TIN TỨC

Đọc “Phút 89”: Minh Đan đào được một kho báu vô giá nơi hồn thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-27 16:22:41
mail facebook google pos stwis
2885 lượt xem

NGUYỄN KIÊN GIANG

Trong Túc cầu giáo, nói đến “Phút 89” là nói đến sự gay cấn tột đỉnh, nói đến những tình huống – những pha bóng kinh điển làm người xem mãn nhãn, nói đến sự xuất hiện của kỳ tích tạo nên những cung bậc cảm xúc ấn tượng cho khán giả. Một cuộc lội ngược dòng ngoạn mục của nhà vô địch để bảo vệ thành công ngai vị của mình, hay một tân vương mới lên ngôi chăng?

“Phút 89” – điều gì đã mở ra? Đó là một “khu vườn Eden huyền thoại xanh ngời” – nơi hương sắc nở rộ, nơi con người từ chối những thánh ân để chọn cho mình một con đường chông gai hơn, nhưng “người” hơn. Thiện ác phân ranh từ đó! Tôi không nói về bóng đá, tôi đang nói về một tập thơ – tập thơ có tên “phút 89” của nữ sĩ Minh Đan.

Ra sông đãi cát tìm vàng

mang về một gánh ngổn ngang thơ vè

(Thay tựa…)

Minh Đan bắt đầu “Phút 89” của mình như vậy. Điều trớ trêu chăng, khi người “đãi cát tìm vàng” lại mang về những thứ “phi vật chất” như “thơ vè”? Không, đó là một cách tự cười mình thay cho đời sống này, nhưng nó cũng ẩn chứa chính cái cười bao dung của tác giả đối với sự lệch lạc của đời sống khi cho rằng thơ ca là phù phiếm. Là “thơ” hay “vè” xin nhường cho độc giả định đoạt. Đối với Minh Đan, nữ sĩ “đãi cát tìm vàng” và đã mang về được “một gánh” vàng. Vàng đấy! Thơ ca là vàng đấy, tin tôi hoặc tôi sẽ làm cho bạn tin! Còn đối với tôi, Minh Đan đã đào được một kho báu vô giá nơi hồn thơ của nữ sĩ, nó nằm đây – trong “Phút 89” này.

Minh Đan sử dụng rất nhuần nhuyễn và uyển hoạt các thể thơ truyền thống cũng như tự do đương đại. Tuy vậy, Lục bát biến thể vẫn là “tuyệt kỹ trấn môn” của cô, thi pháp này vẫn chiếm phần quan trọng trong “Phút 89” (hơn 1/3 số thi phẩm). Ai chê Lục bát là cũ, là lỗi thời thì dù có hàm hồ tôi cũng phải phán ngay: anh/chị không làm được thơ Lục bát hay nên nói thế! Lục bát là cái hồn vía của dân tộc, để nó phù hợp hơn với thi cảm đời sống hiện đại, thi sĩ cũng nên làm mới nó bằng nhiều cách và Lục bát biến thể đã được tạo nên. Chúng ta xem những câu sau: đời choàng giông/ bão lên vách/ em ngoan cường phơi/ ngọc thách gió sương/ mùa chưa xa/ lơ thơ/ cuồng/ hoa rụng rụng/ rêu phong tường/ đìu hiu… (Phơi) Cách vắt dòng của những câu thơ trên tựa như sự phối hợp giữa Lục bát và Tân hình thức – một thể thơ rất mới với chúng ta. Nó tạo nên tiết tấu, nhịp điệu mới mẻ cho Lục bát mà vẫn giữ được cái hồn đầy nhạc tính của Lục bát. Ngôn từ vừa cổ phong vừa hiện đại, lại lắt léo thanh bằng trắc đã tác tạo những hình ảnh, gam màu đặc sắc. Nếu đọc lên thành tiếng đoạn thơ trên, nhất là những âm tiết sau: mùa chưa xa/ lơ thơ/ cuồng/ hoa rụng rụng / rêu phong tường/ đìu hiu hẳn bạn sẽ thấy thú vị, thấy những gì mà thanh âm ngôn từ có thể mang lại. Điều này “bất khả thuyết” hoặc giả tôi chưa đủ khả năng để nói rõ với bạn về nó: sự tác động kỳ lạ của những âm tiết ngôn từ lên tâm hồn chúng ta, đó là điều cốt lõi của những câu thần chú trong truyền thuyết chăng? Cứ thế, Lục bát biến thể “tung hoành” theo mức độ và cách thức khác nhau đến “phút 89” và chung cuộc, làm nên những sắc thái khác nhau, đa thanh đa sắc. Như, trong “lạc quan khâu lại những bồi hồi đã qua”: ước gì mưa rớt đầy sông/ buồn trôi theo nước/ tôi bồng vui đi/ tặng ai kia đóa nhu mì/ nụ cười nhú nắng/ bờ mi khép hờ… hay trong “ngày lạ!”: nắng cong cong/ sóng lơn cơn/ bếp than/ hạ nhiệt / mưa hờn ghé vai… Đối với hai thi phẩm vừa kể, ta còn thấy xuất hiện những hình ảnh rất sáng tạo, xinh xắn như: “tôi bồng vui đi”, “nụ cười nhú nắng”, “nắng cong cong”, “sóng lơn cơn”… Một góc kiêu kỳ của khu vườn đã mở ra.

Bên cạnh đó, các thi pháp hiện đại cũng có thể xem là ưu thế của Minh Đan. Thi pháp này đã xuất hiện không ít trong các tập thơ trước của Minh Đan như “Ngày không bọt”. Nhưng đến “Phút 89” nó trở thành thi pháp chủ đạo, được nữ sĩ sử dụng thuần thục và phù hợp với giai điệu của cảm xúc tạo nên hiệu ứng cộng hưởng cho hiệu quả biểu đạt của thi phẩm.

Ta thấy trong “Ngai tình”: anh đặt môi hôn lên mắt gió/ tiếng thở căng mùi da non/ em lên ngai từ mũi tên/ bầu sữa thơm ngày thai nghén. Ở đây, một trường liên tưởng không xác định được đường biên đã hình thành: anh, môi hôn, mắt gió/ tiếng thở, mùi da non/ em, lên ngai, mũi tên/ bầu sữa, ngày thai nghén, với những ngôn từ mà hàm nghĩa của nó bị rung chuyển bởi một sự tạo tác hàm nghĩa mới, không hề có sự khoanh vùng khi hình thành mà vẫn nằm trong một trường hấp dẫn bởi trung tâm của nó: ngai tình! Có vẻ như cách thức này xém tác tạo nên một trường siêu tưởng như những thi phẩm hiện đại điển hình khác, nhưng không hẳn vậy, nên nó không làm người đọc có cảm giác quá xa lạ. Trong nhiều thi phẩm khác ở “Phút 89” như: “Trước & sau giờ tận thế”, “Quan sát”… chúng ta sẽ bắt gặp những thi pháp rất độc đáo và thú vị mà tôi sẽ đề cập ở phần bên dưới. Song, điều đáng trân trọng, đáng tán dương ở “Phút 89” nặng ký hơn nhiều so với hình thức nghệ thuật xây dựng nên nó. Đó chính là nội dung tư tưởng của thi phẩm.

Vẫn có những niềm riêng: Khát khao của người con gái về tình yêu, có khi là những tâm sự dịu dàng mà da diết: trời đất thăm thẳm/ trăng bao đêm trở giấc lạnh miền sương/ cô đơn em cuồng réo tên anh/ vớt vát môi tình vừa kịp khép… ban mai nắm hờ vai áo/ non non chuyện phiêu bồng (Tình ơi!); hay dữ dội, cháy bỏng: triệu triệu lần khao khát đến bên anh/ như nàng Kiều trong đêm khuya vượt rào thưa tìm Trọng/ giữa mùa trăng, em muốn cúc áo này nới lỏng/ ngọn gió lùa vào thơm mát thịt da… rồi đớn đau bởi những điều hữu hạn giữa tử và sinh, giữa những rào cản đã cũ kỹ trong quan niệm già nua của xã hội: cọc tìm trâu có nghĩa lý gì a (!?) / bao nghiệt ngã cứ nặng oằn lên tóc… nhưng sức sống của tình yêu chân thành, của tuổi thanh xuân tràn trề sinh khí đã hiên ngang lên tiếng cho sứ mệnh “phải sống đẹp”: nhưng sức sống mỗi phút giây bừng trỗi/ những vui buồn ngày tháng cứ hồng hoan (Em muốn…), “Quyền lực trái tim” sau những so sánh với những quyền lực siêu phàm đã khẳng định: em thách thức: còn ai say đắm hơn anh?/ quyền lực lặng im quy phục/ chiến thắng thuộc về tình yêu chân thật/ khu vườn Eden huyền thoại xanh ngời. Có lẽ, Minh Đan đã nói thay cho thân phận nữ nhi những khát khao về tình yêu chân thật, về hạnh phúc giản đơn tự thủa xa xưa đến giờ: “anh và em”, không ai có thể và cũng không ai muốn cản ngăn điều đó – dù những bất trắc vẫn thường tìm đến, bằng hình ảnh rất nữ tính: em đàn bà từ anh - thường trực/ những khát khao không thể đặt vòng (Không thể đặt vòng).

Hay sự suy nghiệm về bản thân như một niềm kiêu hãnh nên có: kiêu hãnh mặc đời ghẹo trêu xấu hổ/ hôm nay em ngước lên cao (Thị Nở vùng lên), rồi về nghề như một sự tự nhắn nhủ cần thiết: ta tranh đấu nghĩa là không uốn bút/ soi lương tâm bình thản nghiệp đời/ phút huy hoàng ngửa mặt hót vui/ bầu trời ấy ngút màu xanh cao vợi (Ngẫm). Đó là những ý thơ đẹp bởi lột tả thành công cái đẹp. Điều đáng quý là Minh Đan cũng ý thức được vẻ đẹp đó của mình và không cần phải vờ che giấu!

Khác với những tập thơ trước, ở “Phút 89”, đề tài thế sự đã kiến tạo nên một cấu thành vững chắc, một kiến trúc nổi bật trong quần thể kiến trúc đẹp. Đó là tấm lòng của nữ sĩ với những cảnh đời không may! Với một em bé bên lề cuộc sống bôn chen: gặm tờ polymer xương xẩu/ tôi náu cơn đói vào mẩu bánh mì vừa mới ra lò/ bên kia đường một em bé lấm lem/ hơi thở xem chừng đứt quãng/ tôi nâng đời em bằng/ mẩu bánh mì không nhưn, không vị/ em ngấu nghiến cơn đói hoành hành, nuốt trộng giấc mơ thi sĩ/ nắng tháng tư lênh loáng mắt cười, và Minh Đan thấy cái thấy của một tấm lòng – nữ sĩ nhận lại: dạ dày tôi bỗng dưng… phấn khích/ ru ngủ mùa phượng vĩ cầm hơi (Đi qua cơn đói), cái mùa phượng vĩ cầm hơi đó “ngon” thật! ấm lòng thật!

Hay với những cô gái “lấy chồng xứ lạ”: sông quê lặng lẽ / nhạn về phố mới/ tương lai trong ánh mắt không màu? ánh mắt không màu ấy thật buồn, tương lai không màu ấy thật buồn, những thân phận buồn – quê hương xa ngút cũng buồn vậy! Rồi với cả một thiếu nữ xinh đẹp đội lốt quỷ (hay quỷ trong lốt cô gái?) thành “ma làng” gây tội nghiệp tày đình, thiên địa bất dung cũng được nữ sĩ nhìn bằng cái nhìn độ lượng và nguyện mong cho con ma ấy một cái kết có hậu: những nấm mồ xanh cỏ/ không còn hoen ố/ bầu trời/ tươi tỉnh ngày trong/ cũng từ ấy, em hồi sinh… Ở vị trí người “quan sát”, nữ sĩ đã thổn thức cho những mảnh ghép dễ vỡ trong đời sống này: là thân phận kẻ ăn mày, phu quét đường, em bé mồ côi, người mẹ già gánh hàng rong, đó không phải sự quan sát đơn thuần mà còn là sự nhập vai, sự hóa thân trải nghiệm – một thủ pháp rất phức tạp để nhìn rõ lòng mình, lòng người: hàng giờ liền vẽ bức thỉnh cầu/ đánh thức lặng im mở tiếng/ ai thản nhiên thốt lời phỉ báng/ xé lòng mùa thiên di… Trong “cong cong thế giới mạng”, “đời trinh nữ”… và nhiều bài khác chúng ta sẽ thấy được những tấm lòng như vậy. Đó là tấm lòng của Minh Đan đối với đất nước! Qua nỗi lòng tri ân của nữ sĩ đối với cuộc chiến tranh vệ quốc thế kỷ 20 trong một chiều về thăm địa đạo Củ Chi: chuyến về nguồn bỗng rơm rớm ướt/ lịch sử cài then - tức ngực/ trở lại phố đông chật chội bóng ngày. Và lột mặt bọn quan tham: sống quanh mình bao người ton hót/ lời nịnh thần nghe dễ lọt tai/ bản lĩnh nào soi đáy lòng tham?/ vơ vét sạch kho tàng có thể/ mặc ai oán, ai than, ai kể (Nằm mơ thấy bao chửng khóc). Hay thái độ căm ghét “gã hàng xóm xấu tính” tự bao đời nay vẫn rắp tâm mưu toan nuốt trọn láng giềng, chà đạp hàng xóm: bởi túi tham, gã nấp dưới ao sâu/ rào đường lưỡi bò chắn ngang cột mốc/ bứng lấy chén cơm đời tôi khó nhọc/ quen cướp giật rồi, mặt gã tỉnh không, và xót xa, căm giận trước sự nhu nhược với kẻ tham bạo: căm giận mình yếu đuối trước hung hăng. Đó là những suy nghiệm của Minh Đan về cõi nhân sinh man man những điều khó tỏ! Có khi thấy như “Mê lộ” không lối thoát: số phận lỏng đinh/ chìa khóa lương tâm tráo trở/ những linh hồn neo thân tạm bợ/ chạy rong khắp ngõ diễn trò, rồi tự nhủ: thôi, nép bên đường nhỏ hẹp/ nhẹ lòng đi giữa hừng đông. Trong cuộc sống bon chen những mưu toan khác chi “Bàn cờ”, những khiếm khuyết trắng đen điên đảo: ô trắng không khuyết mà khuyết cả tên mình/ bọc dưới lớp áo thêu mây dệt gió/ sự thật thôi không bỏ ngỏ/ đừng tự hoan ca phù phiếm nhọc nhằn, nữ sĩ nhắn nhủ: sống vui như cánh cò thoát tục dưới trăng…

Minh Đan ưu tư sâu sắc về sự chân thành: khi nào người ta – ít nhất là – thành thật với chính mình? đợi đến khi tận thế chăng?! có lẽ, còn một nơi khác: đi thẳng vào restroom soi gương xem có phải là mình/ chỉ ở đây con người không tàng hình/ không đóng vai chính vai phụ cho vở diễn/ đưa tay lên ngực trái thấy tim còn nhúc nhích/ biết mình sống sót/ sau giờ tận thế maya (Trước & sau giờ tận thế). Đây là một bài có thi pháp khá độc đáo: sự hôn phối giữa phương pháp giả định huyễn tưởng và phân tâm học tạo nên hiệu ứng hư thực xen kẽ, nhưng vẫn rất tách bạch trong nhận thức.

Trong tập thơ này, “Phút 89” chỉ là cái tựa, không hề xuất hiện trong thơ. Dĩ nhiên, đó là tâm ý của Minh Đan, có thể trùng với cái ý tôi đã nói ở trên, có thể không. Nhưng tôi thấy rằng, “Phút 89” còn là một “thời điểm”, một “bước ngoặc” rất ý nghĩa với Minh Đan. Đó là một bước chuyển hóa của cái đẹp trong thơ Minh Đan, một thành tựu đáng tự hào của cô.

“Phút 89” và những tập thơ như vậy sẽ khiến một ai đó nói rằng “đáng lo cho thế hệ thơ trẻ Việt và thơ Việt trong tương lai” thấy rằng họ đã lo quá sớm, tôi tin thế!

Đó là cảm nhận của cá nhân tôi. Thôi thì, mời độc giả tự cảm nhận và đừng quên lời nhắn nhủ của tác giả: nhặt nhạnh vụn vặt quẳng đi/ bỗng dưng cây đẹp như khi đâm chồi (Đánh thức), cùng với lời mời mà bạn sẽ nhận được khi bước vào khu vườn này: rót nhau rượu lòng thành thật/ môi tình đừng uống mông lung.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm