TIN TỨC

Cháu giờ ở đâu, hãy về với ngoại!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-12 08:00:31
mail facebook google pos stwis
2190 lượt xem

BÀI HƯỞNG ỨNG CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

TRẦM HƯƠNG

Bà mẹ VNAH Hồ Thị Nói, sinh năm 1930, xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi. Mẹ có chồng và hai con hy sinh. Chồng mẹ - ông Phan Văn Huyện- Xã đội trưởng Phú Mỹ Hưng, hy sinh ở Đồng Lớn, Trung Lập Thượng vào ngày 29 tết năm 1968. Hai con gái mẹ- chị Phan Thị Liên hy sinh để lại đứa con gái mới 5 tháng tuổi. Chị Phan Thị Hòa là quân y sĩ, hy sinh ngày 21 tháng 8 năm 1969.

Tôi biết cho đến giờ, mẹ vẫn còn khắc khoải, đau lòng mỗi khi nghĩ đến đứa cháu mồ côi…

Khi tôi tìm đến nhà mẹ Hồ Thị Nói tại Xã Phú Mỹ Hưng, Củ Chi thì mẹ đang đi kiếm nấm trắng ngoài vườn. Trong lúc đợi đứa cháu đi tìm mẹ, chị Phan Thị Hiệp, con gái thứ hai của mẹ tiếp tôi, cởi mở, chân tình. Hình ảnh của một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng với thương khó, hy sinh, chịu đựng dần hiện lên, đầy đặn qua những dòng ghi chép trong quyển sổ tay. Tôi bước vào phòng khách ngôi nhà mẹ. Cũng giống như bao căn phòng khách ở Củ Chi, góc trang trọng nhất dành cho những người đã khuất. Những tấm bằng Tổ quốc ghi công và danh hiệu Bà mẹ VNAH được đặt nơi trang trọng nhất ngôi nhà đã nói lên tất cả: Mẹ Hồ Thị Nói, có chồng và hai con đều ngã xuống cho Tổ quốc. Chị Phan Thị Hiệp - con gái thứ ba của mẹ Hồ Thị Nói kể về mẹ: “Cha tôi đi kháng chiến. Một mình mẹ một nách nuôi bảy đứa con thơ. Hồi xưa vùng đất này có nhiều bưng, suối; hoang vu lắm. Để cách mạng không còn đất sống, địch đã ném bom, rải chất độc khai hoang, biến nơi này thành đất trắng. Hòa bình, bà con về cày cấy, lập vườn, làng xóm mới xanh tươi trở lại”. Quả thật như lời chị Hiệp nói, ấp Phú Lợi, xã Phú Mỹ Hưng ngày nay đã được đô thị hóa. Những ngôi nhà gạch khang trang ẩn mình trong những vườn cây xanh mát. Nhiều dãy nhà phố cũng sát nhau…

Cháu ngoại của mẹ Hồ Thị Nói lùng sục khu vườn ngoài vườn một lúc mới tìm thấy bà ngoại. Tôi thực sự kinh ngạc vì vẻ đẹp phúc hậu của mẹ. Dưới vành chiếc nón lá đã cũ, rách nát; gương mặt mẹ bừng sáng lên ngọn lửa ấm áp của sự hiếu khách, gần gũi của những bà mẹ Củ Chi. Mẹ ôm bó măng, để giữa sân nhà, ra sàn nước rửa tay, rồi bước vào phòng khách, trách nhẹ: “Phải chi tụi con báo cho má biết, má ở nhà, đâu có đi hái măng, hái nấm trắng làm chi để tụi con phải đợi!”. Tôi lại rất muốn cùng mẹ hái măng, hái nấm trắng; nên đề nghị được mẹ đưa đi…

Ở tuổi 82, mắt mẹ vẫn còn rất tinh, phát hiện ra những cây nấm trắng. Mẹ vẫn còn hái măng thoăn thoắt. Những năm tháng lao động tần tảo nuôi con cho chồng đi đánh giặc đã giúp mẹ có được sự nhanh nhẹn, tráng kiện, dẻo dai ở độ tuổi thuộc hàng "xưa nay hiếm".  Mẹ ngồi nghỉ mệt bên bờ suối, ven cánh rừng, giỡ chiếc nón lá cũ, rách ra làm quạt. Mẹ kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng đau thương của đời người. Mẹ kể những ngày Củ Chi bị biến thành vùng đất trắng, mẹ dẫn đàn con về ấp Đồng Lớn, ở đậu một nhà quen. Giặc càn vào, bắt mẹ dẫn lính vô rừng, để nếu có trúng mìn hay lựu đạn do du kích gài, bảo vệ căn cứ; mẹ là người chết trước. Mẹ không chịu đi, địch dùng báng súng đánh vào hai chân. Mẹ không đi nổi sau trận đòn, lếch về nhà. Không chỉ chống chọi với kẻ thù, mẹ còn lao vào cuộc chiến chống đói nghèo. Mẹ là cây cột chống trời, che chở, cưu mang cho đàn con bảy đứa. Mẹ giỡ đất hoang, cấy lúa, đánh đu tính mạng với bom mìn. Thương mẹ, lúa lên xanh, trỉu hạt. Làm ba năm, mẹ trả đất, mua dây ruộng cho con…

Có ruộng, có lúa, con no, mẹ mới giúp được chồng, con lo việc nước. Chồng mẹ, ông Phan Văn Huyện phụ trách đào một đoạn địa đạo. Chị Phan Thị Liên - con gái đầu của mẹ rất thương cha, hướng ứng lời cha mình vận động, xung phong đào địa đạo. “Cha con nó đào địa đạo thì mình cũng phải làm cái gì chớ!”. Mẹ nhớ những ngày bưng rổ khoai mì ra địa đạo, tiếp tế cho cho con gái cùng đồng đội của con. “Củ Chi này còn đọt mì cũng đánh Mỹ. Mấy củ khoai mì cũng nuôi chí lớn tụi nhỏ đánh giặc. Mì cũng không đủ cho tụi nó ăn!”. Mẹ nhớ thời ấy ở Phú Mỹ Hưng chưa có nhà máy xay gạo. Khuya về, chị Liên giúp mẹ xay gạo bằng cối xay bằng tay, cung cấp lương thực cho bộ đội. Khi Mỹ tràn vô xóm làng, mẹ đưa gia đình đi tản cư qua sông Rạch Kiến, Rạch Bắp, tận bên Bình Dương. Những năm tản cư, gánh nặng mưu sinh dồn lên đôi vai mẹ. Ai mướn gì mẹ làm nấy. Mẹ mua từng trái khổ qua, bầu mướp, dưa gánh gồng ra chợ bán. Vậy mà mỗi khi ở địa phương kêu gọi đi đấu tranh chính trị, mẹ liền gánh gồng, hòa vào đoán người đấu tranh. Mẹ kể mẹ bị địch bắt, đánh đập, lột nón, lột áo nhiều lần. Mẹ Hồ Thị Nói hào hứng kể những kỷ niệm đấu tranh chính trị, bị giặc bắt, đánh đập nhưng mẹ và bà con không chùn bước…

Nỗi đau thương, mất mát lần lượt phủ lên đời mẹ. Chồng mẹ, ông Phan Văn Huyện - Xã đội trưởng ở phú Mỹ Hưng, hy sinh ở Đồng Lớn, Trung Lập Thượng vào ngày 29 tết năm 1968. Người xã đội trưởng kiên cường năm ấy cùng một nữ du kích ở An Nhơn Tây nấp dưới căn hầm bí mật. Do có chỉ điểm, địch phát hiện ra căn hầm, kêu gọi ông Huyện đầu hàng. Ông Huyện và chị Hằng kiên quyết tử thủ. Địch ném lựu đạn xuống căn hầm, ông Huyện và chị Hằng cùng hy sinh. Cả hai người liệt sĩ được đồng bào chôn ở Đồng Lớn, Trung Lập thượng. Mãi đến ngày hòa bình, mẹ mới có điều kiện đưa hài cốt chồng về nghĩa trang liệt sĩ…

Lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, những người con gái của mẹ dù rất xinh đẹp, đảm đang lập lại số phận gian truân của mẹ. Khi quê hương, làng xóm bị bom đạn Mỹ giày xéo, những người mẹ, người chị Củ Chi cũng không yên lòng sống bên cạnh chồng, con. Chị Phan Thị Liên - con gái của mẹ Hồ Thị Nói từng tham gia du kích mật, đào địa đạo đánh giặc, gặp gỡ, yêu thương một du kích. Họ nên vợ nên chồng bằng một đám tuyên bố giản dị. Chị Liên có mang được bốn tháng, chồng hy sinh. Mẹ đến thăm con gái, an ủi con, cùng hòa những giọt nước mắt khóc chồng với con gái. Mẹ đã trải qua nỗi khổ đau, mất mát khi chồng hy sinh nên mẹ hiểu được nỗi hẫng hụt, trống vắng của người vợ mất chồng. Tất cả tình thương, mẹ dồn vào đứa cháu gái bé bỏng. Mẹ đặt tên cháu là Hạnh, mong đứa trẻ lớn lên là một cô gái đoan trang, đức hạnh, được sống trong hạnh phúc. Mẹ đâu hay bão giông đang giằng xé lòng chị Liên. Một bên là trách nhiệm nuôi nấng đứa con còn ẵm ngữa; một bên là tiếng gọi non nước. Chị Hạnh được gọi đi học khóa quân y sĩ. Hiểu được nỗi lo lắng, giằng xé trong lòng con gái, mẹ nhận phần nuôi cháu ngoại, động viên con gái lên đường…

Con đi rồi, mẹ ở lại vùng địch chiếm, làm thuê mướn, mua gánh bán bưng, tần tảo nuôi cháu ngoại. Trên đường đi công tác, chị Liên bị một chiếc xe hàng Mỹ đâm vào. Chị hy sinh, để lại đứa con bé bỏng mới 5 tháng tuổi và ước mơ trở thành y bác sĩ phục vụ cho đồng bào, chiến sĩ. Chị Liên hy sinh, mẹ Hồ Thị Nói thay con gái làm mẹ. Nhiều đêm mẹ nhớ con, mơ thấy con trở về. Con gái mẹ rất siêng năng, ai cũng yêu quý. Mẹ nhớ chị Liên đã cùng đào địa đạo trong lòng đất với đồng đội, tham gia làm giao liên, du kích mật. Chị đòi đi thoát ly từ năm 15 tuổi nhưng mẹ cứ lần lữa, không nỡ xa con gái. Khi chồng chị Liên hy sinh, mẹ biết ước nguyện của  chị là được thoát ly làm cách mạng, thay chồng đánh Mỹ. Mẹ biết con gái Củ Chi rất gan lỳ, dũng cảm; đã quyết thì không thể ngăn được. Thương con gái, mẹ đã nhận phần nuôi cháu ngoại, như một sự chia sẻ thầm lặng của tình mẹ.

Chị Liên nằm lại Xóm Trại, xã Phú Thuận, Tây Ninh. Mãi đến ngày hòa bình, mẹ mới đưa được hài cốt chị Liên về quy tập ở nghĩa trang liệt sĩ quê nhà. Bất chấp bom đạn tơi bời, bất chấp sự khác nghiệt của cuộc chiến tranh, những người con gái Củ Chi lớn lên, xinh đẹp. Nhan sắc của những người con gái của mẹ ngày càng trở thành nỗi lo lắng, bất an của mẹ. Lính tráng, sĩ quan luôn rình rập trước nhà mẹ, không chỉ để rình “Việt Cộng” mà còn giăng bẫy những cô gái ngây thơ, trong trắng. Mẹ mừng vì theo gương chiến đấu của người cha liệt sĩ, hai con gái còn lại của mẹ: chị Phan Thị Nguyệt, Phan Thị Hòa thoát ly làm cách mạng. Như bao bà mẹ Củ Chi thương khó, mộc mạc khác; mẹ chuẩn bị cho mỗi chị cái bòng, đựng vài bộ quần áo bằng ni-lông, chiếc võng, ít tiền dằn túi. Mẹ còn chắt chiu cho mỗi chị đôi bông, chiếc nhẫn; như ngày xưa mẹ đã chắt chiu từng đồng lời, mua tặng cho chị Phan Thị Liên. Những thứ trông nhỏ nhoi, tầm thường ấy là cả gia tài của người mẹ yêu thương con, trong hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến tranh. Mẹ nhìn theo dáng con đi, nén lại đau thương, bịn rịn; vừa tự hào vì con mẹ đã chọn lựa con đường cách mạng như chồng mẹ năm xưa. Đêm đêm, mẹ thao thức, dõi theo bước chân con. Mẹ không khỏi lo lắng, đau thắt lòng khi nghe tin chiến sự diễn ra ở đâu đó. Dự cảm người mẹ về sự mất mát đã trở thành sự thật, khi ngày 21 tháng 8 năm 1969, mẹ nhận được tin chị Phan Thị Hòa hy sinh.

Mẹ Hồ Thị Nói ngồi trên bộ ván chậm rãi ngoái trầu, nhìn lên góc nhà dành cho chồng và hai con đã hy sinh. Những tấm bằng Tổ quốc ghi công hiển hiện trước mắt mẹ. Mẹ thở dài, tiếc nuối nói với tôi: “Hồi đó nghèo quá, cắm đầu lo làm ăn, tránh bom đạn, không ai có hình hết. Con Liên có tấm hình trong căn cước. Con nó mang về họa, để thờ nhưng rồi thất lạc luôn. Phải chi như bây giờ, máy chụp hình kiếm dễ ợt, mẹ chụp mấy tấm hình cho chồng con, để có bức ảnh thờ!”. Nhưng ký ức mẹ thì lưu giữ không phai mờ hình ảnh của chồng, con. Hôm ấy, trên đường công tác, quân Mỹ càn vô xóm, gom dân đi. Một trái cối của biệt kích bắn vào xóm, chị Hòa gục xuống. Chị Hòa nằm trên cánh đồng mùa lúa chín, mắt nhìn lên bầu trời xanh, mãi không khép lại được vì còn quá nhiều những ước mơ cho quê hương đất nước, cho mẹ chưa làm được. Hay tin, mẹ và những đứa em tìm đến Đồng Lớn, Trung Lập Thượng, tìm xác chị Hòa. Mẹ đỡ chị Hòa lên, vuốt mắt cho con gái. Cơ thể chị còn ngún khói miểng pháo. Máu chị Hòa thấm xuống mãnh đất Củ Chi, khi mới 17 tuổi. Chị Phan Thị Nguyệt, em gái chị Hòa kể: “Hai chị em được mẹ cho thoát ly. Tôi vào văn công, chị Hòa vào y tá. Tôi đâu ngờ khi chọn ngành phục vụ cách mạng là chúng tôi cũng đã chọn số phận cho mình!”.

Những năm cuối đời, mẹ còn lại niềm day dứt, khi số phận đứa cháu ngoại không được may mắn, suôn sẻ. Do chị Phan Thị Liên hy sinh, bên nội bắt cháu về nuôi. Đứa bé tuột khỏi vòng tay yêu thương của bà ngoại. Cháu Hương lấy chồng sớm, như câu ca buồn “Bướm vàng đậu cánh mù u, lấy chồng sớm làm gì… để lời ru thêm buồn”. Hôn nhân đổ vỡ, Hương phiêu bạt nơi nào chẳng rõ. Số phận không may mắn của Hương làm mẹ day dứt, trước vong linh của con gái và người chồng đã ngã xuống cho Tổ quốc. Những đứa bé mồ côi cha mẹ trong chiến tranh không tránh khỏi những thiệt thòi, mất mát. Mẹ đã cố gắng làm tất cả để bù đắp cho cháu nhưng mẹ bất lực hiểu một đứa trẻ lớn lên, trưởng thành đâu phải chỉ cần cơm áo mà cần lắm tình yêu thương của cha mẹ. Nhưng cha mẹ Hương đều hy sinh khi cháu còn bé xíu, không gì bù đắp nổi khoảng trống vắng trong lòng đứa trẻ sớm mất người thân. Mẹ mong ngày giỗ sắp tới của chị Phan Thị Liên, đứa con mồ côi của chị sẽ tìm về quê ngoại, thắp cho mẹ nén hương tưởng niệm. Mẹ mong gặp lại đứa cháu ngoại của mình để nói: “Dù con đi đâu, ở chân trời nào, bà ngoại vẫn yêu thương con, vẫn mong con quay về…”. Mẹ ngồi thẩn thờ bên dòng suối, gương mặt đượm buồn với tiếng gọi: “Hương ơi, cháu giờ ở đâu, hãy về với ngoại. Ngoại đã già rồi, rất mong được gặp cháu, cháu ơi!”.
 

Ở tuổi 82, mẹ Hồ Thị Nói ngày đêm khắc khoải với cuộc đời không suôn sẻ của đứa cháu ngoại sớm mồ côi cha mẹ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm
Nén hương lòng nơi biên giới thân yêu - Tản văn Vũ Mạnh Định
Những ngày cuối năm, khi đất trời bắt đầu chuyển mình sang một nhịp chậm hơn, tôi có dịp dừng chân trước nghĩa trang liệt sĩ Hội Phú - vùng đất nơi tôi mới nhận công tác. Khói hương bảng lảng trong gió lạnh, những hàng bia trắng lặng im giữa không gian tĩnh mịch khiến lòng tôi chợt chùng xuống. Giữa khoảnh khắc tưởng niệm ấy, ký ức bất chợt đưa tôi trở về Đức Cơ - vùng biên giới đầy nắng gió, nơi những cánh rừng cao su mỗi độ cuối năm lại đồng loạt thay lá, nhuộm vàng cả một khoảng trời.
Xem thêm
Về làng Thụy Khê thăm nhà thờ Phan Huy Chú
Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.
Xem thêm
Có một tinh thần sáng tạo độc lập như thế tại Việt Nam
Tiệm phở của Anh Hai (Brother Hai’s Pho Restaurant) là tựa game nổi tiếng thời gian gần đây của một lập trình viên bí ẩn với biệt danh marisa0704, vốn là sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT), Đại học Bách khoa Hà Nội được truyền cảm hứng từ Flappy Bird của nhà lập trình độc lập từ hơn 10 năm trước. Như một sự ngẫu nhiên, nếu nhìn lại những kết quả của các nghệ sĩ trẻ trong các lĩnh vực mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu - kịch, xuất bản và đặc biệt là âm nhạc thì trong hơn một thập kỷ qua, họ đã thực sự sống với tinh thần sáng tạo, thử nghiệm độc lập.
Xem thêm
Lâm Xuân Thi – Người chọn đứng phía sau những điều tử tế
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TPHCM số ra ngày 01/01/2026
Xem thêm
Vị của mùa Đông - Tản văn Đinh Thu Huế
Mùa đông lẻn vào lòng thành phố bằng những bước chân không tiếng động, chỉ để lại dấu vết qua cái rùng mình của cơn gió bấc và sắc màu trầm mặc trên vòm không. Với tôi, mùa đông không chỉ là một khái niệm thời tiết, nó là một “vị” riêng biệt - vị của ký ức, của sự tĩnh lặng và của những triết lý nhân sinh được gói ghém trong cái lạnh căm căm.
Xem thêm
“Ăn mày laptop”- Thắp sáng niềm tin cuộc đời
Trong thời đại số, khi mạng xã hội thường bị nhìn như nơi ồn ào và nhiễu loạn, dự án “Ăn mày laptop” của Trần Trọng An lại cho thấy một khả năng khác: kết nối lòng tử tế bằng sự minh bạch, kiên trì và nhân ái.
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam
Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.
Xem thêm
Văn chương gìn giữ văn hóa đọc
​Sách và văn hóa đọc đã góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa quốc gia, dân tộc, phát triển năng lực cá nhân thông qua ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ kết nối, truyền bá và lưu giữ những giá trị bất biến ngàn đời. Trong đó, văn chương cũng là một kênh đọc rất hữu hiệu, giàu tính nhân văn, nhân bản được nhân loại tụng ca.
Xem thêm
Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…
Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Xem thêm
Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc
“Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm
Ký ức về bố – Bút ký Vũ Mạnh Định
Pleiku những ngày này mưa dầm dề do ảnh hưởng bão. Mưa trắng xóa cả bầu trời, gió hun hút qua hàng cây phủ kín cả phố núi. Tiếng mưa khiến lòng tôi chùng xuống, ký ức bất chợt ùa về. Mưa như tấm màn xám phủ trùm đất trời, có khi kéo dài cả tháng không dứt. Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu nỗi buồn của những cơn mưa, chỉ nhớ nó dai dẳng đến mức sáng hay chiều cũng nhập nhòe một màu xám đục. Nhưng chính sự dầm dề ấy lại trở thành lát cắt đặc biệt của tuổi thơ, để sau này, mỗi lần nghe mưa nơi khác, tôi ngỡ như vừa chạm vào những ngày Pleiku xưa cũ, ngày mưa dài đến mức thời gian như ngưng đọng.
Xem thêm
Một Việt Nam nhân hậu giữa bão lũ và nước mắt
Giữa màn đêm bị xé toang bởi gió, nước và tiếng kêu cứu, người ta lại nhìn thấy những điều kỳ diệu khác: tình người, sự hy sinh, lòng nhân hậu – những phẩm chất làm nên cốt cách vĩ đại của dân Việt.
Xem thêm
Hai vị đại tướng Nam Bộ qua bút ký của nhà văn Trần Thế Tuyển
Lịch sử QĐND VN có nhiều vị tướng huyền thoại. Trên mảnh đất Phương Nam - Nam Bộ cũng có những vị tướng như thế. Đặc điểm chung của các vị tướng Nam Bộ là sống hết mình: Hết mình vì đất nước, nhân dân; hết mình về đồng đội, bạn bè; sống chân thật, thuỷ chung …mà người đời thường gọi là “Ông Già Nam Bộ”.
Xem thêm
Sương rơi trên lá non - Tản văn Hồng Loan
Có những đoạn đời, ta đi qua như kẻ mộng du giữa những vết xước của chính mình. Mỗi ngày trôi, ta tưởng mình vẫn sống, nhưng kỳ thực chỉ là đang lặp lại những hơi thở cũ, nhạt nhòa và vô nghĩa. Tổn thương không chỉ làm ta đau, nó khiến ta lãng quên, quên mất rằng mình từng có một tâm hồn trong trẻo, từng biết rung động trước điều nhỏ bé nhất trong đời.
Xem thêm