TIN TỨC

Có một khúc tình ca dang dở...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-12-05 08:55:22
mail facebook google pos stwis
3801 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Cảm nhận về bài thơ DÒNG SÔNG MỘT BỜ của Nguyễn Khắc Thạch:

DÒNG SÔNG MỘT BỜ

 

Có một dòng sông mang tên em,

dòng sông anh tự đặt

xin mùa thu chiếc lá làm thuyền.

 

Có một dòng sông trôi vào lãng quên,

nước trong như nước mắt

điều chưa đến mà sao thấy mất?

 

Có một dòng sông chỉ có một bờ,

phía bờ kia quay mặt.

dòng sông anh không qua được bao giờ...

(Rút từ tập “Dòng sông một bờ”. Hội VHNT Bình Trị Thiên.,1989)

*

1. Tôi đọc “DÒNG SÔNG MỘT BỜ” bằng mờ tỏ mắt nhìn con chữ, bằng trầm chùng lời diễn ngôn, bằng tình cảm xao động bồi hồi của con tim, bằng thức nhận biệt phân của trí não... để rồi từ thẳm sâu lòng mình, dậy lên biết mấy xúc cảm xôi xa... Tôi như tan hòa vào dòng chảy thông điệp của bài thơ, để thấy lại chính tôi,thấy bạn, thấy anh, thấy em... thấy biết bao những kẻ đang yêu, từng yêu, có lúc là anh, có khi là em... thảy như đều hiện diện ở “Dòng sông một bờ” này!...Và rồi, cứ thế...“Dòng sông một bờ” trôi trong tiềm thức của tôi...  trong veo một khúc tình ca dang dở. Buồn... thật buồn... Có quảng gió thoảng, sóng dào cơn dỗi hờn vô cớ. Có đoạn sóng cồn lên tiếc nuối, bất trắc, xót xa. Có khúc nhấp nhô một phía cam chịu lở bồi...Nhưng tôi không thấy ở “Dòng sông một bờ” trạng huống sóng gió phụ bạc, đắng cay, hay phản trắc nào cả!...

Tại sao ư?

  1. Thì đấy, khởi đầu bài thơ là một khổ lẻ ba câu:

“Có một dòng sông mang tên em,

dòng sông anh tự đặt

xin mùa thu chiếc lá làm thuyền.”

Thấy chưa, “Có một dòng sông...”, chứ nào đâu phải dòng sông nào. Nào đâu phải dòng sông của anh, hay dòng sông của em. Đặc định “có một”, nhưng xác quyết“... mang tên em”, thành ra đó như là một phiếm chỉ về một dòng chảy tình yêu đôi lứa, chứ nào phải là Hà, hay là Giang. Nào phải đó là “... sông Mã gầm lên khúc độc hành” mà bảo của Quang Dũng*, hay “...sông Thương thật thương” mà nói là của Hoàng Nhuận Cầm**?!...

“Dòng sông anh tự đặt”, đâu có phải là một lời ghi nhận, để nói rằng câu chuyện sông kia khởi dòng từ anh, với biết bao tâm tình của anh dành cho emmỗi chiều hai đứa cùng ngồi bên nhau ngắm nhìn những cánh buồm xuôi bến?... “Dòng sông anh tự đặt” cũng có thể là những tự bạch, những hồitưởng tâm tư của em được lắm chứ? Rằng là em nhớ “cái buổi ban đầu xao xuyến ấy”, anh bảo dòng sông lấp lánh ánh chiều kia đẹp như tên em, như những xao động lúc nào cũng rộn lên trong trái tim anh...

Và, ta nhớ tình yêu chúng mình... Ta chẳng thể nào quên được đã bao lần ta cùng ước ao, cầm tay nhau bước đến ngôi nhà hạnh phúc lứa đôi. Ta từng “xin mùa thu chiếc lá làm thuyền” để đưa tình yêu ta đến bến bờ mong đợi. Ôi đẹp biết mấy là dòng sông tình yêu đôi lứa mình, với chiếc lá nhiệm màu của mùa thu năm ấy!...

1.2. Khổ thơ tiếp theo:

“Có một dòng sông trôi vào lãng quên,

nước trong như nước mắt

điều chưa đến mà sao thấy mất? ”

Lại vẫn ba dòng thơ lẻ, và cũng vẫn bắt đầu bằng đặc định “có một dòng sông...” như một phiếm chỉ... nhưng giờ thì dòng sông ấy đã “...trôi vào lãng quên” rồi! Đọng lại tâm tưởng giờ đây chỉ còn là một quá vãng buồn, là một dòng “nước trong như nước mắt” chảy miên man trongký ức xót xa, tiếc nuối... cái “điều chưa đến mà sao thấy mất” !...

Ai xót ai?...Ai tiếc ai?... Chả riêng ai cả!... Một cuộc tình đã không như mong đợi; đã chỉ như là một cuộc yêu đương khởi thủy,bất chung; như là một tình yêu đã không thành tựu... thế thôi! Không thấy ở đây nước mắt của anh, cũng không thấy nước mắt của em. Những câu thơ đọc lên chỉ thấy trôi ngược về trong veo một nỗi niềm buồn thương, nhung nhớ... Có xót xa, tiếc nuối, nhưng không cợn đọng trách cứ, bi thương...

... Và chiếc lá nữa,chiếc lá khát khao mộng vàng hai đứa giờ trôi nổi, chìm đắm nơi đâu?!...

1.3. Khổ kết bài thơ:

“Có một dòng sông chỉ có một bờ,

phía bờ kia quay mặt.

dòng sông anh không qua được bao giờ... ”

Vậy là đã rõ rồi! Lại cũng vẫn là đặc định “có một...”, nhưng lần này là “...dòng sông chỉ có một bờ”. Chính sự xác định này càng cho biết rõ ở trên kia không phải một mà đã có nhiều dòng sông từng đã chảy. Thì đó là đây,“...dòng sông mang tên em” nhé, “...dòng sông trôi vào lãng quên”nhé, và cả “...dòng sông chỉ có một bờ” đấy thôi !

Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi chứ nào đâu “...dòng sông chỉ có một bờ”, để giận hờn trách cứ “phía bờ kia quay mặt”. Thế mà có đấy! Mà vẫn “có một dòng sông chỉ có một bờ” kia đấy! Ấy là khi sông cạn nước ròng, mênh mông bên đó là bãi dâu, đồng lúa. Và rồi dòng sông cạn cờ ấy khát khao có được bên đó bờ yêu, để dòng chảy tuôn trào.  Nhưng mà không, “...sông chỉ có một bờ” thì có đâu dòng chảy. Và thế là “dòng sông anh không qua được bao giờ”, bởi có thành sông đâu mà qua, mà đến?!

“...Anh không qua được...”, hay em không qua được, thì cũng thế cả thôi, có chi khác lạ đâu!

2.Tôi đọc “DÒNG SÔNG MỘT BỜ” mà cảm phục thi pháp của bài thơ. Tuyệt vời là thủ thuật làm mờ nhòe ngữ nghĩa, để tạo ra tính đa diện mạo cho những góc nhìn.

2.1. Xuyên suốt bài thơ là những liệt kê “có một”... với ngữ nghĩa hiển ngôn trỏ chỉ một đó thôi. Ấy vậy mà lại nhiều chứ không phải chỉ một. Đó là “...dòng sông mang tên em”, là “...dòng sông trôi vào lãng quên”, là “...dòng sông chỉ có một bờ”... mà khi đọc lên, thì sẽ khiến thức dậy trong ta là gì, nếu không phải là liên tưởng đến một nữa, là dòng sông của riêng mình.

2.2. Câu thơ “dòng sông anh tự đặt”, trong ngữ cảnh kết cấu của khổ thơ, đã chỉ ra nghĩa hồi tưởng, đã được định trước từ lối mở bài, mở khổ, bởi phương thức liệt kê “có một” nói trên. Ở trong cái kết cấu ấy, chữ “anh” chỉ ra chữ “em” mà tôi có thể nhất loạt thay thế, hoán đổi trong bài thơ này. Bạn hãy thử mà xem, hãy thử thay thế rồi đọc lên để thấy không thể khẳng định giới của nhân vật trữ tình ở đó chỉ là anh, mà không thể là em, hay ngược lại.

2.3. Thành ra một khi “có một dòng sông mang tên anh”, “dòng sông em tự đặt”, “dòng sông em không qua được bao giờ ”, thì “dòng sông” trong thi phẩm “Dòng sông một bờ” kia, chính là Ẩn dụ về những cuộc tình đôi lứa, về một tình yêu lứa đôi. Dòng sông yêu đương ấy chẳng đã chảy suốt thi phẩm, kể cả khi nó chỉ có một bờ, là gì?! Ai bảo “phía bờ kia quay mặt” là một bội bạc, phản trắc; thì là chưa thấy, chính bởi đó là “...dòng sông chỉ có một bờ”; chưa thấy đó là một ảo ước, về một bờ giả tưởng. “Quay mặt” ở đây nghĩa là không có đối nhân; nghĩa là tự bản thân anh, hoặc em, đã tìm thấy nhưng không phải là người yêu mình.

3. Không chỉ là “dòng sông anh không qua được bao giờ”, bởi “chỉ có một bờ”, vì tình yêu đã không nảy nở; mà còn bởi có khi dòng chảy gặp phải những khúc rủi ro, những đoạn sóng to gió cả, khiến chiếc lá đắm chìm, vì còn mong manh quá... Bài thơ kết cấu ba khổ thơ, mỗi khổ lại chỉ ba dòng thơ, đâu phải vô tình lỗi phép, mà là một dụng công tuyệt kỹ, để chuyển đi cái thông điệp về sự thất bát, lẻ loi, đơn chiếc, như một vô thường của tình yêu. Và sau tất cả, trên tất cả, đó là tôi đã đọc được ở thi phẩm  “DÒNG SÔNG MỘT BỜ” của Nguyễn Khắc Thạch, một TỤNG CA TÌNH YÊU, ở khúc đoạn đẹp nhất, mà tôi gọi là KHÚC TÌNH CA DANG DỞ... ./.

* Từ bài thơ “Tây tiến” của Quang Dũng.

** Từ bài thơ “Sông Thương tóc dài” của Hoàng Nhuận Cầm.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm