TIN TỨC

Có một Hoa Mai khác lạ trong truyện ngắn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-06 08:11:10
mail facebook google pos stwis
535 lượt xem

Từ thơ đến truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết và cả sáng tác cho thiếu nhi, Hoa Mai (Võ Mai Hoa) xây dựng cho mình một thế giới nghệ thuật riêng – dịu mềm, nữ tính nhưng không ủy mị; lặng lẽ mà sâu lắng. Quê Nam Đàn – Nghệ An, hiện là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn TP.HCM, Hoa Mai đã xuất bản hơn mười đầu sách ở nhiều thể loại khác nhau. Bài viết “Có một Hoa Mai khác lạ trong truyện ngắn” của Tống Phước Bảo đăng trên Tạp chí Sông Lam là cái nhìn ấm áp của đồng nghiệp về một gương mặt đang bền bỉ đi tìm bản sắc riêng, lặng lẽ góp tiếng nói nữ tính vào dòng chảy văn xuôi đương đại. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết, mời bạn đọc cùng đọc và cảm nhận.

TỐNG PHƯỚC BẢO

1. Tôi hay gọi Hoa Mai là “bà chị chịu chơi”. Thể như trong người bà chị này luôn có một thứ lửa gì đấy bất tận âm ỉ cháy. Hoa Mai có tính bộc trực, khẳng khái kiểu gái Nghệ đi qua bôn ba với thị thành phồn hoa này, được bồi thêm cái tánh hào sảng đậm đà của phương Nam nắng ấm. Thoảng khi hai chị em hay “mắc nói”. Đó là lúc gặp nhau thì ôi thôi huyên thuyên suốt buổi, đến khi về câu chuyện vẫn chưa dứt. Chuyện đời, chuyện đi và chuyện viết. Câu chuyện của hai chị em có lòng vòng năm bảy ngã đường cũng nắm níu nhau lại ở ngay cái ngã rẽ văn chương này.

Nhà thơ Hoa Mai.

2. Hoa Mai đến với văn chương muộn mằn, như đóa quỳnh thức dậy sau những gieo neo dâu bể, lặng lẽ tan hương vào đêm. Thế thôi! Giản đơn của văn chương là rút lòng mình mà kể. Lời kể pha chút đắng đót phận mình, pha chút nổi nênh phận người, thành ra cứ thao thiết tận cùng với câu chữ.

Khởi nguồn từ thơ, Hoa Mai đến gần với người đọc bằng một bản năng viết được ủ ấp từ thiếu thời còn là cô gái đôi mươi mười tám. Nhưng, như hầu hết những đóa quỳnh nở muộn của văn đàn, khi đã bằng an lòng mình thì câu chữ tự khắc tuôn tràn. Thơ Hoa Mai cứ vậy mà chạm đến độc giả. Nhưng Hoa Mai thì chẳng chịu dừng. Nhiều lần ngồi cùng tôi, Hoa Mai vẫn đau đáu với nghiệp viết lách. Những trăn trở làm sao để chạm đến cảm xúc bạn đọc, làm sao để kể lại những câu chuyện mà mình đang chứa chấp trong tâm khảm, làm sao và làm sao? Tôi hay nói cùng chị, cứ viết, cứ trải chữ ra trang viết và tự khắc mỗi câu chữ có một số phận, có một cuộc hành trình đến với độc giả.

3. Nhà thơ Hoa Mai quê ở Nam Đàn, Nghệ An, sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh. Dạo gần đây chị hay lui về mái nhà vừa xây dựng ngay trên quê hương để thong dong sống và viết. Ở tuổi hưu, chị chọn văn chương như là sự giãi bày. Đến nay, sau gần 5 năm chị đã có nhiều đầu sách: Người trong giấc mơ (tiểu thuyết), Người đàn bà cưới nỗi buồn (thơ), Khoảng trời của ngoại (thơ thiếu nhi), Quán trọ trần gian (tập truyện ngắn), Duyên (tùy bút), Vọng thiên hà (thơ), Cát (thơ), Trên đôi cánh thời gian (tản văn), Hoa thơm tay bé (thơ thiếu nhi)…

Nếu thơ như sự gói ghém của một người phụ nữ sau dâu bể đường đời thì văn xuôi của Hoa Mai, đặc biệt là truyện ngắn như một sự bày biện ký ức, ở đó chị tha hồ tung tẩy với chữ nghĩa. Khi đọc truyện ngắn của Hoa Mai, tôi háo hức trước những câu chuyện của chị. Bởi, với người phụ nữ đã đi và đã trải; đã đau thương lẫn hạnh phúc; đã khắc khoải cùng thích thú; đã lặng trầm với vinh thăng; trên hết đã dấn thân và bứt thoát cho văn chương thì đáng mong đợi.

Có lẽ, với tập truyện ngắn Quán trọ trần gian, Hoa Mai đã gợi lên trong tôi những suy nghĩ riêng về mảng văn xuôi của “đóa hoa báo Tết” nở muộn mằn này. Mỗi câu chuyện chị mang đến sẽ không giản đơn là chuyện, là đời, là văn mà còn là một vùng trời hồi ức khơi dậy những cảm xúc xưa xa cũ càng. Mang trầm tích ấy ra hong, vừa vặn đủ cho một tập sách ngỏ hầu độc giả, hay cũng là hầu chuyện với chính mình. Lật trang sách cuối, hóa ra trời xanh muôn thuở có gì cũ đâu! Vẹn nguyên một thông điệp nghĩa nhân cho buổi thời hỗn mang này.

Tập truyện ngắn “Quán trọ trần gian”.

4. Đọc tập truyện này dễ nhận thấy Hoa Mai đem chính trải nghiệm trên hành trình sống và đi của chị vào trang viết. Chất “tôi” phủ đầy trong các truyện. “Tôi” của “Giấc mơ thảo nguyên” như soi mình từ một cuộc tao phùng huyễn hoặc. Câu chuyện miên man với lối viết trần thuật một cách dung dị. Người đọc như cùng nhân vật đi suốt cuộc hành trình qua miền tâm linh. Hòa vào giấc mơ. Và cuối cùng hạnh ngộ một điều giản đơn: “Trần gian như quán trọ, người đời nương náu đây thôi”. Còn “tôi” trong “Chuyến xe ban mai” khiến độc giả mơ màng theo một chuyện tình chớm nở, hãy còn e ấp như sương sớm của Đà Lạt. Chuyện tình dắt người đọc đi qua những cung đèo, những triền dốc, những mùa hoa muộn mằn. Những tưởng cái kết sẽ là một cuộc kết ngẫu đầy thi vị, ấy vậy mà, nữ sĩ này lại khéo léo lái độc giả đi qua một ngã rẽ. Cuộc tình đẹp như sương sớm nên cũng dễ tan như sương sớm. Ảo ảnh vọng vang như tiếng chuông chùa. Có chăng còn lại chính là một niềm yêu vừa được nhen nhóm lên. Yêu và được yêu, muôn đời luôn là niềm mong mỏi của con người. Thực và mơ, đan xen vào để câu chuyện của Hoa Mai thêm phần ám ảnh người đọc. Nhưng, càng thấy ám ảnh lại càng nhớ da diết.

Hay “tôi” trong “Thấy mình là cỏ” chuyển thành “nàng”. Cô gái văn phòng xoay vần vào công việc và mái nhà nhợt nhạt niềm hạnh phúc. Cô gái ấy, thể hiện cái “tôi” qua những tự thán khá hay: “Giống như loài cỏ dưới gầm giày. Nó không chết dù người ta khiến nó nhàu nát. Nó im lặng dù nó có ngôn ngữ. Cỏ cũng có ngôn ngữ và tiếng nói. Nàng tin thế vì từ lâu rồi nàng vẫn nghĩ mình là một loài cỏ chưa được thượng đế hay chúa tể muôn loài đặt tên. Nếu cỏ ấy có hoa, nàng tin hoa sẽ màu tím. Nếu cỏ ấy thơm, nàng thích mùi xạ hương. Nếu cỏ ấy biết khóc, thì lệ cỏ là giọt sương đêm tinh khiết dù bụi bặm trần ai nhuốm phủ thân nàng.” Cá nhân tôi cảm nhận để viết những dòng văn này, có lẽ đó chính là lời cất lên từ trái tim của Hoa Mai, lời rất thực, nén rất sâu và đọc rất thấu. Với một người sáng tác, đôi khi chính mình bị dẫn dắt vào không gian mê đắm mà mình đã vẽ ra. Thể như mình lạc vào sâu thẳm nội tại của mình, từ bản ngã, câu chữ cứ như nhập đồng mà tuôn ra. Dẫu tôi tin, khi đọc lại, chẳng mấy ai tỏ tường vì sao mình lại viết được như vậy.

Phảng phất nỗi buồn rất đàn bà trong hầu hết các truyện ngắn, có lẽ đó chính là những thăng trầm mà nữ sĩ đã đi qua, đã nhìn thấy, hay chạm thấu. Hoa Mai viết về khát khao yêu thương rất thực. Không chỉ là bày biện trên chữ, mà đó còn là một sự vọng ước. Và tôi tin rất nhiều phụ nữ luôn mong muốn như thế: Hạnh phúc. Thứ hạnh phúc giản đơn về mái ấm gia đình rộn ràng nếp tẻ và sum vầy cha mẹ. Thứ hạnh phúc được thành đạt trong sự nghiệp với thực tài được công nhận. Thứ hạnh phúc bình yên trong tận cùng của cô đơn độc bước. Hạnh phúc luôn là hành trình, mà không ai khác, chính chúng ta phải tự tạo ra.

Tập truyện như một cuộc bày tỏ tấc lòng của nữ sĩ với niềm yêu, với sự đời và với nỗi mình. Còn nhiều lắm những câu chuyện mà tôi tin, độc giả sẽ bị quyến dụ một cách mê mẩn như: Trà nguội, Vọng phu, Những tháng ngày vô ưu, Hẹn với Trương Chi (Truyện ngắn đã đoạt giải thưởng trong cuộc thi Truyện ngắn hay 2022-2023 của Quán Chiêu Văn), Những vì sao lung linh (Truyện ngắn đã được chọn đăng trên Văn nghệ Công An – một truyện ngắn viết về mùa dịch Covid rất hay) …

5. Tôi nói bà chị này chịu chơi, bởi đã quyết điều gì thì luôn làm đến tận cùng. Có lần đi thiện nguyện mà cái chân thì bó bột trắng xóa, ấy vậy vẫn hăng hái đi đến các bản làng đồi núi trắc trở. Hay như cái lần hai chị em đi xứ Nghệ trao tặng sách cho các thư viện. Bà chị xông pha đến các điểm trường, thời gian và mật độ khá dày. Có ngày đi 3 điểm trường khác nhau, khá xa, và thông qua 2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh. Ấy thế mà mới sáng sớm đã thấy bà chị có mặt sẵn ở sảnh khách sạn chờ đội hình để chinh chiến tiếp. Gân và máu đến thế thì tôi phục quá chừng. Tưởng vậy thôi chứ vừa về lại thấy bà chị gom góp tiền tặng một bệnh viện ở Nghệ An cái tivi, cho người bệnh có cái mà coi giải trí. Tôi thì nói vui, bà chị này chắc “giời đày” rồi. Tầm tuổi chị, gia đình con cháu hiếu thảo, nghỉ ngơi hưởng thụ thì cũng chẳng ai nói gì. Vậy đó, mà chọn những chuyến đi và chọn lấy nghiệp viết. Toàn những thứ đòi hỏi sự tận hiến của tiền tài lẫn tâm sức.

Nhưng, khi tôi đóng trang văn cuối cùng của tập truyện này, một đêm Sài Gòn dịu mát, tôi nghĩ chính phù du kiếp đời này chẳng thể nào giữ chân đi và máu viết của chị được. Bởi, với Hoa Mai, cõi tạm của tha nhân chỉ là quán trọ, trần gian thì ngàn chuyện kể hoài chẳng hết. Vậy nên, Hoa Mai cứ viết, niềm thao thiết này, dành cho độc giả.

Nguồn: Tạp chí Sông Lam.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm