, những linh hồn”, “Ghi trong ngày hội trường”, “Có một nàng dâu Quảng Trị”, “Khúc ca từ những mái trường”, “Đầu xuân trở lại Tân Kỳ”, “Bản làng nhớ mãi tên anh”, “Sinh nhật đích tôn”, “Ngày quốc tế đàn ông”, “Về quê nói trạng”…

Tôi thích cái lối viết ẩn dụ, hóm hỉnh, ngôn từ bình dị nhưng khiến những vần thơ lục bát của anh hấp dẫn lạ thường: “Tôi về hỏi đám trẻ con/ Chúng đều ngơ ngác mắt tròn nhìn tôi/ Xa làng từ thuở đôi mươi/ Nay về làng trẻ còn tôi đã già” (Về làng); “Tép đồng nấu với me chua/ Khoai deo hầm đậu mạ vừa dọn ra/ Xa quê thèm ruốc, thèm cà/ Linh tinh ba thứ gọi là ngày xưa ” (Hương vị quê nhà); “Cho anh vay một nụ cười/ Lãi suất anh trả bằng mười nụ hôn/ Nụ cười hãy giữ nghe em/ Mỗi ngày anh lại vay thêm để giành” (Nụ cười); “Tiền còn một ít để tiêu/ Thơ còn một ít để phiêu với đời/ Tim còn một ít bồi hồi/ Bạn còn một ít - những người tâm giao” (Còn một ít); “Nợ em một thoáng vô tình/ Đường đời xuôi ngược không nhìn thấy nhau/ Chợ chiều ế một buồng cau/ Chợ mai ế một mớ trầu chờ têm” (Nợ mùa đông); “Có ai bán cái dửng dưng/ Tôi mua một mớ lận lưng dùng dần/ Có ai mua cái phân vân/ Để tôi bán rẻ giá gần như cho” (Dửng dưng); “Tôi ngồi gác trán lên tay/ Gác đêm lên gối, gác ngày lên mơ/ gác buồn lên những câu thơ/ Gác vui lên những hẹn hò ngóng trông/ Cuối cùng đất gác lên tôi/ Tôi nằm dưới đất hát lời cỏ hoa” (Gác); “Một đời đi đó đi đây/ Về hưu trở lại nơi này bến quê/ Rặng bần vẫn trái sum suê/ Bờ sông vẫn gió, sóng kê mũi thuyền” (Bến quê); “Đêm nay trời lạnh mùa đông/ Câu thơ ngày ấy đem hong tình già” (Lửa mùa đông); “Có lần anh quệt má em/ Bàn tay luống cuống chạm lên mi dài” (Nhọ nồi); “Va len tin một ngày thôi/ Còn anh giành trọn cuộc đời yêu em/ Yêu từ mồng Một, tháng Giêng/ Yêu qua tháng Chạp, yêu liền năm sau” (Cho ngày va len tin); “Tôi đi mấy vạn ngày đàng/ Bạc đầu còn nhớ mấy lằn roi tre/ Tôi thành giám đốc, giáo sư/ Nhờ ơn trách phạt thầy cô thuở nào”(Có ai còn nhớ)…

Bên cạnh mê thơ, nhà thơ còn say môn “túc cầu”. Hầu hết các trận bóng đá của đội tuyển Việt Nam trên đấu trường quốc tế, anh đều có thơ cập nhật. Anh chuẩn bị cho xuất bản tập thơ: “Bóng đá và thơ”.  

Hiện nay thơ in nhiều, nhưng chất lượng phần lớn không như mong đợi. Thơ viết cứ nhàn nhạt, gieo vần lủng củng, tứ thơ không rõ ràng, xa rời thực tế cuộc sống, bó hẹp trong không gian chật chội, không bắt kịp thời đại kỷ thuật số và kỳ vọng của xã hội. Tập thơ “Căn cước niềm tin” là món quà tinh thần có giá trị cho những người yêu thơ hứng thú thưởng thức cái hay trong mỗi bài thơ.

Bởi vậy, ngày 29 tháng 11 năm 2023, Chủ tịch tỉnh Quảng Trị Võ Văn Hưng tặng Giải thưởng Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị năm 2023: Giải A cho tập thơ: “ Căn cước niềm tin” của tác giả Nguyễn Hữu Thắng. Hy vọng thời gian tới, bạn yêu thơ Nguyễn Hữu Thắng sẽ được đón đọc những tập thơ mới đầy hấp dẫn của anh.

N.X.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm