TIN TỨC

Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-20 23:43:22
mail facebook google pos stwis
563 lượt xem

LÊ XUÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại  thơ với tập thơ đầu tay “Lặng nghe sông hát” có  30 bài.

 

Nhà văn Nguyễn Kim Thanh

 

Chị cho biết đôi khi cảm xúc đến chị phải ghi vội lại bằng thơ kẻo nó trôi mất. Còn viết truyện thì đã có cốt truyện, bố cục cứ thế mà viết theo từng ngày, từng giờ. Một ý thơ, một câu thơ có thể diễn tả thành hai ba trang văn xuôi. Và khi cảm xúc không tới thì câu thơ viết ra sẽ vô hồn, lúc đó chỉ nên viết văn xuôi thôi, tha hồ mà tung tẩy ngòi bút qua hư cấu.  

Thơ Nguyễn Kim Thanh viết về nhiều đề tài quen thuộc như: quê hương,  gia đình, tình yêu, tình bạn, tình thầy trò với bao kỷ niệm đẹp của một thời tuổi trẻ. Nhưng theo tôi chị thành công hơn cả là ở mảng thơ tình. Đó là những cung đàn vang ngân của tâm trạng vui buồn, tự hào, sung sướng, ngậm ngùi, luyến nhớ gắn với những bức tranh về thiên nhiên khi mơ màng, lung linh ẩn hiện của ruộng đồng, trăng sao, sông biển vùng sông nước miệt vườn. Thơ chị đậm đà chất quê, thắm hồn ca dao, dân ca, tục ngữ và vang vọng âm hưởng của đờn ca tài tử, cải lương Nam Bộ.  

Thơ của Nguyễn Kim Thanh rất gần gũi cuộc sống, giản dị, mộc mạc với cái tôi trữ tình rất nữ tính. Nhân vật “em” luôn ẩn hiện dưới nhiều góc nhìn qua cảm xúc thơ. Đây là cảnh suy tư trước trăng “đồng bằng và biển”:

Xa đồng bằng em về với biển

Ngơ ngác nhìn con sóng bạc đầu xa

Trăng đồng bằng khác gì trăng ở biển

Có đầy vơi hay chỉ tỏ mờ.

Để rồi lòng yêu “biển hóa thành thơ”, và “gió biển tanh nồng mùi cá/ Bỗng trở thành mùi dung dị yêu thương”. Từ cái mùi tanh nồng của cá, vị mặn mòi của biển ta cảm nhận được bằng mắt, bằng tai, bằng vị giác, xúc giác đã được nâng lên thành mùi của trái tim “dung dị yêu thương”. Sự chuyển đổi cảm giác, cảm nhận này làm tứ thơ có chiều sâu trí tuệ.   

Một lần về Hà Tiên thăm Chiêu Anh Các nghe mưa rơi trên Thạch Động, gió rú Châu Nham, chị liên tưởng về tình yêu: “Chiều Hà Tiên thương nhớ/ Em tôi lỡ xuân thì/ Mượn chuông chùa gõ nhịp/ Đưa trăng về bến mơ”. Bài thơ đượm chất Thiền trong sáng giữa đời và đạo.

Chị luôn bị ám ảnh bởi một nhân vật “tình quân” nào đó trong hoài niệm khi mỗi lần nhìn thấy sông, thấy biển, thấy trăng rồi nghĩ tới cuộc chia ly của một mối tình trong chiến tranh, trong xa cách: “Người ấy ra đi vì việc nghĩa/ Em tìm trong nước dáng người xưa” để rồi “Làm sao xa được trăng ngày cũ/ Tình quân năm ấy mãi ở sông”. Hoặc khi đứng trước biển chị luôn muốn gửi vào con sóng bao lời nhắn nhủ yêu thương: “Biển gửi em một nỗi niềm thương nhớ/ Biển và em cách trở một nẻo đường”. Khi về thăm Vũng Rô – nơi những chiến sĩ của “đoàn tàu không số” đã hy sinh, chị như nhìn thấy cha anh đã hòa vào biển xanh trong tâm tưởng: “Cha và anh từ biển hóa thành sắc cầu vồng” và “Họ đi rồi hóa thân trong dáng hình đất nước” để cho “Những đóa hoa lửa vụt sáng bay lên”. Ở bài “Tự sự” trước biển chị lại tự thú: “Chiều bên biển em thấy mình thơ dại/ Như ngày xưa ôm ấp nụ hôn đầu”. Một cái “thơ dại” và “nụ hôn đầu” thật nữ tính rất đáng yêu. Đúng như nhà thơ Thế Lữ đã nói “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/ Nghìn năm hồ dễ đã ai quên”.

Chị cố gắng đi tìm một định nghĩa về tình yêu, nhưng không bao giờ có được một đáp số chuẩn. Tình yêu là cánh phượng đỏ thắm như lòng anh, là màu xanh như áo em, là gió, là mây, là sóng vỗ, là khơi xa với biển rộng sông dài. Nhưng rồi tất cả sẽ tan đi chỉ còn “Anh có một tình yêu/ Âm thầm như sóng vỗ/ Anh có một tình yêu/ Chỉ riêng dành em đó”. Đắm say tình yêu như Xuân Diệu cũng đành bất lực khi định nghĩa về tình yêu: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu/ Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”

Những bài thơ tình của Nguyễn Kim Thanh luôn gắn với thương nhớ, đợi chờ trong xa cách, luôn gắn với những kỷ niệm đẹp của một “thuở ban đầu” bên bến sông, nơi biển vắng, và nhất là trong những đêm trăng thật lãng mạn có những “lời yêu vụng dại” nồng cháy. Đó là một tình yêu thủy chung, có sum họp và chia ly, có vui buồn xen hờn giận thoáng qua, và cuối cùng “Chia tay anh em về lại riêng mình”. Dù hỏi gió, hỏi nắng, hỏi thinh không, hỏi từng giọt đắng anh ở đâu, và cuối cùng nhân vật trữ tình khẳng định với lòng mình: “Ngày mai đó trong cuộc đời thật giả/ Anh nguyện làm dấu chấm của riêng em”. Một hy vọng, một hứa hẹn thật đẹp: “ Ta trở về phủ kín lấy đời nhau” (Tìm tôi) để xua đi mọi cô độc, xua đi mối tình ta xưa cũ để mãi mãi  “mộng hoa vàng phủ kín lấy đời nhau”. Quả là một nỗi buồn biết đập cánh bay đi.

Ở mảng thơ thế sự, đời thường Nguyễn Kim Thanh cũng có nhiều thành công. Chị day dứt trăn trở khi thấy cảnh thay da đổi thịt ở nông thôn “hóa thành thị” và cơn sốt đất lên cao, mọi thứ đảo lộn, đồng tiền lên ngôi, con người lý hương tìm nguồn sống: “Rào giậu bủa giăng ruộng đồng bến bãi/ Sốt đất con người ấp ủ mộng ly hương” (Sốt đất).

 

Bìa tập thơ Lặng nghe Sông hát

 

Chị chia sớt nỗi buồn của một bà mẹ từ miền Bắc vào Nam tìm mộ con với nỗi đau sau chiến tranh khôn nguôi nhưng không tắt niềm hy vọng, không một lời oán trách, mẹ nói với con trong tâm tưởng lặng im làm ta rớt nước mắt: “Mẹ về nhé nay lưng còng tóc bạc/ Nơi suối ngàn chờ mẹ với con yêu/ Con mĩm cười trong ráng chiều nhạt nắng/ Tạm biệt con bà mẹ Bắc vào Nam” (Thăm con). Dù cuộc đời có phù du tới đâu, dù ngoại, dù cậu và bao người thân sẽ không về nữa sau chiến tranh nhưng “Những nén nhang thơm không còn trong bí mật/ Bảng lãng trời chiều giọt nước mắt thủy tinh”. Niềm hy vọng không tắt! Và mùa xuân lại về với trăm hoa đua nở trên bến Ninh Kiều hay bến Tô Châu, chợ nổi Cái Răng, Ngã Bảy, Phong Điền vẫn tập nập xuồng ghe khi tết đến xuân về. Câu ca điệu lý cùng với tiếng hòa tấu của đàn kìm, đàn tranh trên bến sông trong xóm giềng vẫn như một bài ca về cuộc sống tươi đẹp ở ngày mai. Ngày xuân về gợi nhiều thương nhớ mẹ cha và những người đã khuất, nhưng niềm thương nhớ khôn nguôi của chị là nhớ về Bác Hồ kính yêu khi từ biệt trường Dục Thanh ra đi tìm đường cứu nước. Bên bến sông Cà Ty, chị hồi tưởng:

Người thầy mang trái tim đỏ rực

Ngang qua cầu thao thức mệnh non sông

Và “Sân trường Dục Thanh hoa sen đang nở rộ/ Nhớ thương Người năm ấy đã đi xa” (Bên sông Cà Ty).

Nguồn sữa nuôi dưỡng thơ chị là tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, là nghĩa vụ, trách nhiệm công dân, là sự hiến dâng tự nguyện cho hạnh phúc cộng đồng, là những rung động đầu đời rất đẹp về tình yêu nam nữ hay nỗi niềm luyến tiếc về những gì một đi không trở lại. Từ những rung động vi mô đến những rung động vĩ mô của con tim đều ẩn chứa trong thơ chị. Tất cả đều rung lên, ngân vang từ sâu thẳm tâm hồn để bật thành những vần thơ khi trần trụi như luống cày, hạt lúa, củ khoai, khi trong trẻo mượt mà như ca dao, như làn sương mỏng trước bình minh. Chất thực và ảo hoà quyện bay bổng tạo cho thơ chị vừa dân dã, mộc mạc vừa hiện thực và lãng mạn. Vì thế, thơ chị luôn hướng về vẻ đẹp nhân văn thấm đẫm tình người với những nỗi đau, niềm vui . Những góc khuất của con tim với bao kỷ niệm vui buồn để đưa người đọc trở về tuổi thơ với quê hương nơi tiếng đờn hòa tấu, lời vọng cổ xuống “xề” ở  miệt vườn Nam Bộ. Nó hiện lên trên mỗi trang thơ của chị đáng yêu biết dường nào.

Với một giọng thơ ngọt ngào chứa nhiều trăn trở và hoài niệm “Lặng nghe sông hát cho người đọc đến với nhiều cảnh sắc và giai điệu miền Tây Nam bộ. Chỉ với 30 bài thơ viết ở nhiểu thể loại như: thơ 7 chữ, 5 chữ, 4 chữ, lục bát… và cách vắt dòng, hiệp vận ở mỗi khổ luôn tạo nên tính nhạc, lắng vào hồn người đọc, nhưng chị tâm đắc hơn cả vẫn là thể thơ 7 chữ - một thể thơ mà phong trào Thơ Mới (1932-1945) các nhà thơ thường dùng. Hy vọng hồn thơ Nguyễn Kim Thanh sẽ bay xa hơn nữa ở những tập thơ sau./.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm