TIN TỨC
  • Truyện
  • Đồi Ông Tri | Hoàng Minh Đức

Đồi Ông Tri | Hoàng Minh Đức

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-01-30 18:00:13
mail facebook google pos stwis
1841 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

HOÀNG MINH ĐỨC

Giữa chiều hè, một chiếc thuyền máy chạy dọc theo con sông Gianh từ dưới làng Thanh Khê lên cầu Minh Lệ. Chiếc thuyền áp sát vào nhịp cầu gãy nằm giữa dòng sông. Người ngồi đằng trước chống sào cho con thuyền đứng lại. Người đàn ông mặc bộ vét-tông màu đen phía sau lái với tay vịn vào thành cầu rồi đu người lên. Ông ta cầm cái que gõ cành cạch vào từng thanh sắt, đoạn quay lại nói gì đó với mấy người đi theo. Có lẽ họ định cắt nhịp cầu cũ đem đi bán. Đây là cây cầu của Pháp xây dựng trước thế chiến thứ II. Năm 1945, máy bay đồng minh ném bom cản bước tiến quân của Nhật. Mấy chục năm sau nhịp cầu đã bị bùn đất lũ lụt đẩy xê dịch đi đôi chút. Nhiều người thèm khát cái đống sắt khổng lồ này lắm nhưng không có phương tiện gì để cắt. Thời gian này trong làng tôi người ta đua nhau đi thu mua sắt thép phế liệu đổi cho Nhật để lấy hàng hóa vải vóc, mì chính. Họ đi đào những quả bom nổ chậm, tháo ngòi nổ lấy thuốc súng và sắt thép.

Tò mò, tôi đặt gánh củi xuống bờ sông đứng xem họ sẽ làm gì.  

Một người gọi với vào bờ:

- Anh gì ơi! Anh có biết cái động Ông Tri(1) là ở đâu không?

- Thì ở đây chứ đâu nữa. Tôi quay người lại chỉ về phía bạt ngàn hoa mua đang nở tím ngát cả một vùng đồi.

Đồi ông Tri nằm phía Nam cầu Minh Lệ. Nó chạy dọc theo tuyến đường sắt Bắc Nam, sát với làng Đồng Đưng dài hơn 3 cây số. Mùa này hoa mua nở một màu tím biếc như mâm xôi gấc khổng lồ. Ông áo đen hỏi tôi:

 - Chú có biết trên đồi này có một cái hầm pháo không?

 - Răng mà bác biết có cái hầm pháo. Cháu hái củi tươi ở đây nhiều lần nhưng không thấy hầm hố nào bác ạ. Nghe các cụ nói sau trận đánh trên đồi này, có một người dân Đồng Đưng đã lên chôn cất 7 liệt sĩ hy sinh dưới cái hầm pháo. Nay người đó cũng đã chết lâu rồi.

 - Không! Chỉ 6 du kích thôi. Có một thằng Tây đen, người Ma-rốc. Còn bọn Tây trắng chết, chúng đưa xuống ca-nô hết. Có một người du kích nữa, bị thương vào nép trong hang đá.

 - Vâng! Đó là hang Đá Đứng. Trong thời Pháp thuộc, người ta vào đây để đánh bạc. Nay trở thành cái chuồng dê của ông cu Han.

 Tôi dẫn đoàn khách lạ đi theo sườn đồi đến cái trại dê của ông Han. Ông cu Han ở làng Minh Lệ, gần nhà tôi, bên bờ Bắc sông Rào Nan. Ông sang đây xây một ngôi nhà nhỏ bên hòn Đá Đứng để trông coi dê. Ngôi nhà nằm chênh vênh trên sườn núi bên cái khe nước chảy xuống hói Ngã Năm. Thấy chúng tôi đến, ông Han hết nhìn tôi lại nhìn đoàn khách lạ:

-  Chào các bác. Mời các bác vào xơi nước.

Vừa nói, ông vừa cầm cái ấm tích rót ra những bát nước chè vàng óng.

- Nước vừa mới nấu đấy các bác ạ. Chè Đá Đứng trồng trên đất đá cằn cỗi nhưng được cái thơm và được nước lắm. Nhà chẳng có ai đến nên chỉ được mấy cái bát, các bác uống tạm.

Ông áo đen trình bày:

- Dạ chẳng giấu gì bác, bọn tôi muốn xác định lại vị trí của cái hầm pháo Nhật. Năm xưa có những người bạn của tôi đã hy sinh trên quả đồi này.

Ông Han ra chiều ngẫm ngợi:

- Cái đó tui cũng loáng thoáng nghe qua. Năm đó tui mới chín, mười tuổi chi đó, là lớp hậu sinh nên nghe người ta kể lại thôi chứ không được chứng kiến. Bọn Nhật đóng trên cái đồi này để bảo vệ cầu Minh Lệ. Thằng pháo thủ đứng dưới hầm, chân bị xích vào càng pháo để cho khỏi chạy. Rứa mà cầu bị đánh sập rồi hắn mới bắn vuốt đuôi.

Người khách giới thiệu tên ông là Riên, Nguyễn Văn Riên người làng bên. Ông đang định cư ở Argentina. Nói đến đó ông bảo một người trong đoàn lấy ra một hộp bánh có in chữ latinh mời chúng tôi.

*  

Năm đó Riên 17 tuổi. Cậu đang đi bẫy thú ở khu rừng Cu Bận thì nghe tiếng máy bay bà già vè vè trên đầu. Chúng thả bom khói vào một số khu rừng cho đại bác câu từ dưới đồn Thanh Khê lên. Có lẽ địch bắn dọn đường chuẩn bị đi càn. Lòng như lửa đốt, cậu chạy về rừng Eo Cá, nơi dân làng cậu đang tản cư. Chẳng còn ai ở lại cả. Cả dãy lán trống huơ trống hoác. Mùi khói súng khét lẹt. Gió Lào quất từng hồi vào những mái tranh nghe xao xác. Có một ngôi lều trúng đạn pháo đang âm ỉ cháy. Tìm khắp các lán chẳng còn gì ăn được. Dân tản cư cuốn gói đi từ bao giờ. Bụng réo òng ọc. Bươn cả một ngày trời mệt lử mà chẳng bắt được một con thú nào. Bây giờ biết đi về phía nào đây. Đi vào rừng sâu thì càng mông lung, hun hút. Nếu ở lại sẽ làm mồi cho cọp đói. Trời tối om. Cậu quyết định chạy ra phía làng. Cậu cắt rừng đi xuyên xuống đường tàu. Cậu mò mẫm đi mặc cho đá nhọn, gai cào rách bươm quần áo. Đường tàu đây rồi. Cậu mệt nhọc lê từng bước theo các thanh tà vẹt.

Bỗng uỵch. Một cú đấm như trời giáng làm cậu bé choáng váng ngã sấp xuống đường tàu. Tối tăm mặt mũi, cậu ngất đi. Một anh du kích đứng gác tưởng Việt gian sục vào dò la tin tức nên hạ gục bằng một nắm đấm từ phía đằng sau. Mấy hôm trước có 2 người cầm dây thừng đi tìm trâu vào khu vực tản cư của dân làng đã bị du kích bắt.

Riên vừa tỉnh lại, một người đưa đến bát cháo nóng hổi. Đói quá, cậu vừa thổi vừa húp xoàn xoạt. Cháo đi đến đâu cậu biết ngay đến đấy. Như cái cây khô héo được tưới nước đang tươi dần. Lúc đó cậu mới biết gia đình và bà con đi sâu vào rừng Phong Nha sát với biên giới Việt - Lào.

 Ngày 15/6/1947, địch bắt đầu càn lên vùng Nam của huyện. Súng lớn, súng nhỏ rộ lên khắp nơi. Bốn chiếc ca-nô từ dưới đồn Thanh Khê tiến thẳng lên theo dòng Rào Nan. Tiếng kẻng trên Động Lòi báo động thúc giục liên hồi. Có 3 chiếc đã ghé vào bờ Bắc, đổ bộ lên bến chợ Mới, làng Minh Lệ. Một chiếc bẻ lái sang bờ Nam, làng Đồng Đưng. Với mác Lào, đại đao, súng trường và lựu đạn, ta không thể dàn quân mà chọi nhau với đội quân nhà nghề của Pháp được. Phải nhữ địch vào rừng sâu để lợi dụng địa hình địa vật đánh giáp lá cà. Ông Trương Sô ném một quả lựu đạn mù vào giữa toán đi đầu rồi chạy biến vào rừng. Bọn địch đuổi theo bắn như mưa. Tên chỉ huy huơ huơ khẩu súng lục và hét: Se précipiter pour attraper le Viet Minh(Nhanh lên bắt lấy Việt Minh). Vốn đã học ở trường École Pratique (Kỹ nghệ thực hành) ở Huế, biết tiếng Pháp nên Riên hiểu chúng đang nói gì với nhau. Thế là trúng kế của ta. Chờ cho cả bọn lọt vào đồi Ông Tri, trong các lùm cây, bụi rậm, bên những hốc đá du kích xông lên. Hai bên lao vào nhau đánh giáp lá cà. Những thằng Tây cao to lông lá xồm xoàm, hùng hục như những con trâu điên. Bên du kích ta, người nhỏ nhắn nhưng rất nhanh nhẹn. Những người nông dân đã từng quen rừng rú nên thoắt ẩn thoắt hiện. Đánh nhau giữa rừng cây thì lợi thế vũ khí của địch không còn nữa. Chúng khó mà ngắm bắn trúng du kích. Ngồi dưới hầm pháo, Riên nghe thằng mang điện đài gọi vào máy bộ đàm: “Nous avons rencontré le Viet Minh. Nous étions encerclés sur la colline” (Chúng tôi đã gặp Việt Minh, chúng tôi đã bị bao vây trên đồi). Riên nói với ông Sô: “Bọn địch đang viện binh. Phải rút nhanh chứ không các cánh quân của chúng đang đến”.

 Chỉ mấy phút sau, cánh quân Pháp bên làng Minh Lệ tràn sang. Ta vừa đánh vừa rút lui xuống chân đồi. Bọn địch ở trên đồi lấy lại thế thượng phong. Súng đại liên bắn xối xả chặn đường rút lui của quân ta. Du kích rút theo đường tàu để vào vùng rừng Phú Hữu bên kia dãy núi Ba U. Không kịp nữa rồi. Cánh quân Pháp theo ca nô dưới Thanh Khê lên, chúng đổ bộ ở cầu Ngân Sơn theo đường sắt tiến ra bọc hậu. Một cánh quân trên làng Cao Mại được ca-nô chở xuống chặn đường ta lên chiến khu Hói Gió. Ông Trương Sô ra lệnh bằng mọi cách phải vượt qua hói Ngã Năm để về chiến khu.

Quân địch tập trung một đại đội càn quét ở đồi Ông Tri. Chúng dàn hàng ngang đi lùng sục từng bụi sim, bụi hoa mua tím. Máu của địch và ta đỏ loang cả mặt đồi. Chúng cáng những tên bị thương và xác của những tên đã chết xuống ca-nô. Lúc này Riên bị mắc kẹt lại không kịp rút theo du kích được. Cậu dìu một anh du kích bị thương vào trong hang Đá Đứng. Có một người lính da đen bị thương kêu la thảm thiết. Một người lính đến báo cáo với tên chỉ huy: “Il y a un Marocain vivant” (Có một người Maroc đang sống). Tên chỉ huy bước đến rút khẩu súng lục ra ngắm giữa ngực người lính da đen nổ một phát đòm. Hắn nói: “Laisser vivre ces nègres ne coûtera que plus d'argent” (Để những người này sống chỉ thêm tốn cơm).

Đến tối, quân Pháp rút khỏi đồi Ông Tri. Chúng về đóng đồn Minh Lệ trên Động Lòi. Hàng ngày những toán quân Pháp vẫn đi tuần tiễu trên đường sắt. Chúng bao vây đồi Ông Tri để xem còn ai sót lại nữa không. Riên không thể nào lọt được ra ngoài. Anh du kích bị thương mất nhiều máu lại thêm 3 ngày không ăn uống gì nên người mềm oặt như tàu môn héo. Nếu kéo thêm ngày nữa chắc là anh chết vì đói mất. Sang ngày thứ tư, Riên đi dọc theo hói Ngã Năm tìm thấy một rẫy sắn của người Đồng Đưng. Đất ở đây cằn cỗi nên những củ sắn dài ngoằng chứ không được to. Cậu cởi chiếc áo đùm một đống sắn đem về hang. Chờ đêm tối cậu mới dám nhóm lửa để nướng. Nước thì sẵn có dưới khe, chỉ tội không có cái gì để nấu. Đến ngày thứ 7 thì vết thương của người du kích bị nhiễm trùng, sưng tấy. Phải tìm cách báo với đơn vị du kích đem anh đi cứu chữa. Cậu xuống làng Đồng Đưng nhưng chẳng gặp ai. Mọi người cũng đã đi tản cư cả. Khi trở về thì một toán lính Pháp phát hiện. Chúng trói nghiến Riên lại, giải về đồn Minh Lệ. Cậu khai là vào rừng bẫy thú, khi trở lại thì họ đã tản cư mất rồi. Cậu nói với chúng là đói quá nên đi tìm các quan lớn xin một bát cơm.

Mọi người đang chăm chú nghe ông Riên kể thì tôi buột miệng hỏi:

-  Rứa bọn Pháp có bắt bác đi càn với chúng không?

Ông Riên xua tay:

-  Nô! Nô! Không! Không đâu! Thấy tôi nói được tiếng Pháp lại biết sửa chữa bật lửa, máy hát, ra-đi-ô nên chúng cho làm đầu bếp. Tôi sửa chữa điện đài, lau chùi bàn ghế, quét phòng cho viên chỉ huy ở trên đồn.

 Đến lượt ông Han lên tiếng:

 - Rứa tính mạng người du kích trong hang về sau bác có biết thế nào không?

Tôi cũng nóng lòng muốn biết ông Hoàng Đạnh, chồng của bà Kiếng, em ruột ông ngoại tôi. Không biết người du kích đó có phải là ông Đạnh của tôi không? Vì ông Đạnh là người làng tôi nên mới biết cái hang trong hòn Đá Đứng. Chúng tôi nhìn ông Riên chờ đợi câu trả lời. Giọng ông Riên chùng xuống, buồn buồn:

 - Tôi cũng có ý dò hỏi nhưng ở trong đồn chẳng biết hỏi ai. Với lại nếu hỏi là chúng sẽ biết tôi đã từng đi theo du kích. Giữa năm 1948, Pháp rút khỏi đồn Minh Lệ lần thứ nhất, tôi vào làm bồi quét rác ở sân bay Bờ Hơ (Đồng Hới) nên cũng không có dịp tìm hiểu một cách tường tận. Thấy tôi nhanh nhẹn, lại làm việc chu đáo nên được ông cai Label tin dùng. La bel là nhân viên của hãng Air France phụ trách sân bay. Ông không có con nên nhận tôi làm con nuôi. Đến 1950 thì Label được lệnh về Pháp. Ông bảo lãnh cho tôi theo ông sang Pháp. Tôi vào học khoa Hóa, Trường Cao đẳng Bách khoa Paris. Nhận bằng kỹ sư, tôi về Sài Gòn. Ông Riên đã kể lại cuộc đời ông đã xây dựng công ty THAI HOA ở Sài Gòn.

 - Làm sao mà bác dễ dàng lọt được vào công ty có dự án lớn đầu tư sang tận Argentina? - Tôi hỏi.

- Có nói chắc chú và bác đây cũng không hiểu hết. Vì tôi học tiếng Pháp, tiếng Anh rất nhanh. Kể cả tiếng Hoa, tiếng Thái và tiếng Tây Ban Nha, ngôn ngữ nào tôi cũng thông thạo. Có chìa khóa ngoại ngữ đa năng, tôi đi sâu vào thế giới khoa học tiếp thu các kiến thức tinh hoa về Sinh, Hóa và áp dụng ngay. Công ty tôi mở rộng ra thị trường châu Á, châu Phi và cả châu Mỹ. Đó là lĩnh vực sản xuất thuốc trừ sâu và phân bón nông nghiệp. Tôi rất quan tâm đến vệc sản xuất lương thực. Chính vì không có lương thực mà năm Ất Dậu cả nước ta có 2 triệu người chết đói.

*

Trong đêm giao thừa Tết Nguyên đán năm 1987, người ta thấy trên tivi có hình ảnh ông Phạm Văn Hữu thay mặt bà con Việt kiều chúc Tết. Ông là một Việt kiều yêu nước về Việt Nam ăn cái Tết đầu tiên sau gần 40 năm xa quê. Tôi thấy sao mà giống với ông Riên đã gặp chúng tôi trên đồi Ông Tri đến thế! Mấy năm sau, ông Hữu về xây dựng Công ty phân bón vi sinh Thiên Nông. Trên cồn cát hoang sơ chang chang gió Lào cát trắng của Quảng Bình đã mọc lên Nhà máy phân bón sông Gianh nổi tiếng mà nguyên vật liệu lại là than bùn khai thác tại chỗ. Công ty phân bón sông Gianh vươn dài ra các tỉnh phía Bắc, lên Tây Nguyên, vào tới miền Nam. Đây là công ty được tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới. Không biết ông Phạm Văn Hữu có phải là ông Riên hay không?  

Năm 2012, nhân đọc cuốn hồi ký Trọn một con đường(2) của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên viết về những trận chống càn năm 1947. (Lúc bấy giờ ông là Bí thư Huyện ủy, kiêm Huyện đội trưởng huyện Quảng Trạch). Trong chương 5: Trưởng thành trong chiến tranh du kíchông viết: “Ngày 15 tháng 6, Pháp cho một đại đội, trang bị đủ đại liên, súng cối, chia thành hai mũi tiến đánh Minh Lệ; một trung đội ngược sông Gianh, vừa càn quét, đốt phá làng Minh Lệ, vừa có nhiệm vụ đón cánh quân ở Cao Mại về. ... Du kích các xã ven sông Gianh và sông Rào Nan đã chủ động chặn đánh, nhưng vì không có súng nên ca nô địch cứ đàng hoàng tiến theo kế hoạch của chúng. Sau đó, anh em du kích các xã gặp tôi có nói: “Ca-nô của địch chạy ngon ăn quá mà đành bấm bụng chịu, để chúng đi”. Lúc đó đại đội đi cùng tôi lại bố trí phục kích ở hướng Hòa Ninh lên, nên không gặp địch. Ở Minh Lệ, một trung đội du kích bám địa bàn chiến đấu chống càn, nhưng do thiếu kiến thức quân sự, bố trí trận địa phục kích dưới chân đồi, địch phát hiện được, chúng lại có đại liên đặt trên cao khống chế, nên du kích bị thương vong khá nặng, rất đáng tiếc”.  

 Một lần, đội xây dựng đường dây tải điện 35 KV đi qua trên đồi Ông Tri, cứ dựng lên cột nào là bị đổ cột đó. Người dân Đồng Đưng nói vì các anh chưa thắp hương cho các liệt sĩ. Họ còn cho biết đêm đêm vẫn nghe tiếng chuyện trò, có khi cả tiếng hát của các bác trong các ngày lễ trọng đại của đất nước. Thế là anh em công nhân đặt lễ thắp hương mong các bác phù hộ. Quả nhiên lần sau dựng cột nào cũng không bị đổ! 

*

  Những vết tích của thời gian đã phủ lấp lên cái hầm pháo chôn cất các liệt sĩ năm xưa. Dù không biết ở vị trí nào nhưng các bác cũng đã nằm trong lòng đất mẹ. Xã tôi đã cho xây dựng một nghĩa trang liệt sĩ 7 người ở trên sườn đồi. Hội Cựu chiến binh của xã đã phát động hội viên trồng lên một rừng thông xanh tốt. Quanh năm rừng thông gió reo vi vút. Vừa rồi tại Đại hội Cựu chiến binh của xã, một hội viên làng Đồng Đưng cho tôi biết, có một du kích năm xưa đã nằm chết trong rẫy sắn. Có lẽ bị chết đói. Hiện nay gia đình anh ấy vẫn thắp hương thờ phụng. Anh đã báo cáo việc này lên Ủy ban Nhân dân xã. Tôi nghĩ không biết có phải là người du kích ở trong hang với ông Riên không? Phải tìm cách báo cho ông ấy biết mới được.

 Tôi gặp một giáo viên làng bên về dạy ở trường tôi. Cậu ấy là người bà con với ông Phạm Văn Hữu. Tôi hỏi có phải ông Phạm Văn Hữu chính là ông Nguyễn Văn Riên hay không? Hãy cho tôi số điện thoại! Cậu giáo viên ấy trả lời: “Có lẽ đúng đó thầy ạ. Bố em nói nhờ có bác Hữu mà Argentina phát triển mạnh về nông nghiệp. Những năm 80, nhờ có lương thực Argentina xuất khẩu sang Liên Xô, rồi Liên Xô viện trợ lại cho Việt Nam mình mới vượt qua sự bao vây cấm vận. Hồi em còn nhỏ, vợ chồng bác Hữu có chụp chung một tấm hình với bố mẹ em. Nay bác Hữu đã chết rồi, tại Argentina, năm 1995. Bác ấy thọ 65 tuổi”.

(1) Đồi Ông Tri hay còn gọi là động Ông Tri, thuộc xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình.
(2) “Trọn một con đường”, tập hồi ký của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, Nxb. Quân đội Nhân dân, năm 2012.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm
Gió đồng khoáng đạt – Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Tôi cùng với anh bạn Dũng Hạnh đi xe gần hết nửa ngày, thêm gần nửa buổi ngồi đò nữa thì tới được đồng Ngao. Cánh đồng rộng ngút ngát, nhìn thấy ngờm ngợp con mắt. Anh bạn nói: “Phải mua thủ can rượu cho chắc. Nó sống mụ mị giữa đồng, hết rượu có mà chạy trào máu mắt”.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mối hòa hiếu của hai quốc gia lân bang được bắt đầu khi Trọng Thủy bước vào thành. Chàng là một người trẻ tuổi đẹp đẽ, trong trẻo, sáng ngời như ánh dương đầu hạ. Mắt đen thăm thẳm như nước giếng mới khơi. Lưng cao, tiếng nói dịu, lễ nghi chu toàn. Kim Quy không ngờ đó là con trai Triệu Đà. Vì chàng khác hẳn sự hiểm độc của người cha. Chàng chỉ là người trần, sinh ra từ người mẹ chết sớm, lớn lên trong cung cấm nhưng đầy mộng mơ. Chàng không biết cha mình là hóa thân của kẻ thù truyền kiếp của Kim Quy. Trọng Thủy khi ấy chỉ mang một ước vọng: tìm thấy một nơi bình yên, một người con gái xinh đẹp có thể khiến chàng được sống thật với lòng mình. Chàng cũng từng kinh sợ những cuộc giao tranh, trừng phạt, giết chóc của vua cha. Rời xa vua cha cùng kinh thành là điều chàng từng mong muốn.Trọng Thủy nhận lệnh vua cha đến Loa Thành gặp Mỵ Châu nhưng chưa một lần biết mặt người con gái đó. Chàng lãng mạn tin rằng Mỵ Châu là đóa hoa đẹp nhất của đất Âu Lạc.
Xem thêm
Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng
Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.
Xem thêm
Chùm truyện siêu ngắn của Cristina Rivera Garza
Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí - tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.
Xem thêm
Lock down – Truyện ngắn của Bùi Đế Yên.
Nhà văn Bùi Đế Yên làm thơ trước khi viết truyện ngắn. Đọc truyện của chị, tưởng chị đang ngồi thủ thỉ kể một câu chuyện vừa mới xãy ra đầy hấp dẫn, khi nghe hết chuyện, lòng ta cứ thấy bâng khuâng …
Xem thêm
Nguyền rủa - Truyện ngắn
Gia đình bà Hường chuyển về sống lam lũ với xóm nghèo. Các khu dân cư mọc lên như nấm sau mưa; lối mòn biến thành đường nhựa. Ông Tấn suốt ngày cắp laptop vợ mua, đi “quan hệ kinh doanh”; đám trẻ con tò mò kháo nhau ông không biết dùng máy vi tính.
Xem thêm
Đêm trước phiên chợ – Truyện ngắn của Lương Mỹ Hạnh
Lão Hạo không lộ mặt, ra lệnh cho tay chân nhanh chóng neo thuyền lại. Chúng lấy những đoạn dây chão to bằng cổ tay chằng buộc hai thuyền kẹp cứng với nhau. Mặt đằng đằng sát khí, hơn chục thằng cầm dao, kiếm, côn nhảy sang thuyền thằng Lanh. Một cuộc ẩu đả bất phân thắng bại nổ ra, hai bên cùng xông vào nhau đấm đá túi bụi.
Xem thêm
Tro bụi ngược chiều – Truyện ngắn Tịnh Bảo
Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.
Xem thêm
Nắng chiều còn chảy – Truyện ngắn Đỗ Thanh Tuân
Trời xứ núi chuyển giông lúc nào cũng dữ dội như đón bão. Gió ầm ào. Cây rừng nghiêng ngả. Lá bay tứ tán. Mây ùn ùn về sắp đầy đầu núi, đen kịt.Chiếc xe máy chở Lan vừa chạy vừa nhảy cà tưng qua mấy ổ gà, những mỏm đá nhô cao của con đường núi thiên thẹo. Nước lùa ra đường đầy rều rác, cây bụi. Nhìn lên một bên là vách cheo leo, nhìn xuống bên kia là vực trong mưa chiều, trong cái sâu hun hút. Xa dưới kia, thác nước ào ào dội. Chốc chốc, chiếc xe dẹo mình cót két. Vậy mà bà chủ tiệm tạp hóa cứ đinh ninh là sẽ bắt cho cô chiếc xe thồ xịn nhất để vào nóc. Đúng xe núi hẳn hoi. Thiệt núi. Bà cười cố ý nhấn mạnh chữ “núi”. Xe cô, cứ để đó, khi mô trở ra thì lấy về. Dù chuẩn bị tâm lí trước nhưng Lan vẫn ngẩn người. Ở đây người ta sống bằng niềm tin. Lời nói ra xác tín như rìu chặt vào cây. Bà đưa Lan cái choàng mưa, tiện tay dúi thêm cái bao bóng lớn, nói ngó trời trong rứa chứ chút nữa thể nào cũng mưa, bỏ ba lô vào bọc ni lông cho khỏi ướt. Nhìn mớ đồ lỉnh kỉnh trong hành trang của Lan, bà cười. “Mong cái nóc Tu Mơ Rông giữ chân cô được.”
Xem thêm