TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Hư Thực” của Phùng Văn Khai: Tiếng nói Hậu Hiện Đại và Dấu Ấn Văn Chương Đương Đại Việt Nam

“Hư Thực” của Phùng Văn Khai: Tiếng nói Hậu Hiện Đại và Dấu Ấn Văn Chương Đương Đại Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-17 11:31:09
mail facebook google pos stwis
533 lượt xem

Lê Hưng Tiến

Văn học luôn là tấm gương phản chiếu xã hội, là nơi ghi lại những biến chuyển của thời đại và tâm hồn con người. Trong lịch sử văn học Việt Nam, mỗi thời kỳ đều có những tác phẩm tiêu biểu, vừa mang dấu ấn thời đại, vừa để lại những giá trị trường tồn cho đời sau. Tuy nhiên, khi thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và đa dạng văn hóa, các giá trị truyền thống gặp nhiều thử thách. Đặc biệt, với sự bùng nổ thông tin và biến động xã hội, con người ngày nay không còn sống trong một thế giới đơn giản, rạch ròi mà là một thế giới đa chiều, hỗn loạn và khó đoán định.

Trong bối cảnh đó, văn học Việt Nam đương đại cũng đứng trước nhu cầu đổi mới, tìm kiếm những cách thức biểu đạt mới phù hợp với thời đại. Tiểu thuyết Hư Thực của nhà văn Phùng Văn Khai ra đời như một tiếng nói mới, một sự thử nghiệm đầy táo bạo, thể hiện rõ nét đặc trưng của yếu tố hậu hiện đại. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện, mà còn là một hành trình mời gọi người đọc hòa mình vào sự mơ hồ, bất định của cuộc sống hiện đại, mở ra không gian để suy ngẫm về bản thể, về sự tồn tại và sự phức tạp của con người.

1. Tiểu thuyết truyền thống và sự khởi đầu của “Hư Thực”

Trước khi bàn về đặc trưng hậu hiện đại trong Hư Thực, cần nhìn lại bối cảnh văn học Việt Nam vốn có truyền thống phát triển lâu đời với các tác phẩm thiên về kể chuyện mạch lạc, nhân vật rõ ràng, cốt truyện có logic tuyến tính. Các tiểu thuyết kinh điển như của Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương… thường đề cập đến những vấn đề xã hội, con người dưới góc nhìn hiện thực chủ nghĩa hoặc hiện thực phê phán, có sự phân định thiện ác rõ ràng, sử dụng ngôn ngữ dễ tiếp cận, dễ cảm thụ.

Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi xã hội đa chiều và phức tạp hơn, đời sống tinh thần con người nhiều mảng tối sáng đan xen, văn học truyền thống bắt đầu lộ rõ giới hạn trong việc thể hiện cái “thực” đa dạng và hỗn mang của cuộc sống. Từ đó, sự xuất hiện của Hư Thực đánh dấu một bước ngoặt với phong cách mới mẻ, không chỉ trong nội dung mà cả trong hình thức, cấu trúc và tư duy nghệ thuật.

Đại tá - nhà văn Phùng Văn Khai (phải) tặng sách cho nhà thơ Lê Hưng Tiến

2. Yếu tố hậu hiện đại trong Hư Thực

Hư Thực không phải là một tiểu thuyết đơn thuần với cốt truyện tuyến tính hay nhân vật rõ ràng mà là một chuỗi liên kết của các phân đoạn, những độc thoại nội tâm dày đặc, đặt người đọc vào trạng thái vừa “hư” vừa “thực”, cảm nhận sự hỗn mang của thế giới hiện tại. Phùng Văn Khai sử dụng phép liên tưởng đa chiều, hình ảnh tượng trưng, ẩn dụ và sự đối lập đầy nghịch lý để dựng nên không gian văn chương u ám nhưng rất thực – một không gian phản ánh sự phức tạp của xã hội, của chính con người.

Điều này thể hiện rõ tinh thần hậu hiện đại trong văn học, với các đặc điểm:

Phá vỡ cấu trúc truyền thống: Tác phẩm không đi theo trình tự mạch lạc, mà là sự đan xen, lặp lại và gợi mở, tạo cảm giác vừa gần gũi vừa xa lạ, vừa thực vừa mơ hồ. Độc thoại nội tâm được khai thác triệt để, mở ra những góc nhìn đa chiều về một sự kiện, một trạng thái tinh thần.

Chơi đùa với ngôn ngữ và ký hiệu: Ngôn ngữ trong Hư Thực được sử dụng vừa như công cụ kể chuyện vừa như vật liệu tạo nên không khí, cảm xúc, khiến độc giả phải đồng hành, suy tư sâu sắc thay vì chỉ tiếp nhận thông tin.

Phá bỏ ranh giới giữa hư và thực: Tựa đề và nội dung thể hiện rõ sự hoán chuyển liên tục giữa các trạng thái thực tế và ảo giác, giữa cái nhìn chủ quan và khách quan, mở ra một thế giới văn chương đa tầng, đa diện.

Khó xác định nhân vật và không gian: Các nhân vật như Y, người rừng, người đàn bà điên… không chỉ là cá thể mà còn mang biểu tượng của những trạng thái tâm lý, xã hội khác nhau, xóa nhòa biên giới giữa cá nhân và tập thể, giữa hiện thực và biểu tượng.

Những đặc điểm này khiến Hư Thực không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn như một thử nghiệm nghệ thuật, một bước tiến trong việc tìm kiếm cách thể hiện mới, mang hơi thở thời đại và chiều sâu triết lý.

3. So sánh với tiểu thuyết trước đây: Một bước chuyển mình cần thiết

So với các tiểu thuyết trước đây vốn thiên về kể chuyện rõ ràng, giọng điệu mạch lạc, các nhân vật có tính cách rõ nét và các giá trị đạo đức được khẳng định, Hư Thực mang đến một trải nghiệm hoàn toàn khác. Đây không còn là một câu chuyện đơn giản kể lại hiện thực mà là một bức tranh phức hợp, đầy ẩn dụ và suy tưởng.

Các tiểu thuyết truyền thống thường đi vào phân tích, phê phán xã hội một cách trực tiếp, còn Hư Thực chọn cách thể hiện qua cảm xúc, tâm lý, sự mơ hồ và rối ren của con người, nơi mà thiện và ác, thực và hư không còn phân định rõ ràng. Chính sự mơ hồ này lại tạo ra chiều sâu nhân văn và phản biện xã hội mãnh liệt, phản ánh một thế giới mà con người đang đối mặt với nhiều nghịch lý và áp lực tồn tại.

Điều này cũng đồng nghĩa với việc văn học Việt Nam đương đại không thể tiếp tục lặp lại những mô hình cũ mà cần có sự đổi mới về hình thức, tư duy và ngôn ngữ, để bắt nhịp với xu thế hậu hiện đại toàn cầu. Hư Thực đã cho thấy con đường này không chỉ khó khăn mà còn rất tiềm năng và đầy thử thách.

4. Liên hệ với đời sống văn học hiện nay và mai sau

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam và thế giới ngày càng phức tạp, văn học không còn là nơi để phản ánh một chiều, mà phải là không gian đa chiều, cho phép sự đối thoại, phản biện và cả sự chấp nhận cái không thể giải thích. Văn học hậu hiện đại khuyến khích sự tự do sáng tạo, phá vỡ các quy tắc cứng nhắc, đồng thời đặt người đọc vào vai trò chủ động hơn trong việc cảm nhận, phân tích và tìm kiếm ý nghĩa.

Hư Thực góp phần mở rộng không gian văn học Việt Nam theo hướng đó, giúp các nhà văn trẻ có thể mạnh dạn thử nghiệm, tìm kiếm cái mới trong khi vẫn giữ được tính nhân văn sâu sắc. Điều này cần được khuyến khích để văn học Việt Nam không chỉ đua tranh về số lượng tác phẩm mà còn nâng cao chất lượng tư duy nghệ thuật và chiều sâu nội dung.

Văn học hậu hiện đại, như trong Hư Thực, không phải là một trào lưu thoáng qua mà là sự phản ánh chân thực về thế giới và con người thời đại mới. Văn học cần có khả năng chịu đựng mâu thuẫn, nghịch lý và chấp nhận sự không hoàn hảo của đời sống con người. Chính sự chấp nhận này tạo ra những giá trị văn chương đích thực, không chỉ làm đẹp đời mà còn góp phần định hướng xã hội phát triển.

5. Kết luận

Từ sự đổi mới trong Hư Thực, chúng ta thấy văn học Việt Nam đang dần vượt ra khỏi những khuôn khổ truyền thống, hướng tới một dòng chảy sáng tạo đa dạng, sâu sắc và phù hợp với đời sống tinh thần đương đại. Văn học không còn đơn thuần là tấm gương phản chiếu hiện thực khách quan mà là một không gian mở, nơi mỗi người có thể tìm thấy mình trong sự đa nghĩa, mâu thuẫn và phức tạp của cuộc sống.

Những tác phẩm mang đậm dấu ấn hậu hiện đại như Hư Thực chính là minh chứng cho sự trưởng thành và sự dám thử nghiệm của các nhà văn Việt Nam hôm nay. Đây cũng là lời nhắc nhở cho cả người sáng tác và độc giả rằng, để văn học phát triển bền vững và có sức sống, cần có sự dũng cảm bước ra khỏi những khuôn mẫu an toàn, hướng đến những giá trị nghệ thuật đích thực, phản ánh được chiều sâu của đời sống hiện đại.

Với những đóng góp đó, Hư Thực xứng đáng là một trong những dấu ấn quan trọng, mở ra hy vọng cho một nền văn học Việt Nam hội nhập, giàu bản sắc và đa dạng về hình thức cũng như nội dung trong tương lai.

L.H.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm