TIN TỨC

“Bến nước kinh Cùng” - Bến đợi của ký ức và tình người…

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-30 02:51:36
mail facebook google pos stwis
354 lượt xem

TRẦN MỸ DUYÊN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn)  -“Giữa bao vội vã, còn mấy ai lắng lòng với những phận người quê mộc mạc?” - Chính từ trăn trở ấy, “Bến nước kinh Cùng” của nhà văn Nguyễn Lập Em được tìm đến như một lời nhắc nhở tha thiết, đưa ta trở về với đất và người Nam Bộ, nơi tình quê và tình người thấm đẫm trong từng trang viết.

 

Tập truyện ngắn Bến nước Kinh Cùng

Sinh ra và lớn lên giữa miền sông nước An Giang, nhà văn Nguyễn Lập Em được biết đến là ngòi bút quen thuộc của văn học Nam Bộ, mang trong mình một tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương. Chính tình cảm ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn và khơi dậy mạch nguồn sáng tạo của nhà văn qua những tập thơ, truyện và tiểu thuyết, để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn xuôi hiện đại An Giang. Những tác phẩm tiêu biểu của tác giả có thể kể đến như: “Ở lại Đồi Tức Dụp”, “Điều em chưa nói”, “Thấp thoáng cánh cò”… và đặc biệt là tập truyện ngắn “Bến nước kinh Cùng” được xuất bản vào mùa đông năm 2002. Ở đó, cô đã đưa nhịp thở hồn quê đến gần hơn với bạn đọc của mình bằng cách tái hiện chân thực một bức tranh sống động về một miền đất nặng phù sa, nơi những phận người mộc mạc hiện lên đầy chan hòa và tình nghĩa.

Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã gợi ra không gian nghệ thuật đặc trưng của Nam Bộ: bến nước, dòng kinh, bãi sông, con đò, cánh đồng hay xuồng ghe… Cả tập truyện bao gồm tám truyện ngắn: Bến nước kinh Cùng, Bãi sông xanh, Xóm mồ côi, Lời của dòng sông, Xa lắc Cồn Te, Mùa vông chín, Đi một ngày đàng, Sông Hậu xuôi về. Đó như một dòng chảy cảm xúc, vừa khắc họa cảnh sắc quen thuộc, vừa làm nền cho những câu chuyện xúc động về tình người Nam Bộ.

Mỗi truyện trong sách như một lát cắt của đời sống dưới cái nhìn chan chứa yêu thương về cuộc đời của người viết. Từ những ngôn từ giản dị, thân thương, tác giả khẽ mở ra những cảnh nhà, phận người, để người đọc bắt gặp sự chất phác, hiền hậu của con người ở mảnh đất hiền hòa. Và điều đặc biệt, khi khép lại mỗi câu chuyện, tác giả đều mang đến một cái kết đầy dư âm, vang vọng và đôi khi lắng lại thành một khoảng trầm êm đềm dội ngược vào trong. Có lẽ, đó là khi bạn đọc sẽ thả hồn theo những rung động sâu kín của chính mình…

 

Tác giả Trần Mỹ Duyên

 

Trong tám truyện, mỗi truyện đều gợi cho tôi một cảm xúc thân quen đến lạ, nhưng có lẽ “Xa lắc Cồn Te” đã thật sự chạm đến lòng tôi. Ấn tượng nhất là giọng văn Nam Bộ mộc mạc, gần gũi mà nhà văn Nguyễn Lập Em đã dùng để khắc họa phận đời con người nơi bãi bồi giữa dòng Hậu Giang.

Cồn Te là một bãi bồi do phù sa sông Hậu sinh ra, như chiếc đĩa úp giữa lòng sông, nơi bao phận người mưu sinh bám trụ. Và ở đó, có câu chuyện về thầy Bá Tri, người thầy đã gắn bó với Cồn Te hơn hai mươi năm, từ khi còn là tập viên. Thầy như chứng nhân của mọi đổi thay trên bãi đất nhỏ. Nhưng vì cuộc sống mưu sinh, tiền lương kiếm được từ nghề dạy trên bãi đất nghèo thật sự ít ỏi. Vì thế, đã có một khoảng thời gian thầy rời bục giảng, chọn rời xa Cồn Te làm kế toán, để rồi nhận ra "Đó không còn là mình". Thầy đang đánh mất chính mình giữa những thủ đoạn bon chen. Để từ đó bằng sự kiên trì với nghề giáo, thầy quyết lòng trở lại cồn đất nhỏ giữa cuộc đời nhiều thử thách. Về lại bãi bồi với “tiếng gọi “thầy ơi” xoáy sâu vào trái tim thầy Bá Tri. Ông biết, ông trở về đây là đúng, dù có muộn màng." Thế nhưng, quy luật phù sa bồi lở vốn khắc nghiệt: cồn vẫn lỡ, người vẫn rời. Thầy cũng phải rời đi, như vị thuyền trưởng cuối cùng rời khỏi con tàu bị đắm mang theo tất cả day dứt và thương nhớ.

Và tại sao tôi lại chọn kể về “Xa lắc Cồn Te”? Bởi lẽ, tôi thấy được đâu đó là bóng dáng của mình trong nhân vật thầy Bá Tri. Thầy từng rẽ sang nghề kế toán để tìm ổn định vì cuộc sống mưu sinh, nhưng sớm nhận ra, đó không phải là mình. Chỉ khi trở lại bục giảng, thì hạnh phúc mới một lần nữa mỉm cười. Và tôi cũng từng như thế, từng chông chênh khi chọn học nghề giáo, từng cố gắng ép bản thân chọn con đường có vẻ sẽ “nhàn" hơn. Nhưng rồi, như thầy, tôi nhận ra rằng chỉ khi sống đúng với ước mơ, ta mới có thể thật sự muốn cố gắng và tiếp tục. Từ đó, tôi càng vững lòng hơn với quyết định của chính mình: Chỉ có kiên gan và bền chí theo đuổi ước mơ, ta mới tìm thấy được ánh sáng để tiếp tục bước đi.

Điểm sáng của truyện còn là sự am hiểu tường tận về quy luật của thiên nhiên sông nước và vận dụng điều đó để đưa vào tác phẩm của nữ nhà văn. Phù sa bồi đắp để hình thành những bãi đất trù phú, nhưng cũng có lúc đất lại lở đi, như lời người xưa: “Đất bãi, trăm năm bồi, trăm năm sau sẽ lở.” Từ đó, tác giả không chỉ ghi nhận quy luật của đất trời mà còn đối chiếu với quy luật của đời người. Bồi và lở là tất yếu, nhưng con người sao tránh khỏi sự  luyến lưu và nhớ thương? Một bãi bồi, nhiều năm về trước có lẽ chỉ là miền đất lạ. Thế nhưng, hai mươi năm sau, nơi ấy lại hóa thành chốn để về của một lữ khách từng ngang qua. Và khi rời đi, kỷ niệm vẫn neo lại, vương mãi như sóng nước chẳng nguôi…

Nói như Chế Lan Viên:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn.”

Và rồi, tôi tự hỏi: Điều gì có thể níu giữ một người ở lại?

Không phải chỉ vì miếng cơm manh áo, cũng chẳng phải là vùng đất bồi lở vô thường, mà chính ở tình người Nam Bộ, là những sợi dây vô hình của ký ức và tình cảm. Như thầy Bá Tri gắn bó với Cồn Te hơn hai mươi năm, thứ giữ chân người thầy không chỉ là mái trường nghèo hay những con chữ, mà còn là sự gắn bó chân thành giữa người với người. Là tiếng gọi “thầy ơi” thật hồn nhiên của đám học trò nơi bãi bồi. Đất có thể lở, cồn có thể mất, nhưng tình thương và ký ức đã hóa thành tâm hồn, thành vĩnh cửu trong trái tim mỗi người.

Khép lại truyện ngắn “Xa lắc Cồn Te”, ta như còn nghe những dư âm vang vọng giữa bãi bồi, để rồi chợt nhận ra những phận người giản dị nơi miền sông nước chưa bao giờ rời khỏi tâm tưởng. Và cũng chính từ đó, ta lần giở lại từng trang của "Bến nước kinh Cùng" nơi dòng kinh, bến nước và những kiếp người tình nghĩa hiện lên.

Hãy một lần tìm đến và cảm nhận nhịp sống của phận người mộc mạc nơi đây, để thấy quê hương Nam Bộ không chỉ là miền đất bồi lở, mà còn là bến đợi của ký ức và tình người./.
 

(*) “Bến nước kinh Cùng” của nhà văn Nguyễn Lập Em đã đoạt giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 2003 và được Hội Nhà văn Việt Nam, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn trao giải A đồng hạng- “Tác phẩm xuất sắc trong 30 năm” (1980 – 2010). Riêng truyện ngắn “Bến nước kinh Cùng” đoạt Giải Ba - Cuộc thi Truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long năm 2002 và soạn giả Đặng Minh chuyển thể kịch bản Cải lương đoạt giải Nhì - Cuộc thi Kịch bản sân khấu toàn quốc, đạo diễn Trần Mỹ Hạnh dàn dựng tham gia Liên hoan “Hương Sắc Cửu Long” các tỉnh khu vực ĐBSCL đoạt Huy chương Bạc toàn đoàn và nhiều Huy chương Vàng, Bạc dành cho diễn viên năm 2020.
 

T.M.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm