TIN TỨC

Quan niệm của Xuân Diệu về thơ từ những câu chuyện đời thường

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-02 14:41:16
mail facebook google pos stwis
2497 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Trong hành trình kết nối tình yêu thơ ca với bạn đọc, dẫu chưa là hệ thống quan điểm sáng tác, song “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam) đã cho thấy những quan niệm về thi ca của mình.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Nhà thơ có nghĩa là người không có tuổi

Xuân Diệu là thi sĩ thứ thiệt (chữ của Nguyễn Tuân) không hề bị tuổi tác làm giảm đi sức sáng tạo của thời tươi trẻ. Đó là lời giải thích cho lý do vì sao khi tuổi đã ngoài tứ tuần, Xuân Diệu vẫn có thể cho ra đời những bài thơ rất sôi nổi, trẻ trung, rạo rực, say đắm. Như bài thơ Biển (1962) với các ngôn từ dào dạt (Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em…), hay như chính Xuân Diệu tự thú “Kẻ đa tình không cần đủ thịt da/ Khi chết rồi thì tôi sẽ yêu ma” (Đa tình). Hàng ngày, nhà thơ Xuân Diệu vẫn mở rộng lòng mình khát khao tìm kiếm tiếng nói đồng điệu của tâm hồn thi ca. Ông không hề khệ nệ, khép kín như nhiều nhà thơ nội cảm, mà thẳng lòng rộng cửa: “Nhà tôi hăm bốn Cột Cờ/ Ai yêu thì đến, ai hững hờ thì qua”.

Nói chuyện thơ, bình thơ trước công chúng, Xuân Diệu ghét những người gọi ông là “bác”, là “chú”… khi tóc ông bạc. Giai thoại kể lại, lần ấy Xuân Diệu bình thơ ở một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Mê Linh, Hà Nội), khi chuẩn bị ra hội trường, một tốp giáo viên vây lấy ông ở hành lang. Một nữ giáo viên hỏi: “Thưa nhà thơ, năm nay nhà thơ bao nhiêu tuổi?”. Xuân Diệu giật mình, tỏ vẻ không vừa lòng: “Trời ơi, ai nỡ đi hỏi tuổi của nhà thơ. Nhà thơ không bao giờ có tuổi!”. Một nam giáo viên khác ngập ngừng: “Thưa bác Xuân Diệu. Bố cháu đọc…”. Xuân Diệu ngắt lời ngay: “Trời đất, gọi nhà thơ bằng bác. Bác gì, bác phó cối à…”. Một giáo viên trẻ khác sau khi đã “rút kinh nghiệm”, từ tốn thưa với Xuân Diệu: “Thưa nhà thơ, nếu nhà thơ không vướng thời thơ lãng mạn thì bây giờ chắc chắn nhà thơ có vị trí số 2 trên thi đàn sau nhà thơ Tố Hữu?”. Xuân Diệu đốp chát ngay: “Cậu dạy môn gì?”. “Dạ cháu dạy môn sinh vật ạ”, giáo viên trẻ trả lời. Xuân Diệu phân trần: “Phải rồi, thảo nào. Thế thì cậu chỉ biết dạy cho học sinh mổ ếch, mổ lươn chứ cậu biết gì về thơ mà bàn. Cậu phải biết rằng không có Xuân Diệu thời Thơ mới thì làm sao có Xuân Diệu bây giờ. Không có thời Thơ mới thì cũng không có cả nhà thơ Tố Hữu nữa, cậu biết không?”. Đã có một thời, người ta chỉ biết thơ ca cách mạng, chỉ quen đề cao những nhà thơ cách mạng, trong đó dĩ nhiên Tố Hữu là số 1. Còn Thơ mới thì bị cho là ủy mị, yếu đuối, tiêu cực… Vì vậy, ai dám cho một cây đại thụ như Tố Hữu lại “đi học” Thơ mới. Nhưng quả thực như lời Xuân Diệu nói trên (không có Thơ mới thì không có thơ Tố Hữu). Sau này GS. Lê Đình Kỵ (Trường ĐH Tổng hợp TP.HCM, nay là Trường ĐH KHXH-NV TP.HCM) đã có một chuyên luận khẳng định điều đó, các bài học trong sách giáo khoa về thơ Tố Hữu cũng có kết luận Tố Hữu kế thừa tinh hoa của Thơ mới.

Chỉ có thơ hay và thơ dở

Một nhà thơ gạo cội, trải qua nhiều giai đoạn sáng tác, vừa thạo cổ vừa thông kim, ấy thế mà khi nghĩ về thơ, Xuân Diệu không bao giờ đặt ra vấn đề về ranh giới giữa thơ cũ và thơ mới. Theo Xuân Diệu chỉ có thơ hay và thơ dở mà thôi. Trong một buổi gặp gỡ các cây bút sáng tác trẻ tại Hải Phòng, ông đã thẳng thắn bày tỏ quan niệm: “Xét cho cùng thì làm gì có vấn đề mới hay cũ trong thơ, chỉ có hay dở mà thôi. Ai bảo cụ NguyễnTrãi là cũ khi cụ viết “Tuổi già tóc bạc cái râu bạc/ Một ngọn đèn xanh con mắt xanh”. Còn những bài thơ chưa khô mực nhưng dở mèm mà gọi là mới ư? Cái gì hay thì luôn luôn mới, còn cái gì dở bị đào thải ngay khi ra đời thì là cũ chứ gì nữa”.

Xuân Diệu tên thật đầy đủ là Ngô Xuân Diệu (sinh ngày 2-2-1916, mất ngày 18-12-1985), là nhà thơ, nhà báo, nhà văn viết truyện ngắn, nhà phê bình văn học… Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới đầu thế kỷ XX

Muốn đánh giá thơ mình, hãy nhập vào người khác mà đọc lại thơ mình. Tác giả Đông Trình kể câu chuyện như sau: Có lần tôi và Xuân Diệu đi tàu lửa từ Hà Nội vào Thanh Hóa. Trước mặt tôi và Xuân Diệu đang ngồi có mấy cô sinh viên đang mở thơ Xuân Diệu ra đọc, họ không hề biết Xuân Diệu đang ngồi đối diện phía sau. Họ vô tư bình luận, tranh cãi sôi nổi, và chê những bài thơ tình in ở cuối tập. Một ngày sau, Xuân Diệu khó ngủ, gặp tôi (Đông Trình) ở phòng khách, Xuân Diệu nói: “Này ông, mình rút ruột ra mà làm, ấy thế mà có bài bị người ta “phê”. Nghe người ta “phê” mình nóng mặt, từ lâu nay có ai cả gan phê thơ tình Xuân Diệu”. Đông Trình nói: “Ôi, cái chuyện vớ vẩn trên tàu xe ấy mà… Đến ga rồi, một tiếng còi tàu là xóa hết!”. Xuân Diệu nghiêm túc nói: “Xóa thế nào được. Đêm qua mình nằm đọc lại mấy bài ở cuối tập – bằng cách nhập vai vào cánh sinh viên trên tàu – đúng là mấy bài ấy không hay nhưng mình vẫn chủ quan”.

Được một nhà thơ lớn như Xuân Diệu viết cho lời tựa sách thì quý gì bằng, nhất là các nhà thơ trẻ. Bản thân nhiều người, khi có tên tuổi một chút cũng rất “chịu” viết lời tựa. Còn Xuân Diệu thì ngược lại, ông rất “kỵ” viết “món” này. Tác giả Xuân Hoài kể lại chuyện này như sau: Năm ấy, Tỉnh đoàn thanh niên Hà Tĩnh chuẩn bị xuất bản cuốn “Từ ngã ba này ta hát”, muốn nhờ Xuân Diệu viết cho lời tựa. Sau khi đọc xong bản thảo, Xuân Diệu từ chối. Khi gặp Xuân Hoài ở Hà Nội, Xuân Diệu tâm sự với Xuân Hoài để mong anh em thông cảm: “Mình chỉ đề tựa được cho những tập nào hồng hồng một chút. Từ trước đến nay với tập chung thì mình mới viết giới thiệu cho Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960 và tập Chùa Hương. Với tập riêng thì mình chỉ mới viết giới thiệu cho hai người Cận và Khoa (Huy Cận và Trần Đăng Khoa)”. Thì ra, theo Xuân Diệu, viết tựa sách là một khâu vô cùng quan trọng, không thể tùy tiện được như nhiều người vẫn làm.

Sức sống của thơ Xuân Diệu

Việt Nam có thơ “lẩy Kiều” thì giới trẻ có lẩy thơ… Xuân Diệu. Những câu thơ được mào đầu kiểu như “Yêu là chết…”, “Người ta khổ…”, hay “Xuân đương tới…” thường được người trẻ sử dụng trong nhiều tình huống, cho thấy sức lan tỏa của thơ Xuân Diệu. Năm 1941, bài thơ Cảm xúc (như một tuyên ngôn về thơ mới: Là thi sĩ nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây…) của Xuân Diệu ra đời trên báo Ngày nay. Năm 1942, Sóng Hồng (Trường Chinh) có thơ “phản pháo” theo góc nhìn cách mạng: Là thi sĩ nghĩa là cao khúc họa/ Cuộc đấu tranh vĩ đại của hoàn cầu…/ Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền.

Theo N.H, trước đây có một thiếu nữ Pháp mê thơ Xuân Diệu nên thuộc nhiều thơ của ông. Thiếu nữ này còn lẩy thơ Xuân Diệu như người ta lẩy Kiều bằng cách ghép bốn câu thơ trong bốn bài khác nhau thành một bài tứ tuyệt:

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Ta cần uống ở suối thương yêu

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Không khóc nhưng mà buồn hiu hiu…

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm