TIN TỨC

Điển cố trong thơ Xuân Diệu trước năm 1945

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-11-06 07:47:14
mail facebook google pos stwis
4647 lượt xem

Xuân Diệu được Hoài Thanh nhận định “mới nhất trong các nhà Thơ Mới”. Thơ Xuân Diệu là một sự lạ hóa về mặt ngôn từ với những cách tân độc đáo mới lạ bởi những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực của lối thơ Pháp. Tuy vậy, những quán tính của thơ cũ vẫn còn trong lối viết của ông. Điển tích điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật được ông vận dụng sáng tạo và có chủ đích.

Nhà thơ Xuân Diệu (ảnh Internet)

1. Nói đến thơ ca là nói đến những đặc trưng của tính hình tượng, đa nghĩa và hàm súc… Điều đó cho phép điển cố được dẫn dụng như một phương thức chủ đạo. Thơ Mới được xem là một trong những nhịp cầu của hai bến bờ thơ ca truyền thống và hiện đại. Bước sang quỹ đạo của thơ ca hiện đại, Thơ Mới không hề đoạn tuyệt với thơ cũ, những ảnh hưởng của âm hưởng thơ Đường, thi pháp văn học trung đại, đặc biệt nghệ thuật dụng điển vẫn song hành bên cạnh những bút pháp mới trong các sáng tác.

Xuân Diệu được biết đến là nhà thơ chịu những ảnh hưởng sâu sắc của lối viết phương Tây. Tuy nhiên, những đặc trưng của thơ ca trung đại, trong đó có điển cố vẫn được ông dẫn dụng trong các sáng tác của mình. Điển cố trong thơ ông không phải là một đồ cổ cũ kĩ lạc hậu trong đối tượng thẩm mỹ hay là sự vụng về, sùng cổ trong bút pháp. Ngược lại, bằng nghệ thuật sử dụng điển cố tài tình, Xuân Diệu đã góp phần chắp cánh cho Thơ mới tích cực hòa nhập với quỹ đạo tiếp nhận của công chúng đương thời.

Nửa đầu thế kỉ XX, khi nền Hán học suy vi, các nhà Thơ Mới nói chung, Xuân Diệu nói riêng ít nhiều chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ thơ Pháp. Tuy là một trí thức Tây học nhưng Xuân Diệu vẫn có những ảnh hưởng từ người cha của mình. Chữ Hán đã được ông học tập từ rất sớm. Nhà thơ yêu thích và thuộc nhiều bài thơ Đường, nhiều tác phẩm kinh điển của văn học trung đại nước ta. Đó là cơ sở để ông nắm vững về điển cố và dẫn dụng chúng một cách chủ động, linh hoạt vào trong các sáng tác của mình.

Như đã biết, thơ ca cổ điển phương Đông chuộng trầm tĩnh, chú trọng sự tương giao, tương hợp, nặng về biểu ý, biểu tình… Đó chính là cội nguồn của tư duy Thơ mới. Cho nên không hề mâu thuẫn khi trong các bài thơ của Thơ Mới, trong đó có tác phẩm của Xuân Diệu vừa chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng lại vừa yêu chuộng việc sử dụng từ Hán Việt, thi liệu, dẫn dụng các điển cố là những biểu tượng của thơ ca truyền thống. Mượn phương tiện của phương Tây, truyền tải hồn vía của phương Đông là đặc trưng của Thơ mới nói chung và của thơ Xuân Diệu nói riêng.

Trình giữa làng Thơ Mới với một cái tôi đa phong cách, thơ Xuân Diệu trước năm 1945 vừa mang tính hiện đại lại vừa mang hơi hướng cổ điển. Trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió, một số bài thơ như Vội vàng, Vô biên, Huyền diệu, Đây mùa thu tới,… chịu ảnh hưởng rõ nét, có nhiều cách tân trong lối viết được học hỏi từ thơ Pháp bởi chúng thiên về thế giới trữ tình, tràn đầy cảm xúc với những thức cảm thời gian… Một số bài thơ khác như Nguyệt cầm, Lời kỹ nữ, Nhị hồ, Mơ xưa… lại có hơi hướng cổ điển, mang tính chất hoài cổ, trang nhã, sâu sắc thâm trầm. Việc vận dụng những điển tích, điển cố vào nhóm bài này là hoàn toàn có chủ ý sáng tác. Dĩ nhiên, điển cố mang đến cho những bài thơ này nhiều giá trị thẩm mĩ độc đáo, quan trọng.

2. Được biết đến là “ông hoàng thơ tình” với những mộng Đường thi, Tống thi và cung sự nuối tiếc một thời quá khứ vàng son là cơ sở để Xuân Diệu tìm về những con người tài sắc của một thời. Họ là những minh quân, tôi hiền, giai nhân tuyệt sắc, tức những hình mẫu lí tưởng trong quan niệm về con người của chủ nghĩa lãng mạn. Những điển nhân danh là nhân vật lịch sử như Lộng Ngọc, Tiêu Lang, Bao Tự, Ly Cơ, Đường Minh Hoàng, Dương Quý Phi… không còn đơn thuần là những câu chuyện lịch sử về các giai thoại… mà hàm ẩn trong đó nhiều giá trị văn hóa, thẩm mỹ. Cái hay của việc vận dụng những điển cố này là truyền tải một tư tưởng thẩm mỹ về khát khao tìm thấy con người lý tưởng ngay cả trong tiềm thức:

… Và nàng Lộng Ngọc lấy Tiêu Lang,

Cưỡi hạc một đêm bay lên trời.

Vua Trần hậu chúa ngó trăng vàng,

Khúc Hậu đình hoa đương lên khơi.

[….] Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,

Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng

Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng,

Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi.

(Nhị hồ)

Trước sự bất hòa với thực tại của chủ nghĩa lãng mạn, xuất phát từ cảm hứng hoài vãng, trong Mơ xưa, Xuân Diệu mượn chuyện Chiêu Dương, Hậu Đình, chuyện Hán Cao Tổ… để tìm đến lý tưởng, những điều phi thường vượt trên hiện thực tầm thường, tù túng:

Những Chiêu Dương, những Hậu Đình tráng lệ

Đẹp vì chưng xây với oán cung phi.

Cung nhà Tần trùng điệp mái lâm ly,

Hán Cao Tổ đốt chín ngày mới hết;

Tần cung nữ ba mươi trăm, chẳng biết

Gót sen vàng liễu yếu chạy về đâu?

Không chỉ những trang giai nhân tuyệt sắc mà những người nữ vô danh như “kỹ nữ”, một đề tài quen thuộc của thơ trung đại, cũng chính là cảm thức “đồng cảm tương liên” để nhà thơ tiếc nuối quá khứ, nghiền ngẫm về cái tôi bản thể giữa cuộc đời. Lời kỹ nữ, bài thơ mượn lại điển thi ca trong bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, là tiếng lòng của một phút thoáng qua giữa mối tình đầy tri kỉ và sâu đậm – “kỹ nữ” và du khách”

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt,

Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.

Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi,

Gỡ tay vướng để theo lời gió nước

(Lời kỹ nữ)

Cùng với điển nhân danh, các điển địa danh được dẫn dụng cũng làm sống lại không khí của một thời vang bóng. Hệ thống điển địa danh trong thơ Xuân Diệu trước 1945 có số lượng khá lớn, chủ yếu có nguồn gốc văn hóa Hán học, có tác dụng to lớn trong việc phục dựng không gian quá khứ là không gian đẹp đẽ, mỹ lệ, trang trọng, đối lập với không gian chật hẹp, tầm thường trong hiện tại. Ví như, trong Nguyệt cầm, một bến “Tầm Dương” mơ về với dư âm tiếng đàn vang vọng đã làm cho thiên nhiên âm nhạc và con người tương tư, hòa lẫn trong nhau. Nếu tiếng đàn của Bạch Cư Dị hiện lên với những cung bậc tâm trạng của người kĩ nữ bị ruồng bỏ, của người nghe đàn bị đày đọa thì tiếng đàn của Xuân Diệu như là gam màu chủ quan của cái tôi trực cảm can thiệp:

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời;

Đàn ghê như nước lạnh trời ơi!

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…

3. Những điển tích nhân danh, địa danh dẫn ra trên đây là minh chứng cho phong cách mới lạ độc đáo của Xuân Diệu: kế thừa mạch nguồn thơ ca phương Đông, tiếp thu tinh hoa thơ phương Tây để vươn tới những giá trị mới mẻ, độc đáo. Dùng điển đã trở thành phương thức sáng tác đầy dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Nghệ thuật dụng điển đã chứng minh Xuân Diệu khước từ những khuôn sáo gò bó của thơ ca trung đại, nhanh chóng hòa vào quỹ đạo của thơ ca hiện đại. Với ngòi bút vừa phóng khoáng, bay bổng, lãng mạn lại vừa tài hoa, uyên bác, truyền tải cả hơi hướng Đông – Tây, Xuân Diệu đã mang tới cho phong trào Thơ Mới tiếng nói của thơ ca dân tộc giản dị mà sâu sắc. Và điều độc đáo ở chỗ, chính nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ Mới” lại là người chủ động vận dụng “cái cũ” nhất của thơ ca truyền thống là điển cố vào trong sáng tác của mình một cách hiệu quả. Đây là một trong những đặc điểm độc đáo trong phong cách thơ Xuân Diệu trước 1945 mà lâu nay chúng ta ít để ý.

NGUYỄN CÔNG TRÍ

Báo Giáo Dục & Thời Đại

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm