TIN TỨC

Thế giới kỳ vĩ của thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-17 10:04:31
mail facebook google pos stwis
432 lượt xem

(Mời click vào logo trên đây để truy cập thư mục)

Bài viết “Thế giới kỳ vĩ của thơ” của nhà văn Nguyễn Quế (từ Bình Dương cũ) là một cuộc dạo bước qua nhiều miền thi ca Việt Nam – từ ánh trăng ca dao, vẻ cổ điển của Kiều, tiếng thơ Hồ Xuân Hương, đến những câu thơ đã thành “ký ức tinh thần” của thời kháng chiến. Qua từng trích dẫn và phân tích, tác giả cho thấy thơ không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn là nguồn sức mạnh nâng đỡ con người trong mọi thời điểm lịch sử.
 

NGUYỄN QUẾ

Nhân loại có hàng trăm định nghĩa về thơ. Có thể hiểu: Thơ là sự kết tinh tư tưởng, cảm xúc, trải nghiệm của con người về thế giới và cuộc sống, được biểu đạt bằng nghệ thuật ngôn từ.

Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.

Khó có thể đưa ra con số thống kê cụ thể, nhưng chắc chắn, hàng ngày nhân loại sản xuất ra một lượng thơ ca không hề nhỏ. Chỉ riêng ở Việt Nam, một đất nước được xem “mỗi người dân là một nhà thơ”, con số ấy có lẽ đã khó đong đếm. Trong cái kho tàng ấy, chất lượng mỗi sản phẩm cũng mỗi khác. Việc xem xét giá trị một tác phẩm văn học nghệ thuật nhiều khi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quan điểm thẩm mỹ, khả năng cảm thụ của mỗi người… Tuy nhiên, một bài thơ hay sẽ góp phần bồi đắp nên một thế giới kỳ vĩ, được đông đảo người đọc đón nhận. Đó cũng là cơ hội giúp đọc giả khám phá những miền sâu thẳm trong tư tưởng, cảm xúc và cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ để làm giàu cho tâm hồn mình. Từ nhận thức sẽ đi tới hành động. Đó là con đường tất yếu và là sức mạnh của thơ ca.

Chúng ta đã từng được chứng kiến thế giới kỳ vĩ ấy qua các áng thơ bất hủ. Trước hết nói về thơ dân gian. Một trong những hình ảnh vừa thơ mộng, vừa gần gũi và thân thiết với con người, đã sớm đi vào ca dao là ánh trăng. Trăng tạo mối giao hòa giữa trời, đất và lòng người. Sự kết nối ấy diễn ra ở nhiều khung cảnh khác nhau của cuộc sống, cả trong lời “trách” của chàng trai đối với cô thôn nữ trong một buổi tối lao động:

“Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”

Câu ca dao trên đây cho ta một cảm nhận vừa lãng mạn, vừa tinh tế: trong từng gàu nước của cô gái trẻ có ánh trăng vàng lung linh. Từ một dạng vật chất bình thường, không có hương vị, màu sắc, dưới sự tác động của ánh trăng, nước chợt hóa thân thành một thực thể vừa sống động, vừa huyền ảo. Chính vì vậy, đêm tát nước của cô thôn nữ tưởng chừng như rất mệt nhọc lại mang một sắc thái nhẹ nhàng và rất đáng yêu. Câu ca dao không miêu tả hình ảnh cô gái nhưng người đọc có thể cảm nhận được sự tươi trẻ, dịu dàng và thanh thoát của cô trong một đêm lao động miệt mài dưới ánh trăng huyền diệu. Bối cảnh ấy lại diễn ra “bên đàng”, nơi nhiều người có thể đi ngang qua và thưởng ngoạn. Qua câu ca dao trên đây, hoạt động lao động sản xuất của con người được thi vị hóa và tôn vinh, làm cho ta cảm thấy trân trọng và thêm yêu cuộc đời này.  

Truyện Kiều của Nguyễn Du là thế giới kỳ vỹ của lục bát thơ. Đắm mình trong thế giới ấy, ta được tiếp cận rất nhiều câu thơ tuyệt tác mà sau đây là một ví dụ:

“Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”.

Với hai câu thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, đại thi hào đã vẽ nên một bức tranh tuyệt mỹ về thiên nhiên. Ở đó, ta được tiếp cận mặt nước trong veo, tĩnh lặng như chiếc gương soi để trời in bóng xuống tận đáy. Trời và nước vốn là hai thế giới xa cách, đối lập, bỗng giao hòa với nhau trong một khung cảnh thật hữu tình và nên thơ. Kế cận bức tranh trên là hai tuyệt tác khác, một của con người, một của thiên nhiên, huyền ảo và rực rỡ như thực, như mộng. “Thành xây khói biếc” mang một vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa cổ kính, linh thiêng, gợi tả không khí yên ả, thanh bình và một nền nếp, một trật tự xã hội vững chãi, tồn tại từ lâu đời. Còn“non phơi bóng vàng” là một thực thể vừa uy nghi, vừa lộng lẫy. Cái “bóng vàng” được “phơi” trên non ấy là sắc thái kỳ diệu của trời đất, đẹp như một bức tranh sơn dầu khổng lồ, tỏa rạng khắp không gian. Với các tính từ tả sắc thái sự vật, hiện tượng (“long lanh”, “biếc”, “vàng”) và việc sử dụng biện pháp nhân cách hóa (“in”, “xây”, “phơi”), hình ảnh thiên nhiên hiện lên trong câu thơ càng thêm sống động, lung linh.

Trong lịch sử văn học nước nhà, thơ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng rất độc đáo. Dương Quang Hàm cho rằng: “Là một nữ sỹ thiên tài và giàu tình cảm nhưng vì số phận hẩm hiu, thân thế long đong, nên trong thơ bà hoặc có ý lẳng lơ, hoặc có giọng mỉa mai, nhưng bài nào cũng chứa chan tình tự”. Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm và khẳng định, kể về sự độc đáo thì thơ bà đứng vào bậc nhất trong nền văn học Việt Nam. Ông cho rằng, một khi người đàn bà ấy đã cất tiếng lên thì đố ai đã nghe một lần lại có thể quên được: “Thứ thơ ấy không chịu ở trong khuôn khổ thông thường, một thứ thơ muốn lặn sâu vào sự vật, vào những đáy rất kín thắm của tâm tư, nhưng đáy kín thắm ấy không phải lạc lõng, cô đơn, cá nhân chủ nghĩa, mà trái lại, đã được hàng vạn, hàng vạn người đồng tình, thông cảm”. Mỗi bài thơ của nữ sĩ họ Hồ là một thế giới riêng. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của bà là bài Bánh trôi nước:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dù tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Tác giả mượn hình ảnh của bánh trôi nước để ẩn dụ cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn, cấu trúc chặt chẽ, súc tích, kết hợp với việc sử dụng ngôn ngữ của ca dao (“thân em”, “bảy nổi ba chìm”, “tấm lòng son”), tạo nên sự trang nhã mà sâu sắc, bình dị và gần gũi. Hình ảnh chiếc bánh trôi nước “vừa trắng lại vừa tròn” mang nghĩa tả thực, đồng thời tượng trưng cho vẻ đẹp hình thể và phẩm chất trong sáng, duyên dáng, đầy nữ tính của người phụ nữ. Tuy vậy, thân phận của họ cũng rất mong manh, dễ bị ảnh hưởng bởi tác động từ bên ngoài. Thành ngữ “Bảy nổi ba chìm” đã diễn tả cuộc đời lênh đênh, bất định của họ dưới xã hội phong kiến tàn bạo và bất công. Dù vậy, họ thể hiện thái độ cam chịu nhưng không khuất phục. Mặc cho “tay kẻ nặn” có bạo liệt thế nào, họ quyết “vẫn giữ tấm lòng son”, tức tấm lòng trung thực, thủy chung, son sắt của người phụ nữ Việt Nam.

Nói đến nền văn học nước nhà, mỗi chúng ta lại sung sướng và tự hào khi nhắc tới các tác phẩm của Bác Hồ kính yêu. Là nhà văn, nhà thơ lớn đồng thời là lãnh tụ thiên tài và vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Bác đã để lại cho dân tộc ta những tác phẩm văn học đặc sắc, trong đó có thơ chúc tết. Từ cái tết đầu tiên sau khi trở về Tổ quốc đến cái tết cuối cùng trước khi từ giã cõi đời này, vào lúc giao thừa, Bác thường đọc thơ chúc tết đồng bào, chiến sỹ cả nước. Đó là những phút giây vô cùng quý báu, có ý nghĩa to lớn, tạo nên không gian văn hoá trang trọng, thiêng liêng gắn kết lãnh tụ với nhân dân. Nhiều người cho rằng sự kiện ấy cần được củng cố, giữ gìn như một báu vật đặc biệt của quốc gia để đáp ứng tình cảm sâu nặng cùng ước nguyện tha thiết của các tầng lớp nhân dân hôm nay và mãi mãi mai sau. Các bài thơ chúc tết của Bác, mỗi bài đều có ý nghĩa to lớn và sâu sắc, gắn liền với các thời điểm lịch sử của dân tộc. Ở đây, một lần nữa xin nói về bài Mừng Xuân 1969, bài thơ chúc tết cuối cùng của Người:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào

Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào

Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.”

Viết cho đồng bào và chiến sỹ, Bác sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc. Hai câu đầu nói về kết quả kháng chiến trong năm qua và triển vọng của năm tới mà lời thơ bình dị, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân. Nhưng chính điều đó đã tạo nên sức khẳng định to lớn về quy luật tất yếu của cuộc kháng chiến. Hai câu tiếp theo, chỉ với 14 chữ, Người đã xây nên một toà lâu đài ngôn ngữ với các trục kiến trúc thật cân đối, hài hoà và vững chãi. Tòa lâu đài ấy chứa đựng những giá trị tư tưởng, nghệ thuật vĩ đại, khẳng định mục tiêu cao cả của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là vì độc lập, vì tự do, đồng thời chỉ rõ, để thực hiện mục tiêu ấy, các nhiệm vụ chiến lược, các bước đi cụ thể của cách mạng và phương thức kết thúc chiến tranh là “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Câu thơ đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng. Hai câu cuối vừa là mệnh lệnh tiến công, vừa chỉ ra tương lai tươi đẹp của dân tộc khi đất nước hoà bình, thống nhất. Bài thơ chỉ có sáu câu lục bát mà đã tạo nên một tuyệt tác có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt: văn hoá, chính trị, quân sự, ngoại giao; và qua đó thể hiện cách xử thế cao cả của Con Người.

Có người cho rằng, so với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi của Việt Nam hay Gớt của Đức, Pushkin của Nga chẳng hạn, tên tuổi của Xuân Diệu còn rất khiêm tốn. Nhưng nếu chọn từ thơ của Xuân Diệu và thơ của các đại thi hào kia mỗi người hai câu tiêu biểu nhất thì không ai có thể qua được hai câu thơ của “ông hoàng thơ tình Việt Nam”:

“Trái đất ba phần tư nước mắt

Trôi như giọt lệ giữa không trung”.

Ở đây, xin không bàn tới câu chuyện to tát là so sánh thơ của các bậc tiền bối lừng danh nói trên. Tuy nhiên, chúng ta có thể bày tỏ lòng yêu quý và kính phục trước tầm vốc hai câu thơ của Xuân Diệu.

Với câu thơ đầu, từ thực tế bề mặt trái đất có ba phần tư là biển cả, sông suối, ao hồ, nhà thơ ví đó như là “ba phần tư nước mắt”. Có lẽ không còn cách diễn đạt nào tuyệt vời hơn thế. Bởi, bên cạnh những niềm vui sướng và hạnh phúc đã đạt được, còn có biết bao gian truân, mất mát, thương đau loài người trên trái đất này phải gánh chịu. Nỗi niềm ấy do nhiều nguyên nhân gây ra, không phải một vài địa  điểm mà ở nhiều nơi, dai dẳng không dứt. Từ các cuộc thế chiến lôi kéo cả nhân loại vào vòng chết chóc, nghèo đói, đến các cuộc xung đột vũ trang đẫm máu. Từ các đại dịch đến các loại bệnh hiểm nghèo. Từ những  đợt sóng thần, động đất kinh hoàng đến những trận bão lụt, hạn hán tàn khốc. Rồi tai nạn lao động, đụng độ giao thông… Sự so sánh ấy không chỉ đúng ở thì hiện tại mà còn chính xác khi nhìn nhận lại suốt chiều dài lịch sử nhân loại và cả dự báo trong tương lai. Oái oăm thay, những tấn bi kịch ấy, trực tiếp hoặc gián tiếp, phần lớn đều do con người gây ra. Càng oái oăm hơn, khi trái đất đầy nước mắt này đang “Trôi như giọt lệ giữa không trung”. Nghĩa là nhân loại đã và đang thờ ơ, thụ động trước sinh mệnh của chính mình. Chữ “trôi” vừa là động từ, vừa là tính từ chỉ trạng thái, đã diễn tả thực trạng ấy. Hai câu thơ của Xuân Diệu như một lời cảnh tỉnh đối với cả loài người trên trái đất.

Có lần, một nhà thơ nói rằng: Người xưa quan niệm đường chân trời là nơi đất và trời tiếp giáp nhau. Đó là chốn xa xôi đến vô cùng, người ta có thể nhìn thấy trước mặt nhưng đi mãi, đi hoài không bao giờ tới. Vậy mà trong bài thơ Vạn lý tình, Huy Cận lại viết:

“Người ở bên trời, ta ở đây

Chờ mong phương nọ, ngóng phương này”.

Đọc câu thơ trên đây, anh nghĩ:“ở bên trời” nghĩa là xa hơn cả chân trời. Anh cho rằng đây là một khái niệm hoàn toàn mới. Có lẽ vì hai người cách chia bởi một khoảng không gian mênh mông quá, thời gian xa nhau dằng dặc quá nên đã không biết bao nhiêu lần tác giả đứng trông chờ người thân, và mỗi lần nhìn mãi về phương dự kiến người thân sẽ trở về mà không thấy, tác giả lại ước, biết đâu người ấy sẽ xuất hiện từ một phương khác chăng, nên mới có câu “Chờ mong phương nọ, ngóng phương này” ? - Anh suy luận nhưng không giám khẳng định và “bị” câu thơ ám ảnh mãi. Để giải tỏa nỗi niềm, đồng thời với lòng kính yêu, trân trọng nhà thơ lớn, anh mong một ngày ra Hà Nội để tới thăm và xin được hỏi chuyện ông, nhưng anh chưa kịp thực hiện ý định của mình thì tác giả Lửa thiêng đã đi xa.

Thơ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến có nhiều tác phẩm đặc sắc. Một trong số đó là bài thơ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây của Phạm Tiến Duật. Nhiều người đã thể hiện lòng yêu thích tác phẩm này, nhất là khổ thơ sau:

“Từ nơi anh đưa sang bên nơi em

Những binh đoàn nối nhau ra trận tuyến

Như tình yêu nối lời vô tận

Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn”.

Khi được phổ nhạc, bài thơ trên càng cất cánh bay cao, bay xa. Dù đã nghe nhiều lần, nhưng mỗi khi bài hát được ngân lên, chúng ta lại bị thu hút bởi cái đẹp, cái hay của bài hát, nhất là chữ lời trong câu “Như tình yêu nối lời vô tận”. Nếu xem ngôn từ trong bài thơ là một chuỗi hạt thì chữ lời tựa hạt ngọc lung linh làm sáng bừng lên cả chuỗi hạt ấy. Khi người con trai và người con gái yêu nhau, họ thường trao nhau những “lời” yêu nồng ấm. Dù ban ngày mới gặp gỡ, tối đến họ vẫn ước ao được cùng nhau tâm sự đến thâu đêm. Có thể chỉ là những câu chuyện không đầu không cuối, nhưng giữa họ lời cứ nối lời vô tận. Ngôn ngữ của tình yêu cũng rất phong phú, đa dạng. Có khi là những câu nói ngọt ngào thốt ra từ hai con tim rạo rực. Lại có khi là những cử chỉ vuốt ve âu yếm, hay là “tiếng ngón tay anh thủ thỉ, trong bàn tay em chiếc lá non mềm”… Cứ như vậy, những “binh đoàn” ngôn ngữ tình yêu cứ điệp điệp trùng trùng nối tiếp nhau, tưởng chừng không bao giờ dứt. Vậy mà chàng trai lại ví “Từ nơi anh đưa sang bên nơi em/Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến/ Như tình yêu nối lời vô tận” thì quá tuyệt vời.

Cũng viết về Trường Sơn những năm đánh Mỹ, tác phẩm Sợi nhớ, sợi thương của Thúy Bắc khắc họa bức tranh tinh tế và sâu sắc về tâm hồn người phụ nữ Việt Nam, được thể hiện qua khúc tình ca tuyệt đẹp, mang màu sắc huyền thoại. Thiên nhiên hiện lên trong bài thơ thật khắc nghiệt:

“Trường Sơn Đông

Trường Sơn Tây

Bên nắng đốt

Bên mưa quây”

Trước hoàn cảnh ấy, nữ tác giả “giang tay”, “xoè tay” muốn ôm ấp, chở che người thương của mình là người chiến sỹ đang làm nhiệm vụ nơi tiền tuyến nhưng đành bất lực. Tuy vậy, với tình yêu rực cháy cùng niềm thủy chung son sắt và sự  hy sinh to lớn, chị muốn “Rút sợi thương/ Chằm mái lợp”, “Rút sợi nhớ/ Đan vòm xanh”, rồi dùng sức mạnh thần kỳ từ tình cảm thiêng liêng ấy, hoá thân vào thiên nhiên, “nghiêng sườn Đông”, “nghiêng sườn Tây” để “che mưa”, “xòa  bóng mát” nhằm che chắn cho người thân. Kết quả - dù chỉ là trong ước vọng - chị đã tạo nên một khung cảnh dịu êm và thơ mộng: “Rợp trời thương/Màu xanh suốt”. Giữa không gian huyền diệu ấy, người phụ nữ vui mừng và hạnh phúc thể hiện ý chí của mình: “Em nghiêng hết/ Về phương anh”. Đó là một hình ảnh tuyệt đẹp của tình yêu, biểu thị sự toàn tâm toàn ý dâng hiến cho người mình yêu thương nơi chiến hào của phụ nữ Việt Nam. Để khắc hoạ bức tranh trên đây, tác giả đã sử dụng thể thơ ba chữ, mỗi khổ hai câu, tạo nên hệ thống ngôn từ ngắn gọn, súc tích và thống nhất; nhịp điệu thơ dịu dàng, nữ tính nhưng nhanh và dứt khoát. Ngôn ngữ thơ được chọn lọc kỹ. Chữ “đốt” và chữ “quây” được sử dụng đắc địa, đặc tả tính chất khắc nghiệt của thiên nhiên. Tác giả cũng đã dùng các hình ảnh đối lập như “nắng đốt” - “mưa quây”, hoặc ẩn dụ như “sợi nhớ” - “sợi thương”, “chằm mái lợp” - “đan vòm xanh” đầy sáng tạo và đọc đáo, tạo nên hồn cốt tác phẩm. Tuy các yếu tố thực, hư đan xen nhau và chủ yếu là sự tưởng tượng của nữ nhà thơ nhưng ta cảm thấy trân trọng tư tưởng, tình cảm của tác giả và tin rằng, trước tấm lòng cao đẹp ấy, người thân của chị và các đồng đội sẽ vượt qua mọi thử thách, gian truân để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

Dù thế giới rộng mở, thơ không bị giới hạn thời gian, không gian và không hề đơn độc. Có khi tác phẩm tạo sức hút mạnh mẽ bởi chất thơ được kết hợp nhuần nhuyễn với âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, tạo nên âm hưởng dạt dào, say đắm như các câu thơ trong bài thơ viết về đất nước bạn của Tố Hữu:

“Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan

Đường bạch dương sương trắng, nắng tràn”.

Cũng có khi sự lôi cuốn đến từ các màu sắc của sự sống và hạnh phúc hiện lên một cách tươi đẹp, thần kỳ từ những mất mát, hy sinh của biết bao đồng bào, đồng chí trong cuộc chiến chống quân thù như ở tác phẩm Hoan hô chiến sỹ Điện Biên của tác giả:

“Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam

Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng”.

Trong gia tài thơ của các tác giả, nhất là những tác giả lớn, nhiều khi chỉ cần một vài bài, thậm chí một vài câu đã có thể gợi nên cả một chân trời suy tưởng. Với Nguyễn Đình Thi, đó là bài thơ Đất nước nổi tiếng cùng hai câu kết hào sảng: “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Giũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Một trong những lý do để Chế Lan Viên chiếm được tình cảm của người đọc là sức lan toả của hai câu thơ trong tác phẩm Tiếng hát con tàu: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. Hoàng Trung Thông khẳng định vị thế của mình qua Bài ca vỡ đất với hai câu kết bất hủ: “Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Chính Hữu lưu danh bằng bút pháp tả thực và lãng mạn với hình ảnh độc đáo trong tác phẩm Đồng chí: “Đầu súng trăng treo”

Thế giới của thơ rất kỳ vĩ, đa dạng và phong phú, trong phạm vi một bài viết không thể nói hết. Một điều chắc chắn là sức mạnh và sự lan tỏa từ thế giới kỳ vĩ ấy đã góp phần tạo nên “nền tảng tinh thần của xã hội”. Từ “nền tảng” cao đẹp và vững bền ấy, bao thế hệ người Việt Nam đã không quản ngại vất vả hy sinh, vững bước lên đường ra tiền tuyến chống giặc hoặc tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ của mình trên các mặt trận lao động sản xuất, công tác và học tập. Thế giới kỳ vĩ của thơ đã góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, giúp họ lập nên những kỳ tích trong Cách mạng tháng Tám, các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.

Các nhà thơ không phải tự nhiên sinh ra để làm thơ. Phần lớn họ tự gắn cái “nghiệp” làm thi sỹ lên vai mình, mặc dù, thời nào cũng vậy, hầu như ít ai có thể đủ sống bằng cái “nghiệp” ấy. Như thân tằm rút ruột nhả tơ, các nhà thơ đào xới trong cõi lòng mình để khai quật ra từng con chữ tạo nên những đứa con tinh thần góp làm của cái chung cho nhân quần. Để làm được điều đó, cũng như bao nghệ sỹ khác, các nhà thơ phải đổ mồ hôi và nhiều khi cả máu nữa. Nhờ sự hy sinh thầm lặng ấy, tình yêu thương giữa con người với con người ngày một nảy nở, thế giới càng thêm tươi xanh, cái đẹp đơm hoa kết trái, cuộc sống thêm tươi vui, an bình và hạnh phúc. Cũng chính vì vậy, vai trò, sự đóng góp của họ cho cuộc đời không hề nhỏ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm
Đọc ‘Bão’ – Ánh sáng nhân tâm giữa cơn bão thời cuộc
Tiểu thuyết Bão của PGS.TS, nhà văn Nguyễn Đức Hạnh được nhà văn Phan Đình Minh tiếp cận trên cả ba phương diện: nội dung xã hội, nghệ thuật tự sự và chiều sâu nhân văn.
Xem thêm