TIN TỨC

Cung ngà xưa – Tiếng vọng ký ức trong miền tiếp nhận hôm nay

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-25 23:37:10
mail facebook google pos stwis
489 lượt xem

TRẦN NHƯ LUẬN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đặt trong bối cảnh văn hóa, “cung ngà” còn gợi đến truyền thống âm nhạc dân tộc, nơi tiếng đàn, tiếng sáo từng là phương tiện gắn kết cộng đồng. Người miền Trung – đặc biệt là Huế và xứ Quảng – vốn sống trong không gian khắc nghiệt, thường tìm đến âm nhạc như một nơi trú ngụ tinh thần. Vì vậy, bài thơ không chỉ là ký ức cá nhân, mà còn mang dấu vết của ký ức tập thể.

 

Nhà thơ Ngã Du Tử

CUNG NGÀ XƯA

Thơ Ngã Du Tử

 

Này em hỡi cung ngà còn vang vọng

Những âm thanh quá khứ có ươm chồi

Không mặc cả cùng tháng năm dĩ vãng

Mùa tương lai tươi lại cuộc đời ơi.

 

Nghe tiếng gọi bên kia bờ sông nhớ

Ai vô tình thả nốt nhạc tình rơi

Có tha thiết hay bâng khuâng từ đó

Tôi thương người thảng thốt một dòng trôi.

 

Cung ngà thắp cho đời thêm son phấn

Hoàng hôn còn ôm ấp dáng bình minh

Nghe trần thế bao chuyện tình chưa kể

Lòng lắng nghe ký ức gọi đời mình.

 

Và tạ lỗi một thời xuân nông nổi

Đã qua rồi miền nhớ thuở còn xanh

Một lần đến biết bao điều chiêm nghiệm

Cung ngà xưa về đậu mảnh đất lành.

(Trích từ tập thơ: Vàng Gieo Tâm Thức của Ngã Du Tử, NXB Thuận Hóa, tháng 12/2024).

Đọc Cung ngà xưa của Ngã Du Tử, tôi chợt nghe vang lên trong tâm tưởng một điệu nhạc xa xăm, vừa như từ tiếng đàn cổ, vừa như từ hồi ức của chính mình. Bài thơ khơi dậy nỗi buồn dịu dàng về thời gian, về tuổi trẻ đã qua, nhưng không chỉ để tiếc nuối, nó mở ra một hành trình chiêm nghiệm. Theo hướng Mỹ học tiếp nhận (Rezeptionsästhetik), tôi cho rằng tác phẩm này sống động ở chỗ nó không cố định một ý nghĩa duy nhất, mà mời gọi độc giả nhập cuộc, tự mang theo ký ức riêng để cùng ngân lên với “cung ngà” xưa.

Chủ đề và cảm hứng trung tâm:

Chủ đề tổng quát của bài thơ là dòng chảy thời gian và ký ức con người. Ở tầng sâu, Ngã Du Tử không chỉ hồi tưởng một thời tuổi trẻ, mà còn đặt lại câu hỏi về ý nghĩa tồn tại: điều gì còn đọng lại khi “âm thanh quá khứ” đã tàn phai? Chủ đề cụ thể là sự hoài niệm và chiêm nghiệm về tuổi xuân, được diễn tả qua biểu tượng “cung ngà”. Ở đây, “cung ngà” không chỉ gợi đến một nhạc cụ, mà còn như một chiếc cầu nối giữa quá khứ – hiện tại – tương lai. Nó vừa là âm vang, vừa là ánh sáng, vừa là “chứng nhân” cho hành trình đời người.

Nghệ thuật và nhạc tính:

Về hình thức, bài thơ sử dụng thể thơ tám chữ, bốn khổ, song nhạc điệu lại giàu chất ngân vang nhờ sự lặp lại, nhịp chậm rãi và nhiều từ láy giàu âm hưởng… Những thanh bằng – trắc được phối hợp nhịp nhàng, tạo nên âm sắc vừa tha thiết, vừa man mác.

Ngôn ngữ thơ giàu biểu tượng:

“Cung ngà” – Trung tâm của hồi ức, biểu trưng cho tiếng gọi nội tâm. “Hoàng hôn” và “bình minh” – vòng tuần hoàn thời gian, vừa gợi sự tàn phai, vừa khơi dậy một khởi đầu mới. “Tạ lỗi một thời xuân nông nổi” – không chỉ là lời thú nhận, mà còn là dấu hiệu trưởng thành trong chiêm nghiệm. Nhạc tính của bài thơ khiến độc giả không chỉ “đọc” mà còn “nghe” được. Đây chính là hiệu ứng thẩm mỹ mà lý thuyết tiếp nhận gọi là sự cộng hưởng giữa văn bản và trải nghiệm cá nhân: Mỗi người sẽ tìm thấy trong “cung ngà” của thi sĩ tiếng vọng của chính thanh xuân mình.

So sánh tương đồng:

Trong dòng thơ thế giới, tôi nhận thấy Cung ngà xưa có một sự tương đồng đáng kể với Rainer Maria Rilke (Áo, đầu thế kỷ 20), đặc biệt trong Duino Elegies. Ở Rilke, âm thanh và ký ức thường trở thành kênh giao tiếp với cõi siêu hình: tiếng gọi của thiên thần, tiếng ngân vang giữa hữu hạn và vô hạn.

Tương tự, ở Ngã Du Tử, “cung ngà” không chỉ là một âm thanh vật chất, mà là “tiếng gọi bên kia bờ sông nhớ”. Nếu Rilke đặt cái hữu hạn của đời người trong thế tương giao với cái vô tận của vũ trụ, thì nhà thơ Đất Quảng đặt tiếng vọng của quá khứ trong thế đối thoại với hiện tại và tương lai. Cả hai đều dùng âm thanh như một ẩn dụ để con người nhìn lại chính mình, và vì vậy thơ của họ mang tính “siêu cảm giác” – vượt khỏi ranh giới thời gian thông thường.

So sánh khác biệt:

Tuy nhiên, nếu so với T.S. Eliot (Anh – Mỹ, thế kỷ 20), đặc biệt trong trường ca The Waste Land, ta sẽ thấy một khác biệt cơ bản. Eliot cũng viết về ký ức, về sự hoang tàn của thời gian, nhưng ông thường đặt nó trong một bối cảnh lịch sử – văn hóa rộng lớn, với những mảnh vỡ hỗn độn của văn minh. Thơ ông có xu hướng hoài nghi, bi quan, đầy tính phân mảnh.

Ngược lại, Ngã Du Tử nhìn về quá khứ với tâm thế dịu dàng và giàu nhân bản hơn. Dẫu có “tạ lỗi một thời xuân nông nổi”, bài thơ không gợi cảm giác sụp đổ, mà hướng tới sự an ủi: “Cung ngà xưa về đậu mảnh đất lành”. Nếu Eliot để lại dư vị trống rỗng, thì Ngã Du Tử của chúng ta để lại dư vị hàn gắn. Đây là sự khác biệt căn bản: thơ Việt vẫn gắn bó thường xuyên với hồn quê, với khát vọng yên bình, ngay

cả khi hồi tưởng quá khứ.

Đối thoại với văn hóa – lịch sử Việt:

Đặt trong bối cảnh văn hóa, “cung ngà” còn gợi đến truyền thống âm nhạc dân tộc, nơi tiếng đàn, tiếng sáo từng là phương tiện gắn kết cộng đồng. Người miền Trung – đặc biệt là Huế và xứ Quảng – vốn sống trong không gian khắc nghiệt, thường tìm đến âm nhạc như một nơi trú ngụ tinh thần. Vì vậy, bài thơ không chỉ là ký ức cá nhân, mà còn mang dấu vết của ký ức tập thể.

 

Bìa tập thơ Vàng gieo Tâm thức

 

Đọc bằng nhãn quan này, ta thấy Cung Ngà Xưa như một bản hòa âm của lịch sử sống: Nó cho phép người đọc từ nhiều thế hệ khác nhau nhận ra bóng dáng mình – người từng đi qua chiến tranh, kẻ từng mất mát tuổi xuân, hay cả người trẻ đang tìm cách đối diện với thời gian.

Đa tầng nghĩa trong tiếp nhận hôm nay:

Theo Mỹ học tiếp nhận, Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser –Những người đặt nền tảng ở Đức – đã nhấn mạnh rằng tác phẩm vănhọc không bao giờ là một thực thể đóng kín. Nó chỉ thực sự sống khibước vào mối quan hệ với độc giả, với “tầm đón đợi”

(Erwartungshorizont) của họ. Cung ngà xưa minh chứng điều ấy. Với người lớn tuổi, bài thơ là sự đồng vọng với chính thanh xuân họ đã bỏ lại. Với người trẻ, đó có thể là lời nhắc nhở: hãy biết lắng nghe và trân trọng hiện tại, kẻo rồi sẽ phải “tạ lỗi” cùng tuổi trẻ. Với độc giả quốc tế, đây là minh chứng cho một tinh thần Việt Nam: biết hoài niệm mà không bi lụy, biết tiếc nuối mà vẫn gìn giữ niềm tin. Chính sự đa tầng nghĩa này làm cho bài thơ mở ra nhiều con đường tiếp nhận khác nhau, và nhờ vậy, nó không bị trói buộc trong một thời điểm lịch sử duy nhất.

Kết luận:

Cung ngà xưa là một thi phẩm giàu nhạc tính, mang sắc thái hoài niệm sâu lắng, vừa chan chứa chất triết lý, vừa gợi mở tính tiếp nhận. Trong dòng chảy thơ Việt đương đại, nó có thể coi như nhịp cầu nối giữa truyền thống trữ tình với tinh thần hiện đại hóa. Nếu như Rilke cho thấy sự tương đồng ở chiều kích siêu hình của ký ức, thì so với Eliot, Ngã Du Tử lại khác biệt ở niềm tin và sự dịu dàng hướng về đời sống. Và trên hết, từ quan điểm Mỹ học tiếp nhận, bài thơ cho thấy sức mạnh của văn học: Nó không chỉ là tiếng nói cá nhân của một nhà thơ Đất Quảng, mà còn là tiếng vọng của ký ức chung – Nơi quá khứ và hiện tại giao hòa trong cung bậc tinh khôi của con người Việt.

(Viết lúc Miền Trung chuyển mùa, 2025)

T.N.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm