TIN TỨC

Cháu giờ ở đâu, hãy về với ngoại!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-12 08:00:31
mail facebook google pos stwis
2394 lượt xem

BÀI HƯỞNG ỨNG CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

TRẦM HƯƠNG

Bà mẹ VNAH Hồ Thị Nói, sinh năm 1930, xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi. Mẹ có chồng và hai con hy sinh. Chồng mẹ - ông Phan Văn Huyện- Xã đội trưởng Phú Mỹ Hưng, hy sinh ở Đồng Lớn, Trung Lập Thượng vào ngày 29 tết năm 1968. Hai con gái mẹ- chị Phan Thị Liên hy sinh để lại đứa con gái mới 5 tháng tuổi. Chị Phan Thị Hòa là quân y sĩ, hy sinh ngày 21 tháng 8 năm 1969.

Tôi biết cho đến giờ, mẹ vẫn còn khắc khoải, đau lòng mỗi khi nghĩ đến đứa cháu mồ côi…

Khi tôi tìm đến nhà mẹ Hồ Thị Nói tại Xã Phú Mỹ Hưng, Củ Chi thì mẹ đang đi kiếm nấm trắng ngoài vườn. Trong lúc đợi đứa cháu đi tìm mẹ, chị Phan Thị Hiệp, con gái thứ hai của mẹ tiếp tôi, cởi mở, chân tình. Hình ảnh của một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng với thương khó, hy sinh, chịu đựng dần hiện lên, đầy đặn qua những dòng ghi chép trong quyển sổ tay. Tôi bước vào phòng khách ngôi nhà mẹ. Cũng giống như bao căn phòng khách ở Củ Chi, góc trang trọng nhất dành cho những người đã khuất. Những tấm bằng Tổ quốc ghi công và danh hiệu Bà mẹ VNAH được đặt nơi trang trọng nhất ngôi nhà đã nói lên tất cả: Mẹ Hồ Thị Nói, có chồng và hai con đều ngã xuống cho Tổ quốc. Chị Phan Thị Hiệp - con gái thứ ba của mẹ Hồ Thị Nói kể về mẹ: “Cha tôi đi kháng chiến. Một mình mẹ một nách nuôi bảy đứa con thơ. Hồi xưa vùng đất này có nhiều bưng, suối; hoang vu lắm. Để cách mạng không còn đất sống, địch đã ném bom, rải chất độc khai hoang, biến nơi này thành đất trắng. Hòa bình, bà con về cày cấy, lập vườn, làng xóm mới xanh tươi trở lại”. Quả thật như lời chị Hiệp nói, ấp Phú Lợi, xã Phú Mỹ Hưng ngày nay đã được đô thị hóa. Những ngôi nhà gạch khang trang ẩn mình trong những vườn cây xanh mát. Nhiều dãy nhà phố cũng sát nhau…

Cháu ngoại của mẹ Hồ Thị Nói lùng sục khu vườn ngoài vườn một lúc mới tìm thấy bà ngoại. Tôi thực sự kinh ngạc vì vẻ đẹp phúc hậu của mẹ. Dưới vành chiếc nón lá đã cũ, rách nát; gương mặt mẹ bừng sáng lên ngọn lửa ấm áp của sự hiếu khách, gần gũi của những bà mẹ Củ Chi. Mẹ ôm bó măng, để giữa sân nhà, ra sàn nước rửa tay, rồi bước vào phòng khách, trách nhẹ: “Phải chi tụi con báo cho má biết, má ở nhà, đâu có đi hái măng, hái nấm trắng làm chi để tụi con phải đợi!”. Tôi lại rất muốn cùng mẹ hái măng, hái nấm trắng; nên đề nghị được mẹ đưa đi…

Ở tuổi 82, mắt mẹ vẫn còn rất tinh, phát hiện ra những cây nấm trắng. Mẹ vẫn còn hái măng thoăn thoắt. Những năm tháng lao động tần tảo nuôi con cho chồng đi đánh giặc đã giúp mẹ có được sự nhanh nhẹn, tráng kiện, dẻo dai ở độ tuổi thuộc hàng "xưa nay hiếm".  Mẹ ngồi nghỉ mệt bên bờ suối, ven cánh rừng, giỡ chiếc nón lá cũ, rách ra làm quạt. Mẹ kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng đau thương của đời người. Mẹ kể những ngày Củ Chi bị biến thành vùng đất trắng, mẹ dẫn đàn con về ấp Đồng Lớn, ở đậu một nhà quen. Giặc càn vào, bắt mẹ dẫn lính vô rừng, để nếu có trúng mìn hay lựu đạn do du kích gài, bảo vệ căn cứ; mẹ là người chết trước. Mẹ không chịu đi, địch dùng báng súng đánh vào hai chân. Mẹ không đi nổi sau trận đòn, lếch về nhà. Không chỉ chống chọi với kẻ thù, mẹ còn lao vào cuộc chiến chống đói nghèo. Mẹ là cây cột chống trời, che chở, cưu mang cho đàn con bảy đứa. Mẹ giỡ đất hoang, cấy lúa, đánh đu tính mạng với bom mìn. Thương mẹ, lúa lên xanh, trỉu hạt. Làm ba năm, mẹ trả đất, mua dây ruộng cho con…

Có ruộng, có lúa, con no, mẹ mới giúp được chồng, con lo việc nước. Chồng mẹ, ông Phan Văn Huyện phụ trách đào một đoạn địa đạo. Chị Phan Thị Liên - con gái đầu của mẹ rất thương cha, hướng ứng lời cha mình vận động, xung phong đào địa đạo. “Cha con nó đào địa đạo thì mình cũng phải làm cái gì chớ!”. Mẹ nhớ những ngày bưng rổ khoai mì ra địa đạo, tiếp tế cho cho con gái cùng đồng đội của con. “Củ Chi này còn đọt mì cũng đánh Mỹ. Mấy củ khoai mì cũng nuôi chí lớn tụi nhỏ đánh giặc. Mì cũng không đủ cho tụi nó ăn!”. Mẹ nhớ thời ấy ở Phú Mỹ Hưng chưa có nhà máy xay gạo. Khuya về, chị Liên giúp mẹ xay gạo bằng cối xay bằng tay, cung cấp lương thực cho bộ đội. Khi Mỹ tràn vô xóm làng, mẹ đưa gia đình đi tản cư qua sông Rạch Kiến, Rạch Bắp, tận bên Bình Dương. Những năm tản cư, gánh nặng mưu sinh dồn lên đôi vai mẹ. Ai mướn gì mẹ làm nấy. Mẹ mua từng trái khổ qua, bầu mướp, dưa gánh gồng ra chợ bán. Vậy mà mỗi khi ở địa phương kêu gọi đi đấu tranh chính trị, mẹ liền gánh gồng, hòa vào đoán người đấu tranh. Mẹ kể mẹ bị địch bắt, đánh đập, lột nón, lột áo nhiều lần. Mẹ Hồ Thị Nói hào hứng kể những kỷ niệm đấu tranh chính trị, bị giặc bắt, đánh đập nhưng mẹ và bà con không chùn bước…

Nỗi đau thương, mất mát lần lượt phủ lên đời mẹ. Chồng mẹ, ông Phan Văn Huyện - Xã đội trưởng ở phú Mỹ Hưng, hy sinh ở Đồng Lớn, Trung Lập Thượng vào ngày 29 tết năm 1968. Người xã đội trưởng kiên cường năm ấy cùng một nữ du kích ở An Nhơn Tây nấp dưới căn hầm bí mật. Do có chỉ điểm, địch phát hiện ra căn hầm, kêu gọi ông Huyện đầu hàng. Ông Huyện và chị Hằng kiên quyết tử thủ. Địch ném lựu đạn xuống căn hầm, ông Huyện và chị Hằng cùng hy sinh. Cả hai người liệt sĩ được đồng bào chôn ở Đồng Lớn, Trung Lập thượng. Mãi đến ngày hòa bình, mẹ mới có điều kiện đưa hài cốt chồng về nghĩa trang liệt sĩ…

Lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, những người con gái của mẹ dù rất xinh đẹp, đảm đang lập lại số phận gian truân của mẹ. Khi quê hương, làng xóm bị bom đạn Mỹ giày xéo, những người mẹ, người chị Củ Chi cũng không yên lòng sống bên cạnh chồng, con. Chị Phan Thị Liên - con gái của mẹ Hồ Thị Nói từng tham gia du kích mật, đào địa đạo đánh giặc, gặp gỡ, yêu thương một du kích. Họ nên vợ nên chồng bằng một đám tuyên bố giản dị. Chị Liên có mang được bốn tháng, chồng hy sinh. Mẹ đến thăm con gái, an ủi con, cùng hòa những giọt nước mắt khóc chồng với con gái. Mẹ đã trải qua nỗi khổ đau, mất mát khi chồng hy sinh nên mẹ hiểu được nỗi hẫng hụt, trống vắng của người vợ mất chồng. Tất cả tình thương, mẹ dồn vào đứa cháu gái bé bỏng. Mẹ đặt tên cháu là Hạnh, mong đứa trẻ lớn lên là một cô gái đoan trang, đức hạnh, được sống trong hạnh phúc. Mẹ đâu hay bão giông đang giằng xé lòng chị Liên. Một bên là trách nhiệm nuôi nấng đứa con còn ẵm ngữa; một bên là tiếng gọi non nước. Chị Hạnh được gọi đi học khóa quân y sĩ. Hiểu được nỗi lo lắng, giằng xé trong lòng con gái, mẹ nhận phần nuôi cháu ngoại, động viên con gái lên đường…

Con đi rồi, mẹ ở lại vùng địch chiếm, làm thuê mướn, mua gánh bán bưng, tần tảo nuôi cháu ngoại. Trên đường đi công tác, chị Liên bị một chiếc xe hàng Mỹ đâm vào. Chị hy sinh, để lại đứa con bé bỏng mới 5 tháng tuổi và ước mơ trở thành y bác sĩ phục vụ cho đồng bào, chiến sĩ. Chị Liên hy sinh, mẹ Hồ Thị Nói thay con gái làm mẹ. Nhiều đêm mẹ nhớ con, mơ thấy con trở về. Con gái mẹ rất siêng năng, ai cũng yêu quý. Mẹ nhớ chị Liên đã cùng đào địa đạo trong lòng đất với đồng đội, tham gia làm giao liên, du kích mật. Chị đòi đi thoát ly từ năm 15 tuổi nhưng mẹ cứ lần lữa, không nỡ xa con gái. Khi chồng chị Liên hy sinh, mẹ biết ước nguyện của  chị là được thoát ly làm cách mạng, thay chồng đánh Mỹ. Mẹ biết con gái Củ Chi rất gan lỳ, dũng cảm; đã quyết thì không thể ngăn được. Thương con gái, mẹ đã nhận phần nuôi cháu ngoại, như một sự chia sẻ thầm lặng của tình mẹ.

Chị Liên nằm lại Xóm Trại, xã Phú Thuận, Tây Ninh. Mãi đến ngày hòa bình, mẹ mới đưa được hài cốt chị Liên về quy tập ở nghĩa trang liệt sĩ quê nhà. Bất chấp bom đạn tơi bời, bất chấp sự khác nghiệt của cuộc chiến tranh, những người con gái Củ Chi lớn lên, xinh đẹp. Nhan sắc của những người con gái của mẹ ngày càng trở thành nỗi lo lắng, bất an của mẹ. Lính tráng, sĩ quan luôn rình rập trước nhà mẹ, không chỉ để rình “Việt Cộng” mà còn giăng bẫy những cô gái ngây thơ, trong trắng. Mẹ mừng vì theo gương chiến đấu của người cha liệt sĩ, hai con gái còn lại của mẹ: chị Phan Thị Nguyệt, Phan Thị Hòa thoát ly làm cách mạng. Như bao bà mẹ Củ Chi thương khó, mộc mạc khác; mẹ chuẩn bị cho mỗi chị cái bòng, đựng vài bộ quần áo bằng ni-lông, chiếc võng, ít tiền dằn túi. Mẹ còn chắt chiu cho mỗi chị đôi bông, chiếc nhẫn; như ngày xưa mẹ đã chắt chiu từng đồng lời, mua tặng cho chị Phan Thị Liên. Những thứ trông nhỏ nhoi, tầm thường ấy là cả gia tài của người mẹ yêu thương con, trong hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến tranh. Mẹ nhìn theo dáng con đi, nén lại đau thương, bịn rịn; vừa tự hào vì con mẹ đã chọn lựa con đường cách mạng như chồng mẹ năm xưa. Đêm đêm, mẹ thao thức, dõi theo bước chân con. Mẹ không khỏi lo lắng, đau thắt lòng khi nghe tin chiến sự diễn ra ở đâu đó. Dự cảm người mẹ về sự mất mát đã trở thành sự thật, khi ngày 21 tháng 8 năm 1969, mẹ nhận được tin chị Phan Thị Hòa hy sinh.

Mẹ Hồ Thị Nói ngồi trên bộ ván chậm rãi ngoái trầu, nhìn lên góc nhà dành cho chồng và hai con đã hy sinh. Những tấm bằng Tổ quốc ghi công hiển hiện trước mắt mẹ. Mẹ thở dài, tiếc nuối nói với tôi: “Hồi đó nghèo quá, cắm đầu lo làm ăn, tránh bom đạn, không ai có hình hết. Con Liên có tấm hình trong căn cước. Con nó mang về họa, để thờ nhưng rồi thất lạc luôn. Phải chi như bây giờ, máy chụp hình kiếm dễ ợt, mẹ chụp mấy tấm hình cho chồng con, để có bức ảnh thờ!”. Nhưng ký ức mẹ thì lưu giữ không phai mờ hình ảnh của chồng, con. Hôm ấy, trên đường công tác, quân Mỹ càn vô xóm, gom dân đi. Một trái cối của biệt kích bắn vào xóm, chị Hòa gục xuống. Chị Hòa nằm trên cánh đồng mùa lúa chín, mắt nhìn lên bầu trời xanh, mãi không khép lại được vì còn quá nhiều những ước mơ cho quê hương đất nước, cho mẹ chưa làm được. Hay tin, mẹ và những đứa em tìm đến Đồng Lớn, Trung Lập Thượng, tìm xác chị Hòa. Mẹ đỡ chị Hòa lên, vuốt mắt cho con gái. Cơ thể chị còn ngún khói miểng pháo. Máu chị Hòa thấm xuống mãnh đất Củ Chi, khi mới 17 tuổi. Chị Phan Thị Nguyệt, em gái chị Hòa kể: “Hai chị em được mẹ cho thoát ly. Tôi vào văn công, chị Hòa vào y tá. Tôi đâu ngờ khi chọn ngành phục vụ cách mạng là chúng tôi cũng đã chọn số phận cho mình!”.

Những năm cuối đời, mẹ còn lại niềm day dứt, khi số phận đứa cháu ngoại không được may mắn, suôn sẻ. Do chị Phan Thị Liên hy sinh, bên nội bắt cháu về nuôi. Đứa bé tuột khỏi vòng tay yêu thương của bà ngoại. Cháu Hương lấy chồng sớm, như câu ca buồn “Bướm vàng đậu cánh mù u, lấy chồng sớm làm gì… để lời ru thêm buồn”. Hôn nhân đổ vỡ, Hương phiêu bạt nơi nào chẳng rõ. Số phận không may mắn của Hương làm mẹ day dứt, trước vong linh của con gái và người chồng đã ngã xuống cho Tổ quốc. Những đứa bé mồ côi cha mẹ trong chiến tranh không tránh khỏi những thiệt thòi, mất mát. Mẹ đã cố gắng làm tất cả để bù đắp cho cháu nhưng mẹ bất lực hiểu một đứa trẻ lớn lên, trưởng thành đâu phải chỉ cần cơm áo mà cần lắm tình yêu thương của cha mẹ. Nhưng cha mẹ Hương đều hy sinh khi cháu còn bé xíu, không gì bù đắp nổi khoảng trống vắng trong lòng đứa trẻ sớm mất người thân. Mẹ mong ngày giỗ sắp tới của chị Phan Thị Liên, đứa con mồ côi của chị sẽ tìm về quê ngoại, thắp cho mẹ nén hương tưởng niệm. Mẹ mong gặp lại đứa cháu ngoại của mình để nói: “Dù con đi đâu, ở chân trời nào, bà ngoại vẫn yêu thương con, vẫn mong con quay về…”. Mẹ ngồi thẩn thờ bên dòng suối, gương mặt đượm buồn với tiếng gọi: “Hương ơi, cháu giờ ở đâu, hãy về với ngoại. Ngoại đã già rồi, rất mong được gặp cháu, cháu ơi!”.
 

Ở tuổi 82, mẹ Hồ Thị Nói ngày đêm khắc khoải với cuộc đời không suôn sẻ của đứa cháu ngoại sớm mồ côi cha mẹ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm