TIN TỨC

Hành trình văn học Nga ở Việt Nam: Dòng chảy không đứt đoạn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
519 lượt xem

Hà Thanh Vân

Quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô (nay là Liên bang Nga) và Việt Nam được chính thức xác lập từ ngày 30/1/1950 song mối quan hệ văn chương Nga – Việt đã hình thành từ trước đó rất lâu, dưới hai hình thức: sự giao lưu văn hóa và sự tiếp nhận của những người cộng sản Việt Nam từ nền văn hóa, văn học Nga. Đi suốt thế kỷ XX và ở những năm đầu thế kỷ XIX, tuy có những lúc thăng trầm, song mối quan hệ văn chương ấy chưa bao giờ đứt đoạn!

 

Văn học Nga đã có mặt ở Việt Nam trong những năm trước 1945

Văn học Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX nằm trong tiến trình hiện đại hóa, trong đó phần tiếp thu văn học Phương Tây, mà cụ thể là Pháp chiếm vai trò quan trọng, cũng như những ảnh hưởng mang tính truyền thống từ văn học Trung Quốc. Do vậy, những tác phẩm văn học Nga đến với độc giả Việt Nam thời kỳ này  chủ yếu là thông qua bản dịch tiếng Pháp và tiếng Trung. Một số độc giả có trình độ thì đọc qua bản dịch bằng ngôn ngữ khác, nhưng cũng có những bản dịch tiếng Việt. Theo dịch giả Thúy Toàn, sự tiếp xúc đầu tiên của người Việt Nam đối với văn học Nga có thể là sự kiện gặp gỡ giữa vua Hàm Nghi và nhà văn nữ kiêm dịch giả Nga Tatiana Lvovna Shchepkina-Kupernik vào đầu thế kỉ XX tại đất nước Algeria khi ấy là thuộc địa của Pháp. Sau đó, nhà văn Tatiana Lvovna Shchepkina-Kupernik đã cho ra mắt chùm truyện kí mang tên “Những lá thư từ phương xa”, đáng kể nhất là trong đó có truyện ngắn “Hoàng tử Lý Tông” với nhân vật chính là vua Hàm Nghi. Cũng trong những năm đầu thế kỷ XX, khi làm thợ ảnh tại Paris, Nguyễn Ái Quốc đã đọc đã đọc tác phẩm của Lev Tolstoy và tự nhận mình là “người học trò nhỏ” của đại văn hào Nga. Huỳnh Thúc Kháng khi làm báo “Tiếng dân” đã cho in bản dịch tác phẩm “Phục sinh” của Lev Tolstoy từ số 9 ra ngày 10/8/1927 đến số cuối cùng ra ngày 30/5/1928.

Bên cạnh đó, cũng có những nhà văn Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn học Nga, từ đó mô phỏng, sáng tác thành tác phẩm văn học của bản thân. Có thể kể đến Hồ Biểu Chánh với tác phẩm “Người thất chí” phóng tác “Tội ác và hình phạt” của Fyodor Dostoevsky hay Vũ Bằng viết tác phẩm “Em ơi đừng tuyệt vọng” phóng tác “Đêm trắng” cũng của Fyodor Dostoevsky… Ngoài ra cũng phải kể đến tư tưởng văn nghệ Marxist của Nga đã ảnh hưởng rõ rệt thông qua các bài viết của Hải Triều và nhóm chủ trương “nghệ thuật vị nhân sinh” trong thập niên 30 của thế kỷ XX.

Văn học Nga được giới thiệu cả ở miền Bắc và miền Nam trong giai đoạn 1945 – 1975

Sau năm 1945, có thể nói là thời hoàng kim của văn học Nga ở Việt Nam. Do tình hình chính trị, xã hội cũng như sự giao lưu văn hóa, giáo dục, văn học Nga nhanh chóng trở thành dòng chủ lưu trong những nền văn học nước ngoài được dịch ở Việt Nam, đặc biệt kể từ khi Hiệp định hợp tác văn hóa Xô – Việt được kí kết vào năm 1957. Trước đó trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954, văn học Nga đã được chú ý dịch nhiều ở Việt Nam, trong đó phải kể đến hiện tượng bài thơ “Đợi anh về” của Konstantin Simonov được Tố Hữu dịch qua bản tiếng Pháp vào khoảng năm 1949 và nhanh chóng trở thành bài thơ yêu thích của nhiều độc giả.

Gọi giai đoạn này là thời kỳ hoàng kim của văn học Nga ở Việt Nam bởi lẽ bên cạnh sự gần gũi về hệ tư tưởng và tương đồng về thể chế chính trị, việc Liên Xô giúp đỡ Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục đào tạo, đã hình thành một lớp dịch giả xuất sắc và những nhà Nga học có tên tuổi. Đó là Đoàn Tử Huyến, Thúy Toàn, Thái Bá Tân, Nguyễn Đăng Bảy, Phạm Vĩnh Cư, Vũ Thế Khôi, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Hải Hà, Phan Hồng Giang, Đào Tuấn Ảnh, Ngân Xuyên… Việc tiếng Nga được giảng dạy rộng khắp trong môi trường phổ thông và đại học ở miền Bắc cũng tạo một môi trường rộng lớn và điều kiện để hình thành nhiều thế hệ yêu văn học Nga. Mặt khác, phải kể đến tình yêu văn học Nga của rất nhiều độc giả. Đó là thứ tình yêu tự nguyện, xuất phát từ niềm tin và lý tưởng về một nước Nga đẹp đẽ, là bạn của Việt Nam. Vì vậy, hầu hết những tác phẩm kinh điển của văn học Nga với những tên tuổi như  Aleksandr Pushkin, Mikhail Lermontov, Ivan Turgenev, Lev Tolstoy, Fyodor Dostoievsky, Nicolay Gogol, Anton Chekhov, Marxim Gorky, Sergey Yesenin, Ivan Bunin… đã được dịch và thời hoàng kim này kéo dài đến tận những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX.

Văn học Nga thời Xô Viết và dòng văn học viết về chiến tranh cũng đặc biệt được chú trọng dịch ở Việt Nam. Sự hy sinh, tinh thần cao cả chiến đấu vì tổ quốc, lòng nhân ái, tình yêu thương con người trong những tác phẩm của văn học Nga Xô Viết đã khiến cho độc giả Việt Nam tâm đắc và nhiều tác phẩm đã trở thành sách gối đầu giường của nhiều thế hệ, trong đó phải nói đến tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” của Nicolay Ostrovsky và các tác giả như Vladimir Mayakovsky, Mikhail Solokhov, Yuri Bondarev, Boris Polevoy…

Không chỉ thu hút độc giả Việt Nam bởi tính chất sử thi và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, văn học Nga còn được lòng công chúng Việt bởi những tác phẩm mang sắc thái lãng mạn, trữ tình, trong trẻo với những nhà văn, nhà thơ như Konstantin Paustovsky, Olga Berggolts, Anna Akhmatova… Đặc biệt, văn học thiếu nhi Nga được giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam với những tác phẩm đi vào ký ức đẹp một thời của công chúng như “Cánh buồm đỏ thắm” của Aleksei Grin, “Timur và đồng đội” và “Số phận chú bé đánh trống” của Arkady Gaidar, “Chiếc chìa khóa vàng hay chuyện li kỳ của Buratino” của Aleksei Tolstoy…

Cũng trong giai đoạn 1945 – 1975, ở phía miền Nam, văn học Nga vẫn được dịch và giới thiệu tuy không nhiều. Điều này cho thấy các độc giả miền Nam thời đó vẫn có sự quan tâm đến văn học Nga. Những dịch giả như Nguyễn Hiến Lê, Tràng Thiên (tức là nhà văn Võ Phiến), Thạch Chương, Vũ Đình Lưu, Đỗ Khánh Hoan… đã dịch nhiều tác phẩm kinh điển của văn học Nga thường thông qua một ngôn ngữ thứ hai như tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. Một so sánh cho thấy trước năm 1975, tại miền Nam đã dịch tác phẩm của cả bốn nhà văn Nga đoạt giải Nobel Văn học là Ivan Bunin (1933), Boris Pasternak (1958), Mikhail Sholokhov (1965) và Aleksandr Solzhenitsyn (1970), trong khi cũng ở giai đoạn này miền Bắc Việt Nam chỉ dịch tác phẩm của Mikhail Sholokhov. Có lẽ công chúng có nhu cầu đọc văn học Nga để hiểu thêm về một đất nước bị xem là “bên kia bức màn sắt” và như một món ăn tinh thần lạ.

Văn học Nga từ sau 1975 ở Việt Nam: bức tranh nhiều màu sắc

Sau 1975, việc dịch văn học Nga ở Việt Nam tiếp tục được nối dài với một loạt tác phẩm, đặc biệt là sau thời kỳ cải tổ (perestroika) của Nga và cái mốc đổi mới năm 1986 của Việt Nam. Một loạt những tác phẩm từng bị cấm xuất bản ở Nga đã được nhanh chóng dịch sang tiếng Việt, chẳng hạn như “Bác sĩ Zhivago” của Boris Pasternak, “Những đứa con phố Arbat” của Anatoli Rybakov, “Nghệ nhân và Margarita” của Mikhail Bulgakov và những truyện ngắn của Ivan Bunin… Công chúng háo hức đón nhận những tác phẩm này từ sự mới mẻ, cũng như những điều cấm kỵ ngày trước. Lúc này văn học Nga vẫn là dòng chủ lưu của những nền văn học nước ngoài được giới thiệu ở Việt Nam.

Sau thời kỳ hậu Xô Viết, còn lại Liên bang Nga và từ đó mối quan tâm đến văn học Nga sút giảm vì nhiều lẽ: Tiếng Nga không còn là ngoại ngữ chính và được dạy nhiều như trước, sự giao lưu văn hóa, giáo dục cũng không còn nhiều. Những tác phẩm kinh điển, nổi tiếng của văn học Nga hầu như đã được dịch ở Việt Nam, nhưng văn học đương đại Nga thì ít người quan tâm. Tình trạng này kéo dài từ thập niên 90 của thế kỷ XX sang đến những năm đầu thế kỷ XXI. Nhưng sự trầm lắng này đã có những dấu hiệu khởi sắc hơn. Năm 2012 Quỹ hỗ trợ quảng bá văn học Việt Nam – văn học Nga ra đời, trực thuộc Hội Nhà văn Việt Nam. Từ đó đến nay, nhiều tác phẩm đương đại của văn học Nga được dịch và giới thiệu ở Việt Nam. Ngoài thế hệ dịch giả cao niên, hiện nay có thêm một đội ngũ các dịch giả trẻ và sung sức hơn như Trần Thị Phương Phương, Phan Xuân Loan, Thiên Lương, Lê Hải Đoàn…

Văn học Nga trong nhiều thế kỷ qua luôn là một nền văn học lớn. Do những đặc thù về tình hình chính trị, xã hội, công chúng Việt Nam đã được biết đến văn học Nga từ rất sớm. Cho đến ngày nay, dẫu qua nhiều thăng trầm của lịch sử, văn học Nga vẫn ghi dấu ấn đậm nét trong lòng độc giả Việt Nam với những tác phẩm kinh điển liên tục được tái bản và những tác phẩm mới được dịch của thời đương đại.

H.T.V/ Báo Dân Việt

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hữu Thỉnh và chiến sĩ xe tăng
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian nan khốc liệt của dân tộc Việt Nam trong gần một phần tư thế kỷ như một bản trường ca âm vang giai điệu trầm lắng bi hùng, đã phản ánh phẩm chất cao đẹp sáng ngời của mọi tầng lớp nhân dân ở cả ba miền. Những người tham gia vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cầm súng trực diện đấu tranh với quân thù có những chiến sĩ làm văn nghệ thuộc đủ binh chủng như: Nguyễn Thi (1928-1968), Lê Anh Xuân (1940-1968), … và Hữu Thỉnh. Trong đó, xuất thân từ một chiến sĩ xe tăng, Hữu Thỉnh được coi là một gương mặt thơ xuất sắc nổi trội trong nền văn học có lửa của giai đoạn 1954-1975.
Xem thêm
Lê Quang Sinh và nghệ thuật phê bình thơ
Bài viết của PGS.TS Hồ Thế Hà
Xem thêm
Anh nằm đây – trẻ mãi tuổi hai mươi
Bài viết về thơ Trần Ngọc Phượng
Xem thêm
Lê Tiến Vượng và hai tập lục bát liền hơi
Bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương về hai tập lục bát của Lê Tiến Vượng xuất bản cuối năm 2016 (Lục bát khóc cười) và cuối năm 2018 (Lục bát phố).
Xem thêm
“Gặp” lại nhà văn Lưu Thành Tựu với “Hoa xương rồng trên cửa sổ tầng 5”
Nhà văn Lưu Thành Tựu hiện là phó ban điều hành phân hội văn học, hội văn học nghệ thuật Bình Dương. Truyện ngắn Hoa xương rồng trên cửa sổ tầng 5 của anh là tác phẩm đạt giải tại Cuộc thi truyện ngắn Đông Nam bộ năm 2022, đã đăng trên vanvn.vn và Tạp chí Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh như một sự ra mắt sau khi tác giả được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Xem thêm
Chất Folklore trong Lục bát khóc cười và Lục bát phố
Cầm hai tập thơ thuần thể loại lục bát quen thuộc, nghĩ đọc cũng hơi ngại bởi cứ đều đều một điệu, dễ chán. Nhưng đọc một vài bài mở đầu trong tập “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố” của Lê Tiến Vượng thì cảm giác ấy dần mất đi và thay vào đó là cảm giác hào hứng và thú vị.
Xem thêm
Trăn trở sự tồn tại người - Gía trị nhân bản trong thơ Văn Cao
Đọc thơ Văn Cao, ở nhiều thi phẩm như: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Những người trên cửa biển, Khuôn mặt em, Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, Lá, Trôi, Thời gian, Cánh cửa, Thu cô liêu, Năm buổi sáng không có trong sự thật, Ba biến khúc tuổi 65, Linh cầm tiến… bạn đọc cũng có thể thấy sự đa dạng cung bậc cảm xúc, có xôn xao, có sâu lắng bâng khuâng… nhưng dường như chủ đạo vẫn là những thì thầm tự vấn, suy tư trăn trở, đau buồn và thậm chí nhiều khi hoang mang, kinh hãi, lo âu. Phải chăng, tất cả những thể nghiệm cảm xúc nội tâm ấy bắt nguồn sâu xa từ những “chấn thương” tinh thần của tác giả bởi tác động của hoàn cảnh sống? Và dưới tầng sâu lớp ngôn từ của mỗi thi phẩm ẩn giấu bao mỹ cảm mà chúng ta cần suy ngẫm“giải mã”?
Xem thêm
Nguyễn Trọng Tạo mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió
Hôm nay 12/6, Nhà lưu niệm nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo (1947-2019) được khánh thành tại đội 6, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Xem thêm
Số phận các nhân vật nữ trong tập truyện ngắn “Đảo” của Nguyễn Ngọc Tư
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, là nhà văn, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Năm 2018, cô được trao Giải thưởng Văn học Liberaturpreis 2018 do Litprom (Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin ở Đức) bình chọn, dựa trên việc xem xét các bản dịch tiếng Đức tác phẩm nổi bật của các tác giả nữ đương đại tiêu biểu trong khu vực. Giải thưởng được trao hàng năm nhằm vinh danh các tác giả nữ đến từ châu Á, Phi, Mỹ Latin, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) và vùng Caribe.
Xem thêm
Lê Khánh Mai và hành trình nhà thơ nữ bứt phá
Nhà thơ, nhà văn Lê Khánh Mai đến nay (năm 2024) đã ấn hành 12 đầu sách, trong đó có 7 tập thơ, 1 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn, 1 chuyên luận văn học, 1 tập tiểu luận phê bình văn học, 1 tập tản văn và tuỳ bút. Sức sáng tạo ở một tác giả nữ như vậy là liên tục và rất mạnh mẽ. Thơ là thể loại chính của ngòi bút Lê Khánh Mai nhưng văn xuôi và lý luận, phê bình cũng đạt nhiều thành tựu. Tất cả làm nên tên tuổi của một nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của tỉnh Khánh Hoà và của văn học Việt Nam hiện đại.
Xem thêm
Trần Đàm đi tìm một bản ngã
Đã ngoài tám mươi mà mỗi lần theo ông, cánh hậu sinh chúng tôi cách ông cả giáp vẫn thấy hụt hơi. Đúng là không nói ngoa cả khi leo dốc, đường trường lẫn khi viết lách, chơi bời.
Xem thêm
Đọc Người xa lạ của Albert Camus bằng chiếc gương soi của chủ nghĩa hiện sinh
Giàu Dương Nếu triết học cổ điển đề cao bản chất và dấn thân vào việc tìm kiếm những định nghĩa về bản chất, thì trào lưu hiện sinh tập trung vào sự tồn tại của bản thể, lấy đó làm điểm khởi nguyên cho mọi sự phóng chiếu vào thực tại khách quan. Người xa lạ (L’Étranger) của Albert Camus ra đời như một dấu ấn sâu sắc của triết thuyết hiện sinh ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XX. Là một triết gia, nhà văn tài hoa, Camus đã mở ra những cánh cửa để người đọc bước vào thế giới của “kẻ xa lạ” Meursault – một người đàn ông tự mình chọn lấy thế đứng bên lề của xã hội. Hành trình của Meursault không đi tìm một kết luận duy nhất của sự tồn tại mà chỉ trình bày sự tồn tại như nó vốn là.
Xem thêm
Một thế giới rất ‘đời’ trong sáng tác của Tản Đà
Nhà thơ, nhà báo Tản Đà (SN 1889), quê làng Khê Ngoại, xã Sơn Đà, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
Xem thêm
Cây có cội, nước có nguồn
Nguồn: Báo Văn nghệ số 19/2024
Xem thêm
Khát vọng Dế Mèn
Sự ra đời của Giải thưởng Dế Mèn cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà…
Xem thêm
Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay!
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm