TIN TỨC

Chặng chữ, đời người | Nguyễn Hữu Quý

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-30 15:33:30
mail facebook google pos stwis
3610 lượt xem

NGUYỄN HỮU QUÝ

Mơ ước. Hy vọng. Thất vọng. Và, hy vọng… Đó là gì tôi có thể gom gói lại khi muốn nói về chặng chữ của mình. Với tôi, đời người đã nhuốm màu nắng quái, chẳng mấy chốc nữa sẽ thập thững bước tới hoàng hôn và cõi mênh mang bí ẩn nhất cũng không còn xa xôi mấy nữa. Chặng chữ còn lởm khởm làm sao; những gì đã có chưa làm ta yên lòng, chưa đủ mặn, chưa đủ thấm dẫu sách mang tên mình đã có vài chục quyển gồm nhiều thể loại thơ, trường ca, truyện ngắn, bút ký tản văn và phê bình. Văn chương là nỗi nhọc nhằn, như sự gánh gồng định mệnh của đời ta, đời người, chấm vo lại là mình, mở toang ra là thiên hạ. Viết là khó, quá khó nên không mấy dễ được trời chọn để trao bút. Càng hiếm hoi người tài trong làng văn. Cỡ như Nguyễn Du là rất hiếm, không tài ba làm sao Cụ có được "Truyện Kiều" lẫy lừng bốn phương để cho thiên hạ mấy trăm năm nay vẫn còn khóc cười với một phận đàn bà "Sắc đành đòi một, tài đành họa hai" nhưng phũ phàng mệnh bạc xuyên muôn thế kỷ. Thế mà Cụ dặn: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Nghĩ xa, nghĩ gần, chợt vận vào ta, hay Cụ viết thế để an ủi những kẻ cầm bút ít tài như mình nhỉ.

Nói thật, nhiều lúc tôi tự thấy hoang mang trước tấm thẻ Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hoang mang hay nỗi sợ hãi nghề viết. Đọc những cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn, bài thơ tầm cao nỗi sợ hãi càng chất chứa, dâng đầy. Văn chương là như thế, viết như lấy giọt sống của đời mình nuôi dưỡng, tưới tắm cho con chữ, viết là đang bay lên chốn cõi khác, không gian khác, thời gian khác trong sự sáng tạo bất tận, hướng tới cái đẹp của con người, vì con người. Cảm hứng ở đấy và thách thức cũng ở đấy thôi, trong cái nghề văn vốn nhiều bão táp. Bởi thế, danh giá nhà văn không nằm ngoài tác phẩm. Tôi ít tự tin về mình có lẽ cũng vì lẽ đó. Vậy nên, khi kể lại câu chuyện trở thành nhà thơ ít nhiều tôi có vân vi. Ai công nhận danh hiệu đó cho mình? Mấy người cho nó xứng đáng với tôi, cái gọi là nhà thơ ấy? Tự nhủ, kể lại thành thật chặng chữ trong đời người mình may ra sẽ được chia sẻ, thông cảm. Đó cũng là hy vọng cho tương lai không dài lắm nữa, sau những ước mơ, hy vọng và thất vọng của nghề cầm bút cô đơn, chòng chành, vô định.

Cát. "Cát đi mãi chẳng thành đường/ Tôi đi theo lối mẹ thường hát ru"… Cát ở cuối dòng sông Gianh, tên cổ là Linh Giang, qua mẹ đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi. Người ta bảo cái làng Thanh Khê của tôi chỉ được “phát” về văn. Võ thì có phần lẹt đẹt, trải qua mấy cuộc chiến tranh tàn khốc, chẳng có nổi một vị tướng nào hết dù trai làng ra trận không ít. Cũng không ít người đã chết nơi hòm tên, mũi đạn. Một cái làng có 3 người là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, theo cách nghĩ thông thường thì cũng đáng tự hào đấy chứ. Hoàng Bình Trọng. Mai Văn Hoan. Và, tôi. Ba nhà văn sinh ra từ làng Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tôi, được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam từ đầu năm 2000 (danh sách của năm 1999), sau gần ba năm được tạp chí Văn nghệ quân đội “móc” từ Trường Sơn ra như cách nói vui vui của nhà thơ Trần Đăng Khoa hồi nào. Nhớ lại, đầu năm 1997, tôi rón rén bước qua hai cây đại ở cổng Nhà số 4 phố Lý Nam Đế, Hà Nội để trở thành biên tập viên Tạp chí Văn nghệ quân đội. Trước đó, tháng 12/1995, bài thơ "Bông huệ trắng" của tôi được in trên Tạp chí này và quá may mắn khi nó được tặng thưởng tác phẩm xuất sắc năm. Sau này, tôi được biết người trực tiếp biên tập tác phẩm đó là Vương Trọng và Trưởng ban Thơ lúc này là Nguyễn Đức Mậu. Tin vui bay về vùng đất Quảng Trị khắc bạc nơi đơn vị tôi đóng quân. Điều tôi không bao giờ nghĩ tới, chính xác là vậy, đã đến nhẹ nhàng và tự nhiên như thế. Tuy nhiên, bài thơ chẳng nhẹ nhàng chút nào cả vì nó chạm sâu vào nỗi buồn hậu chiến với sự mất mát, đau thương không kể xiết của dân tộc này: “Những người lính trở về têm cho mẹ miếng trầu cay/ giấc mơ mẹ đỏ tươi từng giọt máu/ những người lính trở về xòe tay trên bếp khói/ giấc mơ mẹ mình đơm óng ả hạt mùa chiêm/ những người lính trở về đánh rạ dọn rơm/ giấc mơ mẹ bay la dòng sữa trắng/ những người lính trở về cười ngượng nghịu/ giấc mơ người bật dậy tiếng oa oa…”. Tiếp đó, tôi được Văn nghệ Quân đội mời đi Trại viết ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Năm 1996, thêm một dấu mốc dẫn tôi đến với con đường văn chương “chuyên nghiệp”. Đêm tháng 5, giữa khuya khoắt, tiếng sóng từ biển Đồ Sơn dội vào tôi những thổn thức kỳ lạ. Hình như có cả sự bồn chồn nữa. Trong bóng tối, tự nhiên trước mắt tôi hiện lên hình ảnh những nấm mộ ở Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn. Rõ mồn một. Cứ như mình đang đứng dưới gốc bồ đề huyền thoại giữa bốn bề chỉnh tề đội hình bia mộ liệt sĩ. Và, những câu thơ như có ai đó đọc lên từ trong thăm thẳm: "Nằm kề nhau/ những nấm mộ giống nhau/ Mười nghìn bát hương, mười nghìn ngôi sao cháy/ Mười nghìn tiếng chuông ngân trong im lặng/ Mười nghìn trái tim neo ở đầu nguồn…”. Tôi bàng hoàng, ngồi dậy, bật đèn chép những câu thơ đang tuôn ra: “Mười nghìn Trường Sơn trong một Trường Sơn/ Mười nghìn lời ca trong bài ca lớn/ Mười nghìn cái tên đêm đêm mẹ nhắc/ Mười nghìn giấc mơ của mẹ chờ ta/ Mười nghìn con đò thương về bến đợi/ Mười nghìn hạt giống chưa về phù sa”…Biển hửng sáng cũng là lúc bài thơ làm xong với câu kết Mười nghìn khát vọng được về bên nhau. Tôi đặt tên cho thi phẩm là Khát vọng Trường Sơn. Bài thơ mang đến cho tôi vinh dự mới; "Khát vọng Trường Sơn" được xếp giải Nhì (không có giải Nhất) cùng Lương Ngọc An trong cuộc thi thơ của Văn nghệ quân đội năm 1996. Có lẽ, từ bài thơ này cộng với âm hưởng của Bông huệ trắng mà Văn nghệ quân đội muốn xin tôi về Tạp chí. Trước đó gần hai mươi năm, lúc tôi còn Trung sỹ, Tết Bính Thìn 1976 bài thơ đầu tiên của tôi đã được in vào Văn nghệ quân đội. Đó là một bài thơ hồn nhiên chất lính chỉ có 8 câu chia làm 2 khổ viết theo thể lục bát, mang tên "Trên đường hành quân". Với tôi, có lẽ chưa có mùa xuân nào vui như mùa xuân đó. Thời học cấp ba, tôi đã rất mê Văn nghệ quân đội và hay đọc ké của các anh bộ đội nghỉ lại mấy hôm ở Cự Nẫm (Bố Trạch, Quảng Bình) trước khi đi vào chiến trường miền Nam. Hình ảnh người chiến sĩ - nhà thơ thực sự ấn tượng với tôi qua những Chính Hữu, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Nhuận Cầm, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy…thời ấy. Tôi mê thơ các anh, những bài thơ đánh giặc như mọi người từng gọi. Thú thật, thế hệ chúng tôi khi ngồi trên ghế nhà trường phổ thông chủ yếu được đắm mình trong dòng thơ kháng chiến, thơ cách mạng, ít được đụng chạm vào các luồng thơ khác như lãng mạn của thời tiền chiến. Từ yêu mê đến mơ ước trở thành nhà thơ chiến sĩ chỉ là một khoảng cách rất gần. Và tôi lặng thầm viết. Những câu thơ thời học trò mơ mộng đã không mảy may còn lại chút dấu vết nào nữa, tội nghiệp thật, nhưng biết làm sao được. Trường hợp nhà thơ thiếu nhi như Trần Đăng Khoa, Hoàng Hiếu Nhân…là quá đặc biệt. Phần lớn, chắc cũng như chúng tôi, yêu thích văn chương, tập tểnh làm thơ viết văn thời mình còn quá trẻ để rồi không ít người thất vọng thoái lui. Với tôi, còn chút may mắn đấy. Con đường binh nghiệp gắn liền với con đường viết văn, làm báo. Những bài thơ đầu tiên được in trên các báo và tạp chí địa phương và Trung ương khi tôi đã mang áo lính. Năm 1974, chùm thơ 3 bài được in trên báo Trường Sơn, thời anh Phạm Tiến Duật làm việc ở đây. Năm 1975, bài thơ "Mưa" in trên Văn nghệ Quảng Bình. Như đã kể ở trên, năm 1976, bài thơ đầu tiên có mặt trên Văn nghệ quân đội và sau hai mươi năm tôi mới có được bài thơ thứ hai in ở đây. Nói thêm một chút, năm 1986 trên báo Văn nghệ đã in bài thơ "Có tình yêu trong ấy" của tôi. Quá bất ngờ. Tôi không trực tiếp gửi bài, nghe đâu chị Lâm Thị Mỹ Dạ (lúc ấy làm việc ở tạp chí Sông Hương) đã chọn và gửi ra Văn nghệ cho tôi.

Chỉ đến khi trở thành người của Nhà số 4, tôi mới có ý thức viết để được trở thành nhà thơ. Cái không gian nơi tôi gắn bó hai mươi năm ấy thực sự có ích với những người cầm bút như tôi. Tạp chí Văn nghệ quân đội thực sự là nơi giúp tôi trưởng thành trong nghề viết. Tôi biết con đường để trở thành nhà thơ thật dài và khúc khuỷu. Tuy nhiên, có thành công hay không chủ yếu ở mình. Bởi không ai viết thay cho mình được. Chỉ mình mới viết nên được những "Bông huệ trắng"; "Khát vọng Trường Sơn"…và những "Sinh ở cuối dòng sông"; "Hạ thủy những giấc mơ"…Nhắc đến tên tác phẩm đó những bạn đọc thân quen không thể không nhớ đến Nguyễn Hữu Quý. Tôi tin thơ cũng là đời, cái mình cất được trong thơ là cái mình giữ được trong đời. Day dứt quá khứ hay trăn trở hiện tại chất chứa trong mỗi trang viết, chung hay riêng cũng đều thế cả. Tôi bám riết vào hiện thực cuộc sống để viết như là trách nhiệm của người cầm bút. Trước hết với Tổ quốc, với nhân dân trong tư cách một người lính; tôi muốn giải bày tâm niệm đó không cần phải giấu diếm hoặc lên gân. Và chẳng có gì là không văn chương nghệ thuật cả khi ta dành phần lớn tâm huyết cho đề tài chiến tranh và người lính. Viết cũng là sống bằng những cảm nhận, thâu lọc trung thực, chân thành và đắm đuối. Viết cũng là học; học bạn, học thầy; học xưa, học nay; học dân tộc, học nhân loại…Viết là sáng tạo; sáng tạo để định hình cái riêng mình, cái duy nhất khó lẫn, không lẫn giữa đội ngũ, giữa đồng nghiệp. Viết là để soi hướng nội tâm về ánh sáng của cái thiện, hạnh phúc của con người được bảo hiểm bằng tự do đích thực, giá trị tinh thần không bị hạ thấp kinh rẻ.

Những đứa con tinh thần ra đời góp phần nhỏ bé vào đời sống văn chương Việt là niềm xúc động lớn lao của tôi. Tôi luôn hàm ơn con chữ đã cho tôi những vinh dự đẹp như từng được giải thưởng của Bộ Quốc phòng (3 lần), Hội Nhà văn Việt Nam, báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội, Nhà xuất bản Kim Đồng, Người Hà Nội, Cửa Việt…Tôi biết ơn bạn đồng nghiệp đã có những nhận xét, cổ vũ động viên. Những góc nhìn khác giúp tôi thấy rõ mình hơn. Và, chắc chắn rồi, tôi chưa thể bằng lòng thỏa mãn với những gì mình đã có trong tư cách một nhà thơ. Một nhà thơ đích thực, đúng nghĩa đòi hỏi nhiều hơn thế nữa. Con đường văn chương là bất tận, không có một cái đích cụ thể nào cả. Người ta viết khi không thể không viết và biết dừng lại khi tự thấy mình đã đuối sức, hụt hơi. Khi trở thành nhà thơ rồi không có nghĩa anh đã làm xong bổn phận của một người viết. Trước trang giấy trắng, tất cả lại là sự khởi đầu. Niềm mơ mới. Hứng khởi mới. Trăn trở mới. Vật vã mới. Hy vọng mới…Phía trước vẫn mung lung, vô định. Nhà thơ lại côi cút trên nẻo đường văn chương như một thân phận không thể đổi thay. Và có lẽ, nên thay câu hỏi “Tôi đã trở thành nhà thơ / nhà văn như thế nào? bằng câu hỏi: “Tôi đang trở thành nhà thơ / nhà văn như thế nào?” Trả lời cho kiểu câu hỏi thứ hai chẳng dễ dàng chút nào.

Tháng 6/ 2021,
NHQ
Nguồn: Tạp chí Văn nghệ quân đội số đầu tháng 7.2021.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Trang sách và mái trường” mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một sân chơi sáng tác
Bài phát biểu tại buổi lễ phát động cuộc thi viết về “ Trang sách & Mái trường”do Nhà xuất bảo Giáo dục Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh vào sáng ngày 12/6/2026
Xem thêm
Nhà văn Phố Giang với tác phẩm “Một dòng họ học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái”
Tôi sinh hoạt cùng anh ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM & Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, đã được anh tặng hai tác phẩm thơ: Hoa trái cuối mùa, 99 Khúc tình thơ và tác phẩm văn Một dòng họ Học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái. Kể từ năm 2004 đến nay, anh đã xuất bản 8 tác phẩm thơ và 4 tác phẩm văn. Thật đáng khâm phục và tự hào với bút lực phi thường và sự cần cù sáng tạo của anh.
Xem thêm
Hành trình đi, suy ngẫm và viết
Một hôm, nhà báo Tô Đình Tuân gửi cho tôi tập bản thảo khá dày. Tôi đọc và viết không chỉ vì tình cảm đồng nghiệp quen biết nhiều năm trong nghề báo, mà còn bởi tôi hiểu khá rõ con người và hành trình nghề nghiệp của tác giả. Đặc biệt, trong giai đoạn tôi được phân công làm Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, Tô Đình Tuân là một cộng sự đắc lực, luôn tận tâm, trách nhiệm và đầy nhiệt huyết với công việc.
Xem thêm
Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc: Từ người yêu nước đến “Đường kách mệnh”
Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành đến sự ra đời của Đường Kách mệnh, bài viết của PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ giúp người đọc nhìn lại một chặng đường lịch sử đặc biệt – nơi chủ nghĩa yêu nước gặp gỡ chủ nghĩa Mác – Lênin để hình thành tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh và mở lối cho dân tộc Việt Nam đi tới độc lập, tự do.
Xem thêm
Lại thêm một cuốn sách ồn ào
Những ồn ào quanh Chuyện với Thanh rồi sẽ qua đi. Nhưng câu chuyện về cách ứng xử với lịch sử, với văn học và với những khác biệt trong quan điểm tiếp nhận sẽ còn tiếp tục đặt ra. Một xã hội văn minh cần có những cuộc tranh luận văn hóa nghiêm túc. Và điều kiện đầu tiên của mọi cuộc tranh luận nghiêm túc là đọc trước khi phán xét, hiểu trước khi kết luận. Đó chính là thông điệp của người viết bài này. Chỉ khi đó, tiếng nói của lý trí mới không bị lấn át bởi sự ồn ào của đám đông.
Xem thêm
Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc
Trong suốt 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025), văn học, nghệ thuật Việt Nam đã không ngừng phát triển, đồng hành cùng công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trên nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng và truyền thống dân tộc, văn học, nghệ thuật đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, phản ánh hiện thực đời sống xã hội, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Xem thêm
Có một sự đồng điệu giữa văn hoá và nghệ thuật Việt-Pháp
Thierry kể về Paris những năm tuổi trẻ. Nhà của Thierry cách trường Sư phạm ENS Paris chừng mười lăm phút đi bộ. Ông nói về các quán cà phê nơi giới trí thức Pháp từng tranh luận thâu đêm, về những phòng tranh nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés, về Foucault với những suy tư sâu thẳm về con người và tự do. Khi nhắc đến Foucault, giọng ông chậm lại như đang nhớ về một người bạn cũ đã ra đi rất xa. Sau đó Thierry hỏi Tú rằng tại sao anh lại đến ven sông Sài Gòn để làm mỹ thuật.
Xem thêm
Văn học trong kỷ nguyên số
Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới và công nghệ mới, những thay đổi lớn đã diễn ra trong cách sáng tác và đọc văn học. Đặc biệt là sự phổ biến của văn học trực tuyến và đọc điện tử, đã làm thay đổi rất nhiều cấu trúc và hệ sinh thái văn học truyền thống. Trong cuộc cách mạng thông tin và truyền thông sâu rộng này, văn học thời đại số sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Xem thêm
Người trẻ và văn chương tìm đường gặp nhau
Trong thời đại số, chỉ với một cú chạm màn hình, giới trẻ có thể tiếp cận vô vàn nội dung giải trí và tri thức, khiến những trang văn cần đọc chậm, chiêm nghiệm dần đánh mất vị trí trung tâm trong thói quen tiếp nhận.
Xem thêm
Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Ngày nay, thông qua mạng xã hội và các phương tiện công nghệ, con người kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng một thực tại lại xảy ra: Dường như con người đang cô đơn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, văn học nghệ thuật được kỳ vọng là sợi dây hàn gắn liên kết giữa người với người. Liệu một cuốn sách có thể mang tới sự gắn kết? Từ những cuộc đối thoại trong chuỗi sự kiện Những ngày Văn học châu Âu 2026, câu hỏi ấy đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xem thêm
Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa cầm trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.
Xem thêm
Giữ trẻ em ở lại với văn chương
Áp lực học hành, nhịp sống gấp gáp và sức hút của giải trí số khiến trẻ em đang dần xa những trang sách. Để văn học thiếu nhi tìm lại vị trí trong đời sống hôm nay, điều quan trọng không nằm ở tác phẩm hay, mà ở môi trường đọc được nuôi dưỡng bền bỉ từ gia đình, nhà trường, người viết, nhà xuất bản và toàn xã hội. Từ đó, trẻ có thêm những khoảng lặng để mơ mộng, tưởng tượng và lớn lên cùng văn chương.
Xem thêm
AI “lên ngôi” văn đàn sẽ làm méo mó văn chương
Thuật toán AI khi được huấn luyện để “sáng tác” văn học thực chất là hành vi bóc lột sức lao động vốn hết sức vất vả, lao tâm khổ tứ của nhà văn, “cướp công” sáng tạo của họ. Trong khi đó, các ông chủ AI lại nghiễm nhiên hưởng lợi không chính đáng từ trí tuệ, mồ hôi, tâm sức lao động của nhà văn. Không chỉ vậy, khi những thuật toán AI lạnh lùng, vô cảm “sáng tạo” văn chương có thể sinh ra những đứa con tinh thần có hình hài nhưng không lành lặn sẽ dẫn đến sự dễ dãi, lệch lạc trong tiếp nhận tác phẩm của công chúng. Nguy hại nhất là AI có thể “giết chết” lý tưởng, khát vọng, động cơ, cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính của nhà văn. Nói mỉa mai, chua chát như một nhà văn, nếu để AI “lên ngôi” văn đàn thì nó không chỉ cướp “chiếc cần câu cơm” của nhà văn mà còn hủy hoại tương lai sự nghiệp sáng tác của họ.
Xem thêm
Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Xem thêm
Cần chấm dứt việc truy đuổi người vi phạm giao thông
Tết Bính Ngọ về thăm quê, mình chứng kiến một vụ tai nạn giao thông hơi vô lý. Một lão nông điều khiển xe máy đang chạy trên đường, chợt lão nghe tiếng còi hụ của xe CSGT phía sau, ngỡ là cảnh sát đuổi mình nên lão tăng tốc chạy nhanh hơn. Đến đoạn km 108, QL 20 thì bị lạc tay lái, xe lao vào lề đường té bổ nhào, khiến mặt mày và tay chân lão bê bết máu. Hai anh CSGT dừng xe đỡ lão dậy cùng với người dân mang dầu, băng cad sơ cứu. Trong lúc băng lại vết thương, hai anh cảnh sát nói với lão nông và mọi người rằng, các anh chỉ truy đuổi xe của nam thanh niên vi phạm chứ không phải đuổi xe lão nông này. Do lão hoảng quá, cố chạy nhanh nên gây ra tai nạn. Sau đó ông lão được đưa vào bệnh viện chữa trị. Rất may là ông già này chỉ bị thương nhẹ nên xuất viện một ngày sau đó.
Xem thêm
Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành hiệu quả
Mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều khởi nguồn từ sự giao thoa tất yếu giữa ý chí của Đảng và khát vọng của nhân dân. Ý chí tại Đại hội XIV không chỉ đơn thuần là hệ thống văn kiện chính trị, mà là sự kết tinh cao độ giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực dự báo chiến lược tài tình và khát vọng cháy bóng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Quyết sách của Đảng là thành quả của một quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, dưới ánh sáng của lý luận khoa học và tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc.
Xem thêm
Biết không hay sao vẫn lao vào?
Trong lĩnh vực văn học, đã có trường hợp sử dụng AI để sáng tác đăng báo, thậm chí in thành sách. Dẫu biết, khi sử dụng AI, tác phẩm sẽ thiếu cảm xúc, khó tạo nên giọng điệu riêng, nhưng vì lợi nhuận, vì sốt ruột nổi tiếng, người ta vẫn lao vào.
Xem thêm
Chuyên đề: Chống AI lũng đoạn văn chương
Không còn là chuyện có nên hay không sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tác văn học nữa, mà thực tế đang đặt ra yêu cầu ứng phó với việc lợi dụng, lạm dụng AI để tạo nên những sản phẩm mang tên tác giả cụ thể nhưng không thấm mồ hôi của lao động nghề nghiệp, không “đóng dấu” được bản sắc của người viết.
Xem thêm
Thời cơ mới cho sáng tạo văn học - nghệ thuật
Năm 2025 là một năm in dấu đậm trong lịch sử phát triển của đất nước, không chỉ bởi kỉ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mà còn là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị - xã hội quan trọng; kịp thời nhìn lại những tác động xã hội nhiều mặt, đồng thời rút ra nhiều vấn đề đáng và cần để tổ chức tốt hơn cho hoạt động kỉ niệm 100 năm ra đời của Đảng (1930 - 2030), 100 năm ra đời của chế độ mới (1945 - 2045) với nội dung thiết thực, nhiều hình thức mới mẻ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xem thêm