TIN TỨC

Học văn thời công nghệ số

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-03-16 08:47:40
mail facebook google pos stwis
1615 lượt xem

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Từ buổi giao lưu về đề tài “Ước vọng cho học đường và câu chuyện học văn”, tôi nhận được nhiều ý kiến phản hồi rất thú vị, trong đó có ba ý kiến đáng suy nghĩ nhất.

Sau bài tường thuật “Tại sao môn văn dưới góc nhìn xã hội lại bị giảm sút uy tín?” của Hà Ánh trên báo Thanh Niên, độc giả Vietroad nhận định một cách nghiêm khắc: “Môn văn là môn bắt buộc ở phổ thông, số tiết học tương đương với môn toán, vậy mà ra trường rất nhiều trường hợp viết sai chính tả, thậm chí cả người làm trong lĩnh vực văn hóa. Điều này khó có thể chấp nhận. Hãy thay đổi cách dạy. Hãy dạy tiếng Việt thay cho dạy văn. Thay vì bắt học sinh ngồi bình luận, miêu tả, cảm nhận tác phẩm văn học, thì nên ngồi rèn từ ngữ, ngữ pháp cho thành thạo. Tìm hiểu Truyện Kiều làm gì khi mà bản thân viết một câu không ra hồn”.
 


GS.TS Huỳnh Như Phương

Quả thật gần đây có nhiều ý kiến phàn nàn về tình trạng dạy văn quá tải hiện nay, từ đó đề nghị không nên sa vào chương trình văn học nặng nề mà chỉ nên tập trung dạy tiếng Việt thật tốt để học sinh ra trường nói và viết đúng ngữ pháp. Thật đáng buồn khi một số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông rồi mà vẫn không viết chuẩn một cái đơn xin việc. Quả là nghịch lý khi chưa bao giờ sách giáo khoa cung cấp nhiều kiến thức ngôn ngữ học hiện đại, sâu sắc như bây giờ nhưng cũng chưa bao giờ học sinh viết sai chính tả và ngữ pháp nhiều như bây giờ. Chúng tôi thật khổ tâm khi chấm bài tuyển sinh ngành văn, phải chấp nhận những bài thi có ý tưởng tốt nhưng diễn đạt rối rắm, mơ hồ. Lẽ ra nhà trường phổ thông phải giải quyết yêu cầu về kỹ năng viết lách, trình bày cho học sinh trước khi họ bước chân vào đại học. Theo thông tin của GS Trần Hữu Dũng, một nghiên cứu gần đây ở Mỹ cho biết yếu tố quan trọng hàng đầu dẫn đến thành công trong bất cứ ngành nghề nào là khả năng viết báo cáo, phát biểu, thuyết trình cho rõ ràng, mạch lạc – điều có thể trang bị từ việc học ngôn ngữ và văn nghị luận – chứ không phải kiến thức chuyên môn về toán học, hóa học hay địa chất.

Hồi tôi học cấp hai, thầy giáo khuyên nên mua một cuốn từ điển tiếng Việt và cuốn sách giúp ích nhiều cho tôi là Việt Nam tân từ điển minh họa của Thanh Nghị. Ở tiểu học, thầy giáo cũng chỉ bày một lần quy luật viết chính tả các từ láy theo câu ghi nhớ “Huyền Ngã Nặng – Sắc Không Hỏi” là mình có thể áp dụng mà không sợ viết sai, trừ một số ít trường hợp ngoại lệ. Hiện nay, học sinh sinh viên sẵn sàng mua từ điển tiếng Anh hơn là từ điển tiếng Việt, hình như họ cho rằng người bản ngữ thì không lo viết sai tiếng Việt, chỉ lo sai tiếng Anh. Nhưng ở thời đại công nghệ số, dùng tự điển online cũng rất tiện dụng. Khi soạn thảo văn bản, người học có thể cài phần mềm sửa lỗi tiếng Việt để kịp thời chỉnh sửa. Điều quan trọng là chúng ta có tra cứu cẩn trọng như một thói quen thường xuyên hay không.

Tuy nhiên, ý kiến cho rằng chỉ cần coi trọng dạy tiếng Việt mà không đặt nặng việc dạy văn học cũng khó thuyết phục vì văn học là nghệ thuật ngôn từ, giữa học văn và học tiếng có mối quan hệ hỗ tương không thể tách rời. Người học sinh giỏi tiếng Việt sẽ am hiểu sâu sắc tác phẩm văn học, ngược lại người cảm thụ văn chương tinh tế sẽ viết tiếng Việt hay. Hơn nữa, có tư duy và quan niệm sáng rõ thì mới diễn đạt được mạch lạc, khúc chiết.

Phản hồi về bài tường thuật “Dạy văn ở phổ thông chủ yếu là dạy người” của Trần Mặc trên báo Tuổi Trẻ, độc giả Van Do phản biện thẳng thắn: “Dạy người là khái niệm mơ hồ, chưa có định nghĩa. Tạm hiểu là dạy nhân cách. Môn nào cũng góp phần dạy người, nhưng môn văn có ưu thế. Dẫu như vậy thì dạy văn vẫn là dạy “văn” cũng như dạy toán phải là dạy nội dung toán học”.

Ý kiến trên đây giúp tôi suy nghĩ kỹ hơn về đặc trưng của môn văn ở trường phổ thông để phân biệt với các môn học khác. Quả thật không phải chỉ môn văn mới góp phần đào tạo một con người toàn diện. Người thầy giáo dạy khoa học tự nhiên cũng góp phần dạy cho con người hiểu biết về thế giới, có kiến thức và tầm nhìn sâu rộng. Người thầy giáo dạy toán, bằng cung cách và phong thái dạy học, bằng việc đề cao sự chính xác, cũng dạy cho học trò có tư duy logic và nhân cách thẳng thắn, trung thực.

Tuy nhiên, môn văn (ở trường phổ thông) “có ưu thế” vì mục đích cuối cùng không phải là dạy người học hiểu biết kiến thức văn học, để thuộc làu lịch sử văn học hay các mệnh đề lý luận như thuộc các định luật vật lý hay định lý toán học. Môn văn ở trường phổ thông gánh sứ mạng bồi dưỡng cho học sinh tình thương yêu, lòng trắc ẩn, sự ăn năn, niềm rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên và con người, sự nhạy cảm với nỗi cô đơn cùng với lòng khát khao được giao cảm và hòa hợp. Điều đó không phải là nhiệm vụ “chủ yếu” của các môn học khác. Các môn toán học, vật lý, hóa học, sinh học dạy ta kiến thức nền tảng để ta áp dụng khi học làm thợ máy, kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ… Còn môn văn học “chủ yếu” không chuẩn bị để ta làm văn sĩ. Dạy học trò kiến thức về điện để họ có thể giúp gia đình mắc cái bóng đèn; còn dạy học trò cách miêu tả con mèo hay cây thông không phải để họ viết được truyện ngắn hay tùy bút về các đề tài ấy, mà để họ luyện óc quan sát và trau dồi tình yêu với loài vật cũng như ý thức bảo vệ môi trường sinh thái. Người ta không phê phán cách giải những bài toán mẫu mà phê phán cách dạy văn mẫu, vì văn mẫu góp phần thủ tiêu việc “dạy người” như là những cá nhân độc đáo, có cảm nhận và suy nghĩ riêng về cuộc đời. Cũng chính từ đây mới thấy công nghệ giáo dục có thể thành công trong việc dạy các môn tự nhiên, cả các môn khoa học xã hội như lịch sử, địa lý nhưng chắc không có “ưu thế” trong việc dạy văn chương, nghệ thuật.

Nhưng nói như vậy phải chăng là môn văn (ở trường phổ thông) đứng ngoài, thậm chí dửng dưng với sự tiến bộ của công nghệ số và chúng ta vẫn dậm chân tại chỗ hay quay lại thời của những thầy đồ dạy văn trước đây.

Không. Công nghệ số giúp cho việc học văn rất nhiều thuận lợi nếu ta biết khai thác thế mạnh của nó. Nhờ Internet, chưa bao giờ học sinh có thể tham khảo nhiều tài liệu văn học phong phú như hiện nay. Google có thể trả lời những thắc mắc về kiến thức văn học một cách nhanh chóng. Nếu phòng học được trang bị hiện đại, bằng những thao tác chính xác, trong khi dạy trích đoạn tiểu thuyết Những người khốn khổ của V. Hugo, giáo viên có thể dẫn đường link chiếu lên màn ảnh cho học sinh xem một đoạn phim dựng từ tác phẩm ấy để minh họa cho bài học. Trong khi dạy trích đoạn Truyện Kiều của Nguyễn Du, giáo viên có thể vào mạng YouTube mở cho học sinh nghe một bài Kiều ca của Phạm Duy để tăng thêm cảm xúc về bài học. Khó khăn hiện nay là do những quy định quá chặt chẽ về giờ giấc, quy trình giảng dạy, khiến người giáo viên bó tay, không được phép “sáng tạo” thêm được gì ngoài sách giáo khoa và giáo án đã được phê duyệt.

Thời công nghệ số tạo điều kiện cho người học tiếp cận với kho tàng văn học nghệ thuật phong phú từ cổ điển đến hiện đại và hậu hiện đại. Trong bài viết Cho tôi lại nhà trường trên trang vanvn.vn, nhà giáo Lê Thị Thanh Vy góp ý rất xác đáng: “Với thời chiến hay sau đó với thế hệ 7x, 8x, sách vở rất thiếu thốn nên sách giáo khoa còn là một nguồn không gian tinh thần quan trọng bậc nhất, và những câu chuyện trong sách giáo khoa đóng những vai trò chính yếu trong hành trình “khai tâm” cho tuổi trẻ. Nhưng ngày nay, nếu giới trẻ được bao vây trong rất nhiều “câu chuyện”: phim ảnh đủ mọi nguồn và vô cùng dễ tiếp cận, truyện tranh, Facebook, TikTok, thậm chí các video tóm tắt phim nhan nhản… – thì nên tiếp cận những câu chuyện trong sách giáo khoa như thế nào để những tác phẩm này thực hiện sứ mạng khai tâm, chữa lành của mình”. Từ đây, một vấn đề đặt ra là chọn văn bản nào giảng dạy trong nhà trường cho phù hợp với thời đại và tâm lý lứa tuổi, để người học vừa không cắt đứt với quá khứ, vừa không xa lạ với hiện tại và tương lai. Đâu là những giá trị bền vững đã qua thử thách cần trao truyền trong sách giáo khoa để kết nối nhiều thế hệ mà không phải thay sách liên tục như hiện nay. Sách giáo khoa lưu giữ truyền thống ra sao và thu nhận tinh thần đương đại ở mức độ nào, đó là câu hỏi không đơn giản. Trong nhà trường trung học ở Pháp, chẳng hạn, có lẽ người ta chưa vội thay một tác phẩm kinh điển bằng tác phẩm của Annie Ernaux, người vừa được giải Nobel năm 2022.

Hiện nay, trên thế giới có ba quan điểm lý giải ảnh hưởng của công nghệ số đến cuộc sống con người: (1) Thuyết tất định luận công nghệ (Technological determinism) cho rằng công nghệ chắc chắn sẽ dẫn đến một thế giới lý tưởng (utopia) hoặc là một thảm họa (dystopia); (2) Thuyết kiến tạo xã hội đối với công nghệ (Social construction of technology) khẳng định con người làm chủ công nghệ vì con người tạo ra và uốn nắn công nghệ theo ý mình;(3) Thuyết định hình xã hội của công nghệ (Social shaping of technology) chứng minh con người và công nghệ liên tục tương tác và định hình lẫn nhau. Quan điểm thứ ba này đang được ủng hộ và chấp nhận rộng rãi nhất.

Văn học là con đường giao tiếp và hiệp thông giữa người và người. Công nghệ số giúp cho sự kết nối và tương tác giữa văn học và cuộc đời thêm sâu sắc. Nhưng đôi khi sự giao lưu trong thế giới ảo lại khiến con người trở nên hờ hững với những giao tiếp trong đời thật. Văn học là tiếng nói của cá nhân đến với cá nhân. Công nghệ số vừa cung cấp phương tiện thuận lợi để cá nhân hóa giáo dục, lại vừa có thể giản lược bản sắc của cá nhân qua những dữ liệu được số hóa. Vấn đề là con người và công nghệ luôn quan hệ hỗ tương với nhau chứ không phải công nghệ hoàn toàn điều khiển con người.

Như vậy, ta không lo công nghệ số sẽ bào mòn cảm xúc của con người; ta chỉ nên lo con người không biết khai thác thế mạnh của công nghệ số để làm giàu cho kiến văn, suy tưởng và cảm xúc của chính mình.

Nguồn: Tạp chí Thế Giới Số 2023

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyên đề: Chống AI lũng đoạn văn chương
Không còn là chuyện có nên hay không sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tác văn học nữa, mà thực tế đang đặt ra yêu cầu ứng phó với việc lợi dụng, lạm dụng AI để tạo nên những sản phẩm mang tên tác giả cụ thể nhưng không thấm mồ hôi của lao động nghề nghiệp, không “đóng dấu” được bản sắc của người viết.
Xem thêm
Thời cơ mới cho sáng tạo văn học - nghệ thuật
Năm 2025 là một năm in dấu đậm trong lịch sử phát triển của đất nước, không chỉ bởi kỉ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mà còn là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị - xã hội quan trọng; kịp thời nhìn lại những tác động xã hội nhiều mặt, đồng thời rút ra nhiều vấn đề đáng và cần để tổ chức tốt hơn cho hoạt động kỉ niệm 100 năm ra đời của Đảng (1930 - 2030), 100 năm ra đời của chế độ mới (1945 - 2045) với nội dung thiết thực, nhiều hình thức mới mẻ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xem thêm
Học sinh “đánh thức” văn học bằng trải nghiệm sáng tạo
Không dừng lại ở việc học văn qua trang sách, học sinh Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) đã biến văn chương thành một hành trình trải nghiệm đa giác quan. Dự án “Tiếng tơ lòng” cho thấy một hướng tiếp cận mới: đưa văn học dân gian và văn học trung đại sống lại trong đời sống hiện đại, bằng chính sự sáng tạo và cảm xúc của người học.
Xem thêm
Thúc đẩy việc dạy và học tiếng Việt trong thế hệ trẻ kiều bào tại Hàn Quốc
Ngày 12/4, Tọa đàm với chủ đề “Thực trạng và giải pháp phát triển việc giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam trong cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc” đã diễn ra tại thành phố Gwangju, Hàn Quốc.
Xem thêm
Bốn văn nhân, một mạch văn chương
Bốn con người, bốn phong cách, nhưng cùng chung một mạch nguồn: đi ra từ chiến tranh, sống và viết bằng trải nghiệm thật, và giữ trọn sự tử tế với văn chương.
Xem thêm
Văn chương Việt trong vòng xoáy AI
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đưa văn chương và người đọc vào thời khắc chuyển mình chưa từng có. Nó có thể được xem là công cụ hỗ trợ người viết, cũng gợi mở vô số thách thức cùng các áp lực mới cần đối mặt.
Xem thêm
Nỗi trăn trở của người làm chính sách trước những vấn đề nhân sinh
Những ngày gần đây, dư luận xã hội không khỏi bàng hoàng trước thông tin gần 300 tấn thịt lợn nhiễm bệnh bị tuồn ra thị trường, len lỏi vào cả bữa ăn học đường. Những mâm cơm tưởng như an toàn nhất - nơi trẻ em ăn uống mỗi ngày - bỗng trở thành tâm điểm của nỗi lo lắng. Phụ huynh hoang mang, nhà trường lúng túng, cơ quan quản lý khẩn trương rà soát, còn người làm chính sách thì không khỏi trăn trở.
Xem thêm
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
Xem thêm
Trại sáng tác cần tránh hình thức, lãng phí
Nhiều năm qua, các trại sáng tác văn học nghệ thuật được tổ chức đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ, đồng thời cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên, mô hình cũ đã bộc lộ những hạn chế về hiệu quả, cách tổ chức.
Xem thêm
Làm mới “chất Việt” trong trang văn trẻ thơ
Giữa “bão” giải trí số, văn học thiếu nhi Việt Nam đang âm thầm chuyển mình để không bị lãng quên. Từ việc cách tân ngôn ngữ đến mở rộng biên độ sáng tạo, mỗi trang viết hôm nay là một nỗ lực nhằm tìm lại vị thế trang trọng nhất trong thế giới tinh thần của độc giả nhỏ tuổi.
Xem thêm
Một chuyến xe, một câu nói, và chiếc gương soi vào nhân cách
Có những câu chuyện, thoạt nhìn rất nhỏ. Một chuyến xe. Một cuộc tranh cãi. Một câu nói buột miệng.
Xem thêm
Từ tâm sự của vợ chồng dịch giả tiếng Đức đến dấu ấn cổ tích của Anh Grimm
Qua thư giới thiệu của nhà văn Hồ Anh Thái, tôi đã có cuộc hẹn tại nhà riêng của hai dịch giả Đức ngữ nổi tiếng là GS.TS Günter Giesenfeld và Marianne Ngo. Thành phố Marburg của họ cách chỗ tôi ở chỉ một tiếng rưỡi tàu. Vì biết người Đức rất tôn trọng giờ giấc nên tôi đã đến sớm hơn 2 tiếng đồng hồ để vừa tránh chậm tàu, có thể vừa tranh thủ thời gian dạo quanh một trong những thành phố cổ kính và huyền bí nhất nước Đức.
Xem thêm
Vị thế của văn chương trong Công nghiệp Văn hoá Việt Nam
Đến vùng xa vùng đảo và lắng nghe ý kiến của người dân, tôi càng thấy rõ hơn, cái nghèo về đời sống tinh thần, đời sống văn hoá vẫn chưa được người dân quan tâm. Họ cần những ích lợi vật chất và gần như xa lạ với nhu cầu thụ hưởng thành quả văn học nghệ thuật.
Xem thêm
Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Từ một cuộc đối thoại hóm hỉnh nhưng không kém phần thẳng thắn, bài phỏng vấn của Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Đình Minh đặt ra một câu hỏi khiến nhiều người làm thơ phải giật mình: Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Xem thêm
Đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng xác định: “... Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước...”.
Xem thêm
Nhìn lại năm 2025, ấn tượng văn hóa, và suy ngẫm văn học
Năm 2025 vừa khép lại với nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, trong đó không thể không nhắc đến những hoạt động nổi bật kỉ niệm 80 năm Quốc khánh và 50 năm non sông liền một dải. Hòa trong không khí ấy, đời sống văn hóa và văn học có những ấn tượng gì đáng suy ngẫm?
Xem thêm
Thi ca trước áp lực công nghệ số
Công nghệ số mở ra cơ hội lan tỏa nhanh chưa từng có, nhưng cũng đặt thi ca trước những thách thức về chất lượng, công chúng và sinh kế sáng tác. Từ góc nhìn các nhà thơ và nhà nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh, câu chuyện không chỉ là thích ứng mà là tìm lại vị thế của thơ trong đô thị hiện đại.
Xem thêm
Từ văn chương đến căn cốt văn hóa dân tộc
Trong dòng chảy đương đại, Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du vẫn hiện diện như một mạch nguồn bền bỉ trong đời sống tinh thần người Việt. Vượt lên khuôn khổ của một kiệt tác văn chương, tác phẩm đã trở thành hệ giá trị văn hóa, đạo lý sống và thước đo nhân cách được truyền nối qua nhiều thế hệ.
Xem thêm
Về tác giả và nguồn gốc bài thơ Nam quốc sơn hà
Bài của Vũ Thanh đăng trên Văn nghệ Online
Xem thêm
Đạo văn, nguyên nhân và hệ lụy
Giữ gìn sự liêm chính trong sáng tác vì thế không phải là một khẩu hiệu đạo đức, mà là điều kiện để văn chương tiếp tục tồn tại như một giá trị tinh thần cao đẹp và đáng tin cậy. Khi người cầm bút còn biết tự vấn, biết dừng lại trước ranh giới của sự trung thực, thì văn chương vẫn còn cơ hội tự làm sạch mình. Và chỉ trong một không gian sáng tác được nâng đỡ bởi sự thật và lòng tin, những tác phẩm chân chính mới có thể bền bỉ đi cùng con người, vượt qua những ồn ào nhất thời của danh vọng và thời cuộc để lặng lẽ nâng đỡ, an ủi con người, làm chỗ dựa tinh thần cho con người đi qua những chông chênh, trắc trở, đau đớn của cuộc sống vốn vẫn còn nhiều thử thách này.
Xem thêm