TIN TỨC

Hành trình văn học Nga ở Việt Nam: Dòng chảy không đứt đoạn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-11-17 20:57:01
mail facebook google pos stwis
2362 lượt xem

Hà Thanh Vân

Quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô (nay là Liên bang Nga) và Việt Nam được chính thức xác lập từ ngày 30/1/1950 song mối quan hệ văn chương Nga – Việt đã hình thành từ trước đó rất lâu, dưới hai hình thức: sự giao lưu văn hóa và sự tiếp nhận của những người cộng sản Việt Nam từ nền văn hóa, văn học Nga. Đi suốt thế kỷ XX và ở những năm đầu thế kỷ XIX, tuy có những lúc thăng trầm, song mối quan hệ văn chương ấy chưa bao giờ đứt đoạn!

 

Văn học Nga đã có mặt ở Việt Nam trong những năm trước 1945

Văn học Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX nằm trong tiến trình hiện đại hóa, trong đó phần tiếp thu văn học Phương Tây, mà cụ thể là Pháp chiếm vai trò quan trọng, cũng như những ảnh hưởng mang tính truyền thống từ văn học Trung Quốc. Do vậy, những tác phẩm văn học Nga đến với độc giả Việt Nam thời kỳ này  chủ yếu là thông qua bản dịch tiếng Pháp và tiếng Trung. Một số độc giả có trình độ thì đọc qua bản dịch bằng ngôn ngữ khác, nhưng cũng có những bản dịch tiếng Việt. Theo dịch giả Thúy Toàn, sự tiếp xúc đầu tiên của người Việt Nam đối với văn học Nga có thể là sự kiện gặp gỡ giữa vua Hàm Nghi và nhà văn nữ kiêm dịch giả Nga Tatiana Lvovna Shchepkina-Kupernik vào đầu thế kỉ XX tại đất nước Algeria khi ấy là thuộc địa của Pháp. Sau đó, nhà văn Tatiana Lvovna Shchepkina-Kupernik đã cho ra mắt chùm truyện kí mang tên “Những lá thư từ phương xa”, đáng kể nhất là trong đó có truyện ngắn “Hoàng tử Lý Tông” với nhân vật chính là vua Hàm Nghi. Cũng trong những năm đầu thế kỷ XX, khi làm thợ ảnh tại Paris, Nguyễn Ái Quốc đã đọc đã đọc tác phẩm của Lev Tolstoy và tự nhận mình là “người học trò nhỏ” của đại văn hào Nga. Huỳnh Thúc Kháng khi làm báo “Tiếng dân” đã cho in bản dịch tác phẩm “Phục sinh” của Lev Tolstoy từ số 9 ra ngày 10/8/1927 đến số cuối cùng ra ngày 30/5/1928.

Bên cạnh đó, cũng có những nhà văn Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn học Nga, từ đó mô phỏng, sáng tác thành tác phẩm văn học của bản thân. Có thể kể đến Hồ Biểu Chánh với tác phẩm “Người thất chí” phóng tác “Tội ác và hình phạt” của Fyodor Dostoevsky hay Vũ Bằng viết tác phẩm “Em ơi đừng tuyệt vọng” phóng tác “Đêm trắng” cũng của Fyodor Dostoevsky… Ngoài ra cũng phải kể đến tư tưởng văn nghệ Marxist của Nga đã ảnh hưởng rõ rệt thông qua các bài viết của Hải Triều và nhóm chủ trương “nghệ thuật vị nhân sinh” trong thập niên 30 của thế kỷ XX.

Văn học Nga được giới thiệu cả ở miền Bắc và miền Nam trong giai đoạn 1945 – 1975

Sau năm 1945, có thể nói là thời hoàng kim của văn học Nga ở Việt Nam. Do tình hình chính trị, xã hội cũng như sự giao lưu văn hóa, giáo dục, văn học Nga nhanh chóng trở thành dòng chủ lưu trong những nền văn học nước ngoài được dịch ở Việt Nam, đặc biệt kể từ khi Hiệp định hợp tác văn hóa Xô – Việt được kí kết vào năm 1957. Trước đó trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954, văn học Nga đã được chú ý dịch nhiều ở Việt Nam, trong đó phải kể đến hiện tượng bài thơ “Đợi anh về” của Konstantin Simonov được Tố Hữu dịch qua bản tiếng Pháp vào khoảng năm 1949 và nhanh chóng trở thành bài thơ yêu thích của nhiều độc giả.

Gọi giai đoạn này là thời kỳ hoàng kim của văn học Nga ở Việt Nam bởi lẽ bên cạnh sự gần gũi về hệ tư tưởng và tương đồng về thể chế chính trị, việc Liên Xô giúp đỡ Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục đào tạo, đã hình thành một lớp dịch giả xuất sắc và những nhà Nga học có tên tuổi. Đó là Đoàn Tử Huyến, Thúy Toàn, Thái Bá Tân, Nguyễn Đăng Bảy, Phạm Vĩnh Cư, Vũ Thế Khôi, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Hải Hà, Phan Hồng Giang, Đào Tuấn Ảnh, Ngân Xuyên… Việc tiếng Nga được giảng dạy rộng khắp trong môi trường phổ thông và đại học ở miền Bắc cũng tạo một môi trường rộng lớn và điều kiện để hình thành nhiều thế hệ yêu văn học Nga. Mặt khác, phải kể đến tình yêu văn học Nga của rất nhiều độc giả. Đó là thứ tình yêu tự nguyện, xuất phát từ niềm tin và lý tưởng về một nước Nga đẹp đẽ, là bạn của Việt Nam. Vì vậy, hầu hết những tác phẩm kinh điển của văn học Nga với những tên tuổi như  Aleksandr Pushkin, Mikhail Lermontov, Ivan Turgenev, Lev Tolstoy, Fyodor Dostoievsky, Nicolay Gogol, Anton Chekhov, Marxim Gorky, Sergey Yesenin, Ivan Bunin… đã được dịch và thời hoàng kim này kéo dài đến tận những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX.

Văn học Nga thời Xô Viết và dòng văn học viết về chiến tranh cũng đặc biệt được chú trọng dịch ở Việt Nam. Sự hy sinh, tinh thần cao cả chiến đấu vì tổ quốc, lòng nhân ái, tình yêu thương con người trong những tác phẩm của văn học Nga Xô Viết đã khiến cho độc giả Việt Nam tâm đắc và nhiều tác phẩm đã trở thành sách gối đầu giường của nhiều thế hệ, trong đó phải nói đến tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” của Nicolay Ostrovsky và các tác giả như Vladimir Mayakovsky, Mikhail Solokhov, Yuri Bondarev, Boris Polevoy…

Không chỉ thu hút độc giả Việt Nam bởi tính chất sử thi và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, văn học Nga còn được lòng công chúng Việt bởi những tác phẩm mang sắc thái lãng mạn, trữ tình, trong trẻo với những nhà văn, nhà thơ như Konstantin Paustovsky, Olga Berggolts, Anna Akhmatova… Đặc biệt, văn học thiếu nhi Nga được giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam với những tác phẩm đi vào ký ức đẹp một thời của công chúng như “Cánh buồm đỏ thắm” của Aleksei Grin, “Timur và đồng đội” và “Số phận chú bé đánh trống” của Arkady Gaidar, “Chiếc chìa khóa vàng hay chuyện li kỳ của Buratino” của Aleksei Tolstoy…

Cũng trong giai đoạn 1945 – 1975, ở phía miền Nam, văn học Nga vẫn được dịch và giới thiệu tuy không nhiều. Điều này cho thấy các độc giả miền Nam thời đó vẫn có sự quan tâm đến văn học Nga. Những dịch giả như Nguyễn Hiến Lê, Tràng Thiên (tức là nhà văn Võ Phiến), Thạch Chương, Vũ Đình Lưu, Đỗ Khánh Hoan… đã dịch nhiều tác phẩm kinh điển của văn học Nga thường thông qua một ngôn ngữ thứ hai như tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. Một so sánh cho thấy trước năm 1975, tại miền Nam đã dịch tác phẩm của cả bốn nhà văn Nga đoạt giải Nobel Văn học là Ivan Bunin (1933), Boris Pasternak (1958), Mikhail Sholokhov (1965) và Aleksandr Solzhenitsyn (1970), trong khi cũng ở giai đoạn này miền Bắc Việt Nam chỉ dịch tác phẩm của Mikhail Sholokhov. Có lẽ công chúng có nhu cầu đọc văn học Nga để hiểu thêm về một đất nước bị xem là “bên kia bức màn sắt” và như một món ăn tinh thần lạ.

Văn học Nga từ sau 1975 ở Việt Nam: bức tranh nhiều màu sắc

Sau 1975, việc dịch văn học Nga ở Việt Nam tiếp tục được nối dài với một loạt tác phẩm, đặc biệt là sau thời kỳ cải tổ (perestroika) của Nga và cái mốc đổi mới năm 1986 của Việt Nam. Một loạt những tác phẩm từng bị cấm xuất bản ở Nga đã được nhanh chóng dịch sang tiếng Việt, chẳng hạn như “Bác sĩ Zhivago” của Boris Pasternak, “Những đứa con phố Arbat” của Anatoli Rybakov, “Nghệ nhân và Margarita” của Mikhail Bulgakov và những truyện ngắn của Ivan Bunin… Công chúng háo hức đón nhận những tác phẩm này từ sự mới mẻ, cũng như những điều cấm kỵ ngày trước. Lúc này văn học Nga vẫn là dòng chủ lưu của những nền văn học nước ngoài được giới thiệu ở Việt Nam.

Sau thời kỳ hậu Xô Viết, còn lại Liên bang Nga và từ đó mối quan tâm đến văn học Nga sút giảm vì nhiều lẽ: Tiếng Nga không còn là ngoại ngữ chính và được dạy nhiều như trước, sự giao lưu văn hóa, giáo dục cũng không còn nhiều. Những tác phẩm kinh điển, nổi tiếng của văn học Nga hầu như đã được dịch ở Việt Nam, nhưng văn học đương đại Nga thì ít người quan tâm. Tình trạng này kéo dài từ thập niên 90 của thế kỷ XX sang đến những năm đầu thế kỷ XXI. Nhưng sự trầm lắng này đã có những dấu hiệu khởi sắc hơn. Năm 2012 Quỹ hỗ trợ quảng bá văn học Việt Nam – văn học Nga ra đời, trực thuộc Hội Nhà văn Việt Nam. Từ đó đến nay, nhiều tác phẩm đương đại của văn học Nga được dịch và giới thiệu ở Việt Nam. Ngoài thế hệ dịch giả cao niên, hiện nay có thêm một đội ngũ các dịch giả trẻ và sung sức hơn như Trần Thị Phương Phương, Phan Xuân Loan, Thiên Lương, Lê Hải Đoàn…

Văn học Nga trong nhiều thế kỷ qua luôn là một nền văn học lớn. Do những đặc thù về tình hình chính trị, xã hội, công chúng Việt Nam đã được biết đến văn học Nga từ rất sớm. Cho đến ngày nay, dẫu qua nhiều thăng trầm của lịch sử, văn học Nga vẫn ghi dấu ấn đậm nét trong lòng độc giả Việt Nam với những tác phẩm kinh điển liên tục được tái bản và những tác phẩm mới được dịch của thời đương đại.

H.T.V/ Báo Dân Việt

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm