TIN TỨC

Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-20 23:43:22
mail facebook google pos stwis
437 lượt xem

LÊ XUÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại  thơ với tập thơ đầu tay “Lặng nghe sông hát” có  30 bài.

 

Nhà văn Nguyễn Kim Thanh

 

Chị cho biết đôi khi cảm xúc đến chị phải ghi vội lại bằng thơ kẻo nó trôi mất. Còn viết truyện thì đã có cốt truyện, bố cục cứ thế mà viết theo từng ngày, từng giờ. Một ý thơ, một câu thơ có thể diễn tả thành hai ba trang văn xuôi. Và khi cảm xúc không tới thì câu thơ viết ra sẽ vô hồn, lúc đó chỉ nên viết văn xuôi thôi, tha hồ mà tung tẩy ngòi bút qua hư cấu.  

Thơ Nguyễn Kim Thanh viết về nhiều đề tài quen thuộc như: quê hương,  gia đình, tình yêu, tình bạn, tình thầy trò với bao kỷ niệm đẹp của một thời tuổi trẻ. Nhưng theo tôi chị thành công hơn cả là ở mảng thơ tình. Đó là những cung đàn vang ngân của tâm trạng vui buồn, tự hào, sung sướng, ngậm ngùi, luyến nhớ gắn với những bức tranh về thiên nhiên khi mơ màng, lung linh ẩn hiện của ruộng đồng, trăng sao, sông biển vùng sông nước miệt vườn. Thơ chị đậm đà chất quê, thắm hồn ca dao, dân ca, tục ngữ và vang vọng âm hưởng của đờn ca tài tử, cải lương Nam Bộ.  

Thơ của Nguyễn Kim Thanh rất gần gũi cuộc sống, giản dị, mộc mạc với cái tôi trữ tình rất nữ tính. Nhân vật “em” luôn ẩn hiện dưới nhiều góc nhìn qua cảm xúc thơ. Đây là cảnh suy tư trước trăng “đồng bằng và biển”:

Xa đồng bằng em về với biển

Ngơ ngác nhìn con sóng bạc đầu xa

Trăng đồng bằng khác gì trăng ở biển

Có đầy vơi hay chỉ tỏ mờ.

Để rồi lòng yêu “biển hóa thành thơ”, và “gió biển tanh nồng mùi cá/ Bỗng trở thành mùi dung dị yêu thương”. Từ cái mùi tanh nồng của cá, vị mặn mòi của biển ta cảm nhận được bằng mắt, bằng tai, bằng vị giác, xúc giác đã được nâng lên thành mùi của trái tim “dung dị yêu thương”. Sự chuyển đổi cảm giác, cảm nhận này làm tứ thơ có chiều sâu trí tuệ.   

Một lần về Hà Tiên thăm Chiêu Anh Các nghe mưa rơi trên Thạch Động, gió rú Châu Nham, chị liên tưởng về tình yêu: “Chiều Hà Tiên thương nhớ/ Em tôi lỡ xuân thì/ Mượn chuông chùa gõ nhịp/ Đưa trăng về bến mơ”. Bài thơ đượm chất Thiền trong sáng giữa đời và đạo.

Chị luôn bị ám ảnh bởi một nhân vật “tình quân” nào đó trong hoài niệm khi mỗi lần nhìn thấy sông, thấy biển, thấy trăng rồi nghĩ tới cuộc chia ly của một mối tình trong chiến tranh, trong xa cách: “Người ấy ra đi vì việc nghĩa/ Em tìm trong nước dáng người xưa” để rồi “Làm sao xa được trăng ngày cũ/ Tình quân năm ấy mãi ở sông”. Hoặc khi đứng trước biển chị luôn muốn gửi vào con sóng bao lời nhắn nhủ yêu thương: “Biển gửi em một nỗi niềm thương nhớ/ Biển và em cách trở một nẻo đường”. Khi về thăm Vũng Rô – nơi những chiến sĩ của “đoàn tàu không số” đã hy sinh, chị như nhìn thấy cha anh đã hòa vào biển xanh trong tâm tưởng: “Cha và anh từ biển hóa thành sắc cầu vồng” và “Họ đi rồi hóa thân trong dáng hình đất nước” để cho “Những đóa hoa lửa vụt sáng bay lên”. Ở bài “Tự sự” trước biển chị lại tự thú: “Chiều bên biển em thấy mình thơ dại/ Như ngày xưa ôm ấp nụ hôn đầu”. Một cái “thơ dại” và “nụ hôn đầu” thật nữ tính rất đáng yêu. Đúng như nhà thơ Thế Lữ đã nói “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/ Nghìn năm hồ dễ đã ai quên”.

Chị cố gắng đi tìm một định nghĩa về tình yêu, nhưng không bao giờ có được một đáp số chuẩn. Tình yêu là cánh phượng đỏ thắm như lòng anh, là màu xanh như áo em, là gió, là mây, là sóng vỗ, là khơi xa với biển rộng sông dài. Nhưng rồi tất cả sẽ tan đi chỉ còn “Anh có một tình yêu/ Âm thầm như sóng vỗ/ Anh có một tình yêu/ Chỉ riêng dành em đó”. Đắm say tình yêu như Xuân Diệu cũng đành bất lực khi định nghĩa về tình yêu: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu/ Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”

Những bài thơ tình của Nguyễn Kim Thanh luôn gắn với thương nhớ, đợi chờ trong xa cách, luôn gắn với những kỷ niệm đẹp của một “thuở ban đầu” bên bến sông, nơi biển vắng, và nhất là trong những đêm trăng thật lãng mạn có những “lời yêu vụng dại” nồng cháy. Đó là một tình yêu thủy chung, có sum họp và chia ly, có vui buồn xen hờn giận thoáng qua, và cuối cùng “Chia tay anh em về lại riêng mình”. Dù hỏi gió, hỏi nắng, hỏi thinh không, hỏi từng giọt đắng anh ở đâu, và cuối cùng nhân vật trữ tình khẳng định với lòng mình: “Ngày mai đó trong cuộc đời thật giả/ Anh nguyện làm dấu chấm của riêng em”. Một hy vọng, một hứa hẹn thật đẹp: “ Ta trở về phủ kín lấy đời nhau” (Tìm tôi) để xua đi mọi cô độc, xua đi mối tình ta xưa cũ để mãi mãi  “mộng hoa vàng phủ kín lấy đời nhau”. Quả là một nỗi buồn biết đập cánh bay đi.

Ở mảng thơ thế sự, đời thường Nguyễn Kim Thanh cũng có nhiều thành công. Chị day dứt trăn trở khi thấy cảnh thay da đổi thịt ở nông thôn “hóa thành thị” và cơn sốt đất lên cao, mọi thứ đảo lộn, đồng tiền lên ngôi, con người lý hương tìm nguồn sống: “Rào giậu bủa giăng ruộng đồng bến bãi/ Sốt đất con người ấp ủ mộng ly hương” (Sốt đất).

 

Bìa tập thơ Lặng nghe Sông hát

 

Chị chia sớt nỗi buồn của một bà mẹ từ miền Bắc vào Nam tìm mộ con với nỗi đau sau chiến tranh khôn nguôi nhưng không tắt niềm hy vọng, không một lời oán trách, mẹ nói với con trong tâm tưởng lặng im làm ta rớt nước mắt: “Mẹ về nhé nay lưng còng tóc bạc/ Nơi suối ngàn chờ mẹ với con yêu/ Con mĩm cười trong ráng chiều nhạt nắng/ Tạm biệt con bà mẹ Bắc vào Nam” (Thăm con). Dù cuộc đời có phù du tới đâu, dù ngoại, dù cậu và bao người thân sẽ không về nữa sau chiến tranh nhưng “Những nén nhang thơm không còn trong bí mật/ Bảng lãng trời chiều giọt nước mắt thủy tinh”. Niềm hy vọng không tắt! Và mùa xuân lại về với trăm hoa đua nở trên bến Ninh Kiều hay bến Tô Châu, chợ nổi Cái Răng, Ngã Bảy, Phong Điền vẫn tập nập xuồng ghe khi tết đến xuân về. Câu ca điệu lý cùng với tiếng hòa tấu của đàn kìm, đàn tranh trên bến sông trong xóm giềng vẫn như một bài ca về cuộc sống tươi đẹp ở ngày mai. Ngày xuân về gợi nhiều thương nhớ mẹ cha và những người đã khuất, nhưng niềm thương nhớ khôn nguôi của chị là nhớ về Bác Hồ kính yêu khi từ biệt trường Dục Thanh ra đi tìm đường cứu nước. Bên bến sông Cà Ty, chị hồi tưởng:

Người thầy mang trái tim đỏ rực

Ngang qua cầu thao thức mệnh non sông

Và “Sân trường Dục Thanh hoa sen đang nở rộ/ Nhớ thương Người năm ấy đã đi xa” (Bên sông Cà Ty).

Nguồn sữa nuôi dưỡng thơ chị là tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, là nghĩa vụ, trách nhiệm công dân, là sự hiến dâng tự nguyện cho hạnh phúc cộng đồng, là những rung động đầu đời rất đẹp về tình yêu nam nữ hay nỗi niềm luyến tiếc về những gì một đi không trở lại. Từ những rung động vi mô đến những rung động vĩ mô của con tim đều ẩn chứa trong thơ chị. Tất cả đều rung lên, ngân vang từ sâu thẳm tâm hồn để bật thành những vần thơ khi trần trụi như luống cày, hạt lúa, củ khoai, khi trong trẻo mượt mà như ca dao, như làn sương mỏng trước bình minh. Chất thực và ảo hoà quyện bay bổng tạo cho thơ chị vừa dân dã, mộc mạc vừa hiện thực và lãng mạn. Vì thế, thơ chị luôn hướng về vẻ đẹp nhân văn thấm đẫm tình người với những nỗi đau, niềm vui . Những góc khuất của con tim với bao kỷ niệm vui buồn để đưa người đọc trở về tuổi thơ với quê hương nơi tiếng đờn hòa tấu, lời vọng cổ xuống “xề” ở  miệt vườn Nam Bộ. Nó hiện lên trên mỗi trang thơ của chị đáng yêu biết dường nào.

Với một giọng thơ ngọt ngào chứa nhiều trăn trở và hoài niệm “Lặng nghe sông hát cho người đọc đến với nhiều cảnh sắc và giai điệu miền Tây Nam bộ. Chỉ với 30 bài thơ viết ở nhiểu thể loại như: thơ 7 chữ, 5 chữ, 4 chữ, lục bát… và cách vắt dòng, hiệp vận ở mỗi khổ luôn tạo nên tính nhạc, lắng vào hồn người đọc, nhưng chị tâm đắc hơn cả vẫn là thể thơ 7 chữ - một thể thơ mà phong trào Thơ Mới (1932-1945) các nhà thơ thường dùng. Hy vọng hồn thơ Nguyễn Kim Thanh sẽ bay xa hơn nữa ở những tập thơ sau./.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm