- Bút ký - Tạp văn
- Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.

Mọi người chúc mừng ông sau khi ông trở về nhà. Ảnh tác giả cung cấp
Tết sum vầy, con cái tề tụ xóm làng đông vui, tôi được đón tết quê bên cạnh bố mà vui buồn xen trộn. Tết với một chuỗi không: Không bánh chưng dưa hành thịt mỡ, không câu đối đỏ cũng chẳng cây nêu trước nhà. Tết không rôm rả trà nước, không khách khứa ra vào… vì năm nay vắng mẹ.
Tiết trời se se không gian lạnh lạnh làm cho cảnh vật đìu hiu, cây cối cũng chẳng buồn lay, hoa trái trong vườn vì thế cũng “tang tóc” buồn theo, trong căn phòng nhỏ im phăng phắc chỉ phảng phất mùi hương lạnh lẽo phúng người quá cố.
Cảnh tượng nhà vắng vẻ trước sau, thiếu người bạn đời tri kỷ nên bố tôi cũng chẳng có gì cho Tết, ông cụ cứ chống gậy ra – vào, rồi ông lại đến bên bàn thờ bà thì thầm “Con nó về ăn Tết với tôi rồi bà yên tâm nhé”. Xong, ông cụ 90 vào giường nằm chờ trời sáng, có lẽ cũng là để bóng tối che đi những giọt nước mắt sụt sùi cuối đời.
Đây là cái Tết thứ 5 kể từ ngày hai ông bà trở lại quê hương, giây phút trời đất chuyển giao, ông cụ dậy cúng gia tiên, ông lại đến bên bàn thờ bà thì thầm điều gì đó lúc nhớ lúc quên. Hình như đêm qua ông cụ không ngủ, đi ra - đi vào, rồi bật đèn sáng ngắm bộ áo dài, cái khăn đóng treo trên tường, chỉ có bộ này là ông chuẩn bị cho năm mới.

Tác giả Lê Trọng Bình
Bà mới rời xa cõi tạm, xa ông và xa con cháu nên với ông là mất mát to lắm. Hơn 60 mươi năm chung sống, gần 20 cái tết quê nhà - 40 cái tết phương xa… giờ không còn bà, ông thẫn thờ lắm chứ….
Ông trưởng thành từ làng quê Bắc bộ gian khó, hứng chịu mọi hệ lụy từ chiến tranh, chứng kiến xã hội loạn ly thay đổi, tha phương cầu thực hòng mong mỏi có cuộc sống tốt hơn nên ông mạnh mẽ, có lẽ đây là lần đầu tiên thấy ông buồn.
Ông dậy lúc 04h00 sáng, ông lại đến bàn thờ bà thắp nhang, lại khấn bái những điều đáng lẽ phải được nói như ngày thường với bà. “Sáng mai làng mừng thượng thọ cho tôi, có xã về dự nữa nhưng tôi không vui vì không có bà bên cạnh”, dứt lời ông lại chống gậy vào phòng, đôi mắt đỏ hoe bịn rịn ngắm nghía bộ áo mới treo trên tường.
***
Cũng như mấy ngày nay, sáng mùng 4 Tết ông cũng dậy lúc 04h00 vẫn thói quen cũ; Đến thắp hương cho bà, ông lại khấn vái, rồi ông thay bộ áo dài khăn đóng ngồi chờ trời sáng, hôm nay ông mới diện bộ áo đẹp như này. Trời mùa xuân ở mảnh đất Bắc bộ mờ mờ - ảo ảo làm ông mòn mỏi thiếp đi lúc nào không hay. Ông giật mình mở mắt, cuống cuồng nhìn đồng hồ, nói to “đến giờ rồi”, quýnh quáng cầm cây gậy…. các cụ tuổi này là vậy đó, y như một đứa trẻ.
Không quên đến bên bàn thờ bà, ông lại thì thầm, lại thắp hương cho bà, mắt ông đỏ hoe… đứng ngần ngừ đôi chút ông mới chống gậy lên nhà văn hóa Xóm Nội, cùng đi còn có anh Toàn người cháu gọi ông bằng cậu, em gái Út của ông cũng tranh thủ đến mừng ông. Nét mặt ông rạng rỡ nhất mấy ngày xuân là đây.
- Anh lên nhà Văn hoá dự lễ mừng thọ đấy à? Chú Cử hỏi.
- Ừm, chú lên với anh nhé! Ông đáp lời chú.
- Vâng, anh cứ lên trước đi, chút nữa em lên.
Đến nhà văn hóa, ông được gặp lãnh đạo xã, gặp bà con trong làng, gặp lại ít ỏi vài người bạn cùng thời với ông. Ông vui nhất là khi được nghe ý kiến cụ Tuynh, người cùng được mừng thọ đợt này, cụ Tuynh khỏe mạnh, mắt sáng thay mặt các phụ lão đọc lời tâm tư cảm ơn Đảng, Nhà nước đã quan tâm đến người cao tuổi.
Ở nhà ông thường kể cho chúng tôi nghe về gia đình cụ Tuynh, 70 năm trước lúc thiếu thời hai ông là bạn, là họ hàng với nhau, chơi với nhau nên tối thường rủ nhau đi soi cá, cụ Tuynh soi và bắt cá rất giỏi, nhanh nhẹn nên được rất nhiều cá, nhưng khi chia cá thì cụ Tuynh lúc nào cũng chia cho bố phần hơn, nên giờ về già bố càng quý mến cụ Tuynh, chúng tôi về quê là bố dặn phải qua thăm anh em cụ Tuynh, cụ Khanh, chú Cử, chú Yên, anh Quân… và những gia đình xung quanh.
Bố thường nhắc anh em chúng tôi là nhờ có con trai cụ Tuynh nên nhà mình mới làm được thủ tục, mua được khu đất để có nếp nhà, bám vào mảnh đất quê sinh sống. Cứ mỗi lần nói đến đây mắt ông cụ lại sáng lên niềm vui, niềm tự hào, sự biết ơn với gia đình người bạn thuở thiếu thời, biết ơn xóm làng, sâu đậm nghĩa tình quê hương.
***
Ông mừng vì được Nhà nước tổ chức mừng thượng thọ ngay vào đầu xuân, ông được xóm làng mời lên đọc bài thơ đã chuẩn bị sẵn từ khi nào. Buồn thật nhưng ông không để nỗi buồn của mình ảnh hưởng đến làng quê, tết là phải vui cùng đất nước.
Sau những tình cảm chúc mừng, ông chống gậy đi nhanh về nhà, ông lại đến bàn thờ bà, ông để bó hoa lên đó cùng với trướng mừng thọ, ông lại thắp hương khấn bà, mắt ông lại đỏ hoe hoe nhưng miệng thì lại tươi cười.
Bà bỏ ông mà đi, con cái ở xa nên ông cô quạnh từ đó, có chút gì buồn vui cũng muốn chia sẻ với hương hồn bà. Tết năm năm nay của ông thật lặng lẽ, lặng lẽ bước và tiến ra khỏi khó khăn như chính ông đã vượt qua gian truân của cuộc đời của mình.
Đêm hôm ấy bên sân nhà chú Yên tụ tập đông người, xóm làng vui nhộn. Gia đình chú thím từ Hà Nội cùng với cá em về quê, mời bà con họ hàng đến chung vui các hoạt động ngoài trời như đốt lửa, bắn pháo hoa, hát karaoke... diễn ra náo nhiệt. Trong ánh lửa chập chờn chú Yên kể về cuộc đời của mình, cuộc đời của bố truân chuyên vất vả mưu sinh, bây giờ trở về quê hương là một nỗ lực trên 200% sức tưởng tượng.
Rồi chú kể chuyện vui những cuộc đánh nhau qua từng thời kỳ ở hai làng, từ đời ông, đến đời bố và chú, rồi đến các anh chúng mày…. trên ấy là cả một bờ đê tuổi thơ bám đít trâu. Chẳng biết từ khi nào, hai làng hai bên ở giữa là con sông, trẻ con đánh nhau quanh năm suốt tháng. Làng bên kia chưa bao giờ thắng làng mình cháu ạ, chú Yên hào hứng với chúng tôi. Đường biên giới là con sông, làng kia cứ thấy làng mình làm gì là họ bắt chước làm theo, dường như bên kia chỉ đứng trên triền đê trực, thấy bên này làm gì thì lấp tức hôm sau bên kia họ có. Buổi trưa rút về nhà thì họ bơi sang phá, hoặc lấy cắp thành quả của bên nay. Thế là “chiến tranh” nổ ra liên miên nhiều đời nay.
Bây giờ con sông vẫn là nhân chứng, trên đê là hai tuyến đường bê tông kè chắc chắn, ngô khoai xanh mướt hai bờ, các ngôi nhà kiên cố san sát nhau uy nghi soi bóng xuống dòng sông, thời này không còn đánh nhau nữa, làng xóm văn minh, nghĩa tình ấp áp, giao thông kết nối nên mọi thứ rất gần gũi nhau.
Kết thúc câu chuyện xóm mình, khép lại tuổi trẻ thời của ông, bố, chú và các anh, tôi trở về nhà cũng lặng lẽ bởi nhiều hoài niệm và những tâm tư đọng lại qua những câu chuyện kể ở Xóm Nội. Lần đầu tiên được đón xuân quê Nội, nghe chuyện Xóm Nội mà tôi cứ lặng lẽ theo sau bố mình, mong mau qua đi những khoảnh khắc lặng lẽ như thế này./.
L.T.B