TIN TỨC

Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-20 23:43:22
mail facebook google pos stwis
672 lượt xem

LÊ XUÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại  thơ với tập thơ đầu tay “Lặng nghe sông hát” có  30 bài.

 

Nhà văn Nguyễn Kim Thanh

 

Chị cho biết đôi khi cảm xúc đến chị phải ghi vội lại bằng thơ kẻo nó trôi mất. Còn viết truyện thì đã có cốt truyện, bố cục cứ thế mà viết theo từng ngày, từng giờ. Một ý thơ, một câu thơ có thể diễn tả thành hai ba trang văn xuôi. Và khi cảm xúc không tới thì câu thơ viết ra sẽ vô hồn, lúc đó chỉ nên viết văn xuôi thôi, tha hồ mà tung tẩy ngòi bút qua hư cấu.  

Thơ Nguyễn Kim Thanh viết về nhiều đề tài quen thuộc như: quê hương,  gia đình, tình yêu, tình bạn, tình thầy trò với bao kỷ niệm đẹp của một thời tuổi trẻ. Nhưng theo tôi chị thành công hơn cả là ở mảng thơ tình. Đó là những cung đàn vang ngân của tâm trạng vui buồn, tự hào, sung sướng, ngậm ngùi, luyến nhớ gắn với những bức tranh về thiên nhiên khi mơ màng, lung linh ẩn hiện của ruộng đồng, trăng sao, sông biển vùng sông nước miệt vườn. Thơ chị đậm đà chất quê, thắm hồn ca dao, dân ca, tục ngữ và vang vọng âm hưởng của đờn ca tài tử, cải lương Nam Bộ.  

Thơ của Nguyễn Kim Thanh rất gần gũi cuộc sống, giản dị, mộc mạc với cái tôi trữ tình rất nữ tính. Nhân vật “em” luôn ẩn hiện dưới nhiều góc nhìn qua cảm xúc thơ. Đây là cảnh suy tư trước trăng “đồng bằng và biển”:

Xa đồng bằng em về với biển

Ngơ ngác nhìn con sóng bạc đầu xa

Trăng đồng bằng khác gì trăng ở biển

Có đầy vơi hay chỉ tỏ mờ.

Để rồi lòng yêu “biển hóa thành thơ”, và “gió biển tanh nồng mùi cá/ Bỗng trở thành mùi dung dị yêu thương”. Từ cái mùi tanh nồng của cá, vị mặn mòi của biển ta cảm nhận được bằng mắt, bằng tai, bằng vị giác, xúc giác đã được nâng lên thành mùi của trái tim “dung dị yêu thương”. Sự chuyển đổi cảm giác, cảm nhận này làm tứ thơ có chiều sâu trí tuệ.   

Một lần về Hà Tiên thăm Chiêu Anh Các nghe mưa rơi trên Thạch Động, gió rú Châu Nham, chị liên tưởng về tình yêu: “Chiều Hà Tiên thương nhớ/ Em tôi lỡ xuân thì/ Mượn chuông chùa gõ nhịp/ Đưa trăng về bến mơ”. Bài thơ đượm chất Thiền trong sáng giữa đời và đạo.

Chị luôn bị ám ảnh bởi một nhân vật “tình quân” nào đó trong hoài niệm khi mỗi lần nhìn thấy sông, thấy biển, thấy trăng rồi nghĩ tới cuộc chia ly của một mối tình trong chiến tranh, trong xa cách: “Người ấy ra đi vì việc nghĩa/ Em tìm trong nước dáng người xưa” để rồi “Làm sao xa được trăng ngày cũ/ Tình quân năm ấy mãi ở sông”. Hoặc khi đứng trước biển chị luôn muốn gửi vào con sóng bao lời nhắn nhủ yêu thương: “Biển gửi em một nỗi niềm thương nhớ/ Biển và em cách trở một nẻo đường”. Khi về thăm Vũng Rô – nơi những chiến sĩ của “đoàn tàu không số” đã hy sinh, chị như nhìn thấy cha anh đã hòa vào biển xanh trong tâm tưởng: “Cha và anh từ biển hóa thành sắc cầu vồng” và “Họ đi rồi hóa thân trong dáng hình đất nước” để cho “Những đóa hoa lửa vụt sáng bay lên”. Ở bài “Tự sự” trước biển chị lại tự thú: “Chiều bên biển em thấy mình thơ dại/ Như ngày xưa ôm ấp nụ hôn đầu”. Một cái “thơ dại” và “nụ hôn đầu” thật nữ tính rất đáng yêu. Đúng như nhà thơ Thế Lữ đã nói “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/ Nghìn năm hồ dễ đã ai quên”.

Chị cố gắng đi tìm một định nghĩa về tình yêu, nhưng không bao giờ có được một đáp số chuẩn. Tình yêu là cánh phượng đỏ thắm như lòng anh, là màu xanh như áo em, là gió, là mây, là sóng vỗ, là khơi xa với biển rộng sông dài. Nhưng rồi tất cả sẽ tan đi chỉ còn “Anh có một tình yêu/ Âm thầm như sóng vỗ/ Anh có một tình yêu/ Chỉ riêng dành em đó”. Đắm say tình yêu như Xuân Diệu cũng đành bất lực khi định nghĩa về tình yêu: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu/ Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”

Những bài thơ tình của Nguyễn Kim Thanh luôn gắn với thương nhớ, đợi chờ trong xa cách, luôn gắn với những kỷ niệm đẹp của một “thuở ban đầu” bên bến sông, nơi biển vắng, và nhất là trong những đêm trăng thật lãng mạn có những “lời yêu vụng dại” nồng cháy. Đó là một tình yêu thủy chung, có sum họp và chia ly, có vui buồn xen hờn giận thoáng qua, và cuối cùng “Chia tay anh em về lại riêng mình”. Dù hỏi gió, hỏi nắng, hỏi thinh không, hỏi từng giọt đắng anh ở đâu, và cuối cùng nhân vật trữ tình khẳng định với lòng mình: “Ngày mai đó trong cuộc đời thật giả/ Anh nguyện làm dấu chấm của riêng em”. Một hy vọng, một hứa hẹn thật đẹp: “ Ta trở về phủ kín lấy đời nhau” (Tìm tôi) để xua đi mọi cô độc, xua đi mối tình ta xưa cũ để mãi mãi  “mộng hoa vàng phủ kín lấy đời nhau”. Quả là một nỗi buồn biết đập cánh bay đi.

Ở mảng thơ thế sự, đời thường Nguyễn Kim Thanh cũng có nhiều thành công. Chị day dứt trăn trở khi thấy cảnh thay da đổi thịt ở nông thôn “hóa thành thị” và cơn sốt đất lên cao, mọi thứ đảo lộn, đồng tiền lên ngôi, con người lý hương tìm nguồn sống: “Rào giậu bủa giăng ruộng đồng bến bãi/ Sốt đất con người ấp ủ mộng ly hương” (Sốt đất).

 

Bìa tập thơ Lặng nghe Sông hát

 

Chị chia sớt nỗi buồn của một bà mẹ từ miền Bắc vào Nam tìm mộ con với nỗi đau sau chiến tranh khôn nguôi nhưng không tắt niềm hy vọng, không một lời oán trách, mẹ nói với con trong tâm tưởng lặng im làm ta rớt nước mắt: “Mẹ về nhé nay lưng còng tóc bạc/ Nơi suối ngàn chờ mẹ với con yêu/ Con mĩm cười trong ráng chiều nhạt nắng/ Tạm biệt con bà mẹ Bắc vào Nam” (Thăm con). Dù cuộc đời có phù du tới đâu, dù ngoại, dù cậu và bao người thân sẽ không về nữa sau chiến tranh nhưng “Những nén nhang thơm không còn trong bí mật/ Bảng lãng trời chiều giọt nước mắt thủy tinh”. Niềm hy vọng không tắt! Và mùa xuân lại về với trăm hoa đua nở trên bến Ninh Kiều hay bến Tô Châu, chợ nổi Cái Răng, Ngã Bảy, Phong Điền vẫn tập nập xuồng ghe khi tết đến xuân về. Câu ca điệu lý cùng với tiếng hòa tấu của đàn kìm, đàn tranh trên bến sông trong xóm giềng vẫn như một bài ca về cuộc sống tươi đẹp ở ngày mai. Ngày xuân về gợi nhiều thương nhớ mẹ cha và những người đã khuất, nhưng niềm thương nhớ khôn nguôi của chị là nhớ về Bác Hồ kính yêu khi từ biệt trường Dục Thanh ra đi tìm đường cứu nước. Bên bến sông Cà Ty, chị hồi tưởng:

Người thầy mang trái tim đỏ rực

Ngang qua cầu thao thức mệnh non sông

Và “Sân trường Dục Thanh hoa sen đang nở rộ/ Nhớ thương Người năm ấy đã đi xa” (Bên sông Cà Ty).

Nguồn sữa nuôi dưỡng thơ chị là tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, là nghĩa vụ, trách nhiệm công dân, là sự hiến dâng tự nguyện cho hạnh phúc cộng đồng, là những rung động đầu đời rất đẹp về tình yêu nam nữ hay nỗi niềm luyến tiếc về những gì một đi không trở lại. Từ những rung động vi mô đến những rung động vĩ mô của con tim đều ẩn chứa trong thơ chị. Tất cả đều rung lên, ngân vang từ sâu thẳm tâm hồn để bật thành những vần thơ khi trần trụi như luống cày, hạt lúa, củ khoai, khi trong trẻo mượt mà như ca dao, như làn sương mỏng trước bình minh. Chất thực và ảo hoà quyện bay bổng tạo cho thơ chị vừa dân dã, mộc mạc vừa hiện thực và lãng mạn. Vì thế, thơ chị luôn hướng về vẻ đẹp nhân văn thấm đẫm tình người với những nỗi đau, niềm vui . Những góc khuất của con tim với bao kỷ niệm vui buồn để đưa người đọc trở về tuổi thơ với quê hương nơi tiếng đờn hòa tấu, lời vọng cổ xuống “xề” ở  miệt vườn Nam Bộ. Nó hiện lên trên mỗi trang thơ của chị đáng yêu biết dường nào.

Với một giọng thơ ngọt ngào chứa nhiều trăn trở và hoài niệm “Lặng nghe sông hát cho người đọc đến với nhiều cảnh sắc và giai điệu miền Tây Nam bộ. Chỉ với 30 bài thơ viết ở nhiểu thể loại như: thơ 7 chữ, 5 chữ, 4 chữ, lục bát… và cách vắt dòng, hiệp vận ở mỗi khổ luôn tạo nên tính nhạc, lắng vào hồn người đọc, nhưng chị tâm đắc hơn cả vẫn là thể thơ 7 chữ - một thể thơ mà phong trào Thơ Mới (1932-1945) các nhà thơ thường dùng. Hy vọng hồn thơ Nguyễn Kim Thanh sẽ bay xa hơn nữa ở những tập thơ sau./.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm