TIN TỨC

Jack London – người hốt bạc từ nghề văn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
2379 lượt xem

 

Jack London là một trong những nhà văn hiện đại Mỹ có tác phẩm được dịch in nhiều nhất đồng thời cũng là một trong số những nhà văn Mỹ được mến mộ nhất ở Việt Nam.

Ông tên thật là John Griffith Chaney, sinh ngày 12/1/1876 tại San Francisco, Mỹ trong một gia đình nghèo. Thuở nhỏ, ông bị xem là “con hoang”. Mãi tới khi đã lớn, ông mới biết cha đẻ của mình chính là nhà chiêm tinh William Chaney. Ông bèn viết thư cho cha, song Chaney nhất quyết cự tuyệt. Cuộc sống vốn đã túng bấn của Jack London vì thế càng thêm khốn khó.


Nhà văn Mỹ Jack London.

Jack London đã phải trải qua một tuổi thơ đói khát. Trong một cuốn tự truyện, ông từng kể năm lên 7 tuổi, ông đã phải ăn cắp một chiếc bánh sanwich của cô bé hàng xóm. Tới năm lên 9, ông mới có chiếc áo sơmi đầu tiên trong đời. Năm lên 10 tuổi, ông phải đi giao báo. “Tôi phải dậy từ lúc trời còn mờ tối để kịp giờ học đầu tiên sau khi phát hành báo xong”. Mặc dù ham mê đọc sách từ nhỏ, song tới năm 14 tuổi, do hoàn cảnh, Jack phải bỏ học. Từ đây, ông bắt đầu cuộc sống phiêu bạt với đủ thứ nghề: làm công nhân nhà máy đồ hộp, nhà máy điện, nhà máy đay. Năm 17 tuổi, Jack London trở thành thủy thủ. Ông theo tàu sang Nhật Bản; đi săn hải cẩu ở Thái Bình Dương. Ông từng bị bắt vì tội “lang thang”, từng bị giam giữ vì tham gia các hoạt động kêu gọi đình công…

Với ý chí mãnh liệt, qua bao vất vả tự học, cuối cùng Jack London cũng được vào học tại Trường đại học Berkeley. Tại đây, ông đem lòng yêu một nữ sinh cùng trường tên là Meibl Epplgart.

Dưới cái nhìn của Jack, Meibl là một cô gái thật “hoàn hảo”: Xuất thân trong một gia đình trí thức, cô có lối phát âm thật chuẩn, biết chơi đàn piano. Tóc cô vàng óng, bồng bềnh như mây. Vòng eo thon nhỏ tuyệt mỹ… Hai người thường gặp nhau vào ngày chủ nhật mỗi tuần, trên một chiếc du thuyền. Trong bối cảnh thơ mộng vậy, Meibl khẽ khàng đọc những bài thơ tình buồn cho người bạn trai của mình nghe. Không biết có phải xuất phát từ khung cảnh nên thơ đó và được tình yêu chắp cánh mà một ngày nọ, Jack bỗng tuyên bố với Meibl về mơ ước trở thành nhà văn của mình. Có lẽ Meibl là người duy nhất nghe với thái độ nghiêm túc và tin tưởng khi Jack thổ lộ nguyện ước.

Được người yêu khích lệ, Jack sáng tác và khi thấy một tờ báo đăng tin họ sẽ tổ chức chấm giải cho những truyện ngắn hay nhất, ông gửi truyện dự thi và đã thành công. Tuy nhiên, mức thù lao được trả có vài đôla khiến Jack cảm thấy khó có thể giải quyết được một số việc hệ trọng trong cuộc sống bằng viết văn.

Bởi mức học phí quá cao, Jack phải vừa học vừa kiếm tiền. Ban ngày lên lớp, tối ông làm thêm cho một số nhà hàng, thậm chí còn làm thêm một ca nữa ở xưởng giặt.

Cuộc mưu sinh quá vất vả, Jack từ bỏ trường đại học đi Alaska với hy vọng nhanh chóng “đổi đời” bằng việc đào đãi vàng, từ đó ông sẽ cưới được Meibl. 16 tháng trời biền biệt không một hồi âm, một ngày kia Jack lầm lũi trở về, không một đồng xu dính túi. Để giải quyết “nguồn sống trước mắt”, Jack xin vào làm một chân đưa thư. Với cái túi thư đầy ních bên mình, Jack như chú ngựa chạy khắp vùng. Và khi đồng lương đã đủ đảm bảo, Jack bắt đầu để dành thời giờ chăm chút cho việc sáng tác.

Thời gian đầu, những tốn phí cho việc mua giấy bút, phong bì và tem thư coi như “lõm”. Những tạp chí danh tiếng từ chối không đăng truyện của Jack London. Nhưng ông không nản lòng. Một thời gian sau, khi mà Jack dường như không còn trông chờ thì đột nhiên tạp chí Xuyên lục địa thông báo sẽ đăng truyện ngắn về Alaska của ông. Cũng tương tự vậy là thông báo của một vài tạp chí khác.

Quá xúc động, ngay ngày hôm sau, trên một ngọn đồi có thể nhìn thấy toàn cảnh San Francisco, Jack đã ôm chầm lấy Meibl, tới tấp hôn lên má cô và ngỏ lời cầu hôn. Meibl đáp lại trong niềm hân hoan hạnh phúc, rằng cô đồng ý.

Tuy nhiên, vì điều kiện kinh tế chưa đảm bảo, cho nên sau gần một năm rưỡi ngỏ lời, sự việc chẳng tiến triển được là bao. “Hay là anh quay lại với công việc của người đưa thư?” – Meibl một ngày nọ đã phải sốt ruột thốt lên.

Song, con ngựa đang đà phi nhanh làm sao có thể dễ dàng bắt nó dừng ngay được. Jack nói với người yêu rằng, ông không thể trở lại làm nghề đó, vì mong ước lớn nhất của ông là phải trở thành một nhà văn, hơn thế, một nhà văn danh tiếng và giàu có. Ông mong cô hãy thông cảm mà nán chờ thêm một thời gian nữa.

Meibl bật khóc. Có ai hiểu được nỗi lòng cô bấy nay? Và trong giây phút không làm chủ được mình, cô đã thốt lên cái lời cay nghiệt mà đáng ra trong bất kỳ cảnh ngộ nào cũng không nên phát lộ, ấy là việc cô cho Jack biết cô chưa bao giờ thích những sáng tác của ông, rằng thì nó rất thô lỗ, rằng thì cô yêu ông nhưng không muốn ông là một người mơ tưởng hão.

Cuộc tình của họ đến đây coi như chấm dứt.

Nếu như ở những truyện ngắn đầu tiên, Jack London chỉ được các tòa báo trả cho vẻn vẹn 4 đôla mỗi truyện, thì về sau, mức nhuận bút đã là 8 đôla. Cho đến khi ông trở thành tác giả “quen hơi bén tiếng” và được độc giả yêu thích, mức nhuận bút của ông đã tăng vù vù, có lúc lên tới 30, 50 rồi 100 đôla cho mỗi truyện. Đã có thời kỳ, Jack London là nhà văn Mỹ có mức nhuận bút được trả cao nhất tính theo số chữ.

Năm 1900, Jack London cho xuất bản tập sách đầu tay “Con trai của loài sói”. Một năm sau là cuốn “Con gái vùng băng tuyết”. Năm 1903, tác phẩm “Tiếng gọi nơi hoang dã” ra đời, được ghi nhận là cuốn sách best-seller đầu tiên của ông. Tên tuổi Jack London nhanh chóng được người đời chú ý. Ông không còn biết đến nợ nần. Để cải thiện cuộc sống của mình, nhà văn trẻ đã mua một trang trại tại Glen Ellen, gần San Francisco.

Từng một thời phải bán sức lao động một cách rẻ rúng, đã tới lúc Jack có thể tự hào tuyên bố, ông là nhà văn duy nhất của nước Mỹ biết kiếm sống một cách đàng hoàng chỉ nhờ ngòi bút của mình. Thậm chí, trong cơn phấn khích, ông từng phát biểu rằng ông sẽ “bòn rút chủ nghĩa tư bản tới đồng đôla cuối cùng”.

Với vốn sống phong phú, lại chịu đọc, chịu viết, chỉ trong ít năm hoạt động văn học, Jack London đã có được một khối lượng tác phẩm đồ sộ, gồm đủ các loại, từ những chuyện tình giản dị, đến truyện khoa học viễn tưởng; từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, ấy là chưa kể mảng báo chí với những bài tường thuật các sự kiện chính trị, xã hội, những trận đấu quyền Anh… Jack ham viết đến mức, ngày nào ông cũng phải viết ít nhất 1.000 từ. Vợ ông có nhiệm vụ đánh máy bản thảo thành nhiều bản. Ông cũng sẵn sàng nhận lời đặt hàng của bất kỳ tờ báo nào có mức chi trả hậu hĩnh. Bởi thế mới có giai thoại: Một lần, do chậm nộp bản thảo cho một tạp chí ở New York, Jack London đã bị ông chủ của tờ tạp chí “tống đạt” một bức thư có nội dung hăm dọa như sau: “Ngài Jack London thân mến! Xin thông báo với ngài rằng, nếu trong vòng 24 tiếng nữa, ngài không có bản thảo nộp cho tôi, tôi buộc phải đến tận buồng ngài ở và dùng chân đá ngài lộn nhào xuống cầu thang. Chẳng là, tôi vẫn có thói quen buộc mọi người phải giữ lời hứa bằng cách ấy đấy”. Xem xong thư, Jack hóm hỉnh viết mấy dòng phúc đáp: “Ông bạn quý mến! Để giữ đúng lời hứa với ông bạn, chắc tôi phải sáng tác bằng cả… đôi chân nữa”.

Trong 18 năm sáng tác không mệt mỏi (từ 1898 đến năm ông mất – 1916), Jack London đã để lại một văn nghiệp đồ sộ với 19 tiểu thuyết, 150 truyện ngắn, 3 vở kịch. Ông chia tác phẩm của mình ra làm hai loại: Loại viết để kiếm tiền và loại viết vì lý tưởng. Tuy nhiên, dẫu có tuyên bố công khai vậy song có lẽ, những năm tháng cơ hàn đã ảnh hưởng không nhỏ tới cách suy tính của ông.

Nhà văn Anh gốc Ireland Bernard Shaw từng kể lại câu chuyện lạ lùng: Lần ấy, ông bất ngờ nhận được từ Mỹ một lá thư với mấy dòng như sau: “Tôi đã viết 33 cuốn sách, một khối lượng khổng lồ truyện ngắn và bài báo, nhưng vẫn không biết rõ các văn sĩ khác được trả thù lao là bao nhiêu. Ngài có thể nói thật cho tôi biết không, nhuận bút của ngài ra sao?”.

Tác giả bức thư là nhà văn trẻ Jack London, bấy giờ tên tuổi đã được biết đến rộng rãi trên toàn thế giới. Điều mà Bernard Shaw lấy làm ngạc nhiên là tại sao Jack London lại quá quan tâm tới vấn đề nhuận bút như vậy, khi mà mức nhuận bút người ta dành cho ông đã ở mức đáng ao ước đối với nhiều tác giả. Điều ngạc nhiên nữa là chỉ sau khi ông nhận được bức thư nói trên vài tháng, Jack London đã… tự vẫn. Chẳng lẽ một người không biết nuối tiếc cuộc sống của mình lại quan tâm đến những thứ nhỏ nhặt như vậy sao?

Sự thực thì, theo nhiều nhà nghiên cứu văn học, vào những năm cuối đời, Jack London đã gặp phải những khủng hoảng về tinh thần. Cuộc sống gia đình gặp nhiều trắc trở, sức khỏe suy sụp bởi bệnh tật. Bản thân việc sáng tác, thời kỳ này cũng không đáp ứng được những gì ông mong muốn (chỉ có cuốn “Sói biển” là đáng kể). Về tài chính, là người kiếm tiền nhanh, song Jack tiêu pha cũng hoang phí. Ông vung tiền vào các vụ mua sắm, tậu đất đai, máy móc. Ông sở hữu hàng trăm hécta đất tại một vị trí đẹp ở California. Ông có một mảnh đất lớn tại San Francisco và dự định biến mảnh đất sỏi đá này thành mảnh đất phì nhiêu, song công việc bị ách lại vì lý do sức khỏe.

Ngày 23/11/1916, Jack London uống thuốc độc tự tử. Cái chết của ông làm người ta liên tưởng tới nhân vật Eden trong cuốn tiểu thuyết có tính chất tự thuật “Martin Eden” của ông. Cuốn tiểu thuyết viết về một nhân vật Eden – nạn nhân của sự tha hóa giai cấp, vì anh ta không thuộc về giai cấp lao động nữa, trong khi nhân vật này lại chối bỏ những giá trị vật chất của tầng lớp quý tộc mà vì nó anh ta đã phải lao động cật lực. Trên chuyến tàu tới Nam Thái Bình Dương, Eden đã nhảy xuống biển tự vẫn.

Mặc dù, hiện xung quanh cái chết của Jack London vẫn còn nhiều giả thiết, song cuốn tiểu thuyêt nói trên cũng giúp người đọc nắm bắt dược phần nào những suy nghĩ thực trong những năm tháng cuối của đời ông.

Trần Duy Anh/Vanvn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Valentina Novkovich (Cộng hòa Serbia)
Nhà thơ Valentina Novkovich, đồng thời là nhà văn, dịch giả văn học, nhà báo của Cộng hòa Serbia. Chị tốt nghiệp Khoa Ngôn ngữ và Văn học Nga (ngôn ngữ thứ hai là tiếng Anh). Đã công bố thơ và văn xuôi trên nhiều tạp chí ở Serbia, như Književne novine, Trag, Književni pregled, Brankovina, Buktinja, Stremljenja, Savremenik, Istok, Balkanske vertikale; và trên các tạp chí điện tử Ekerman, Hyperboreja, Zvezdani kolod ở Nga, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Ba Lan, Romania, Macedonia, Kazakhstan.
Xem thêm
Giới thiệu thơ Maria Teresa Liuzzo (Italia)
Khâu những vạt áoMột dòng nước phun tràoRằng gió thắt nútBước đi của một đứa trẻ
Xem thêm
Quá trình trưởng thành đầy sóng gió của nhà thơ đoạt giải TS Eliot
Lớn lên ở Jamaica, từng nghĩ bà ngoại là mẹ mình, khi bà đã dạy anh học chữ viết trên hiên nhà với bảng đen. Bây giờ Jason Allen-Paisant dự định bay tới Ethiopia để gặp cha lần đầu tiên.
Xem thêm
Chùm thơ Oleg Ananyev (Cộng hòa Belarus)
Nhà thơ Ananyev Oleg Valentinovich, sinh ngày 12/9/1955, tại thị trấn Mordovo, vùng Tambov (Nga). Sống tại thành phố Gomel (thành phố lớn thứ hai của Belarus) từ năm 1957. Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn, trường đại học tổng hợp Francysk Skaryna, Gomel. Oleg Ananyev từng là nhà thiết kế đồ họa, người đề xướng trong Hội Tri thức Belarus, giáo viên văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật thế giới, giám đốc phòng trưng bày nghệ thuật của BSH, phó giám đốc Thư viện khu vực Gomel. Ông là hội viên Hội Nhà văn Belarus, Hội Nghệ sĩ Belarus, Liên đoàn Nhà văn và Nghệ sĩ quốc tế; đồng thời là nhà phê bình nghệ thuật, nhà văn, nhà báo, nhà viết kịch, nhà sử học địa phương. Oleg Ananyev là tác giả của một số tập thơ, người khởi xướng và tuyển chọn cuốn sách Исповедь в красках (tạm dịch: “Lời thú nhận trong màu sắc”, gồm 86 chương viết về các nghệ sĩ ở thành phố Gomel), Золотые купола (tạm dịch: Những mái vòm vàng. Viết về các nhà thờ ở Gomel); người khởi xướng và đồng tác giả dự án văn học nghệ thuật của Thư viện khu vực Gomel nhân kỷ niệm 70 năm Chiến thắng vĩ đại Живая память моей семьи (tạm dịch: “Ký ức sống động của gia đình tôi”), đồng tác giả của tuyển tập vở kịch Последователи Макаёнка (tạm dịch: “Những người theo dõi Makayonka”). Đạt giải trong hơn 10 cuộc thi văn học ở các hạng mục “thơ” và “văn xuôi” (trong đó có hai lần mang tên Kirill Turovsky – “báo chí”). Ông đã được Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus trao tặng Huy hiệu Danh dự “Vì những đóng góp cho sự phát triển văn hóa Belarus”.
Xem thêm
Giới thiệu thơ Tetyana Hrytsan-Chonka (Ucraina)
Tetyana Vasylivna Hrytsan-Chonka - là nhà văn, nhà giáo dục người Ukraina. Bà sinh ngày 29 tháng 4 năm 1964 tại làng Vilkhivtsi, hiện đang cư trú tại Zakarpattia, phía tây nam của Ukraina. Bà là hội viên của Liên minh Nhà văn quốc gia Ukraina, thành viên Học viện Văn học, Nghệ thuật và Truyền thông quốc tế Gloria (Đức) và Tổ chức Công cộng Ukraina Kobzar. Tác giả của 12 tập thơ, tiểu thuyết và tiểu luận Những cánh cửa sống, hay tôi là quả táo mù của nhiều thế kỷ. Tôi là đàn bà.... Là đồng tác giả của 77 tuyển tập và niên giám, cả ấn phẩm của Ukraina và quốc tế, bao gồm Article - Tel Aviv, Soul (tuyển thơ Nhật Bản), Brzegi ognia I Wody (niên lịch Ba Lan), tạp chí văn học nghệ thuật TextOver; tuyển tập thơ quốc tế Lili Marleen (tiếng Hy Lạp); tuyển tập thơ Trung Quốc Thơ thế giới; có mặt trong tuyển tập thơ chống chiến tranh bằng tiếng Anh Những bài thơ cho nhân dân Ukraina; đồng tác giả cuốn sách giáo khoa dành cho học sinh Ukraina lớp 5 & 7 “Văn học hiện đại quê hương”. Là tác giả của tập thơ Azerbaijan-Ukraina Quả táo vàng, cùng những tập thơ khác. Các tác phẩm của bà đã được dịch sang tiếng Ba Lan, tiếng Nhật, tiếng Trung, tiếng Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, tiếng Anh, tiếng Azerbaijan và các ngôn ngữ khác. Bà là người Ukraina duy nhất tham gia tuyển tập Anatolian Wind IV - International Anthology (xuất bản ở Thổ Nhĩ Kỳ). Là người duy nhất tham gia dự án Tạp chí quốc tế “Thần đồng” (Hoa Kỳ) tháng 10 năm 2023 trong chu kỳ “Thức tỉnh. Bà là người giữ kỷ lục, người tham gia tuyển tập quốc tế “HYPERPOEM” với 2000 người tham gia, đã được ghi vào kỷ lục của sách Guinness. Là đồng tác giả văn học thế giới trên báo quốc tế “Quốc gia toàn cầu” (Bangladesh). Các tác phẩm của bà được xuất bản trên các ấn phẩm quốc tế. Bà tham gia vào nhiều diễn đàn quốc tế Các nhà thơ của thế giới vì hòa bình ở Ukraina ở Ý, Đức, Anh, Trung Quốc, Canada, Mỹ, Bangladesh và Đức. Giải thưởng Văn học Hòa bình quốc tế (Đức-Ukraina). Là người đoạt các giải thưởng quốc tế và Ukraina, đồng thời là người chiến thắng trong nhiều cuộc thi, trong đó, đoạt Giải thưởng Văn học và Nghệ thuật quốc tế mang tên Panteleimon Kulish (2020) cho cuốn sách văn xuôi Những cánh cửa sống, hay tôi là một quả táo mù của nhiều thế kỷ. Tôi là phụ nữ, đoạt giải Franz Kafka quốc tế (Frankfurt-Vienna-Prague), đoạt giải Chiếc lông vàng quốc tế tại Azerbaijan, được trao bằng tốt nghiệp của Cộng đồng Nhân vật Văn học và Nghệ thuật Gloria, và được liệt kê trong bảng xếp hạng năm 2022 Người sáng tạo và Người giám hộ. Bà còn đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật quốc tế danh dự mang tên Heinrich Böll (2022); đoạt giải Cuộc thi Văn học Nghệ thuật quốc tế Ernest Hemingway tại Đức năm 2022, đoạt giải “Ngoại giao Văn hóa” quốc tế; được trao tặng danh hiệu Trật tự thế giới “Sao vàng ngoại giao văn hóa” (2023); đoạt Giải Văn học quốc tế mang tên Robert Burns (Scotland-Mỹ, Los Angeles) năm 2023; đoạt Giải Văn học Nghệ thuật mang tên Vasyl Yuhymovych (2023); được tờ báo nổi tiếng thế giới The Daily Global Nation Independent, Dhaka, Bangladesh vinh danh “Đại sứ hòa bình quốc tế” (Đức-Mỹ, 2023); giải “Cây cầu vàng” của Quỹ Văn học quốc tế ở Kyrgyzstan, đoạt giải thưởng quốc tế mang tên Dka de Rishelle ở hạng mục “Sách của năm” cho cuốn sách “Thời đại khác nhau” (Đức-Ukraina, 2023); giải thưởng của Quỹ Rahim Karimov (2023) ); Chủ tịch Quỹ Văn học quốc tế; đoạt Giải thưởng Văn học quốc tế mang tên Theodore Dreiser (Art Marathon, Bồ Đào Nha, 2023) và một số giải thưởng khác.
Xem thêm
Cuộc đời vẫn đẹp
Buổi sáng tôi thường dậy sớm để đi làm. Tôi thích nghe tiếng chim hót nên trên đường hay ngước mắt dõi theo những cánh chim dang rộng bay đi bắt côn trùng. Những chú chim sẻ ấy là các bạn đồng hành, giúp tôi thư giãn trước khi đến quảng trường nơi có thư viện mà tôi làm việc.
Xem thêm
Chùm thơ Trương Chí
Nhà thơ Trương Chí (张智, tên tiếng Anh: Zhang Zhi), sinh năm 1965 tại thị trấn Phượng Hoàng, huyện Đan Ba thuộc Châu tự trị dân tộc Tạng Cam Tư, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Ông là nhà thơ, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản, dịch giả uy tín của văn học Trung Quốc đương đại. Trương Chí là tiến sĩ văn học. Hiện là chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu và Dịch thuật quốc tế. Tổng biên tập Tạp chí Xuất bản Thơ quốc tế hàng quý (đa ngôn ngữ) và ấn bản tiếng Anh của Niên giám Thơ thế giới, đồng thời là cố vấn cho Trung tâm Toàn cầu hóa Thơ Trung Quốc bằng các ngôn ngữ quốc tế. Từ năm 1986, ông bắt đầu công bố tác phẩm văn học và dịch thuật của mình. Tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 40 thứ tiếng quốc tế. Trương Chí từng đoạt giải thưởng Văn học của Hy Lạp, Brazil, Mỹ, Israel, Pháp, Ấn Độ, Ý, Áo, Lebanon, Macedonia, Nga, Nhật Bản, Ai Cập, Bỉ, Armenia và Kyrgyzstan. Các tác phẩm chính của ông bao gồm các tuyển tập thơ: Receita (tạm dịch: Mùa thu hoạch - Tiếng Bồ Đào Nha-Anh-Trung), Selected Poems of Diablo (tạm dịch: Những bài thơ chọn lọc của Diablo - Tiếng Anh), Poetry by Zhang Zhi (tạm dịch: Thơ Trương Chí - Tiếng Đức-Anh-Bồ Đào Nha), Những bài thơ chọn lọc của Diablo (tiếng Trung-Anh), A Jigsaw Picture of the World (tạm dịch Bức tranh ghép hình thế giới - Tiếng Albania), Feu Follet On Paper (tạm dịch: Làm yêu tinh trên giấy - Tiếng Ả Rập), Poison (tạm dịch: Chất độc - Tiếng Ả Rập) và The Mirror Image of Ghost City (tạm dịch: Hình phản chiếu của thành phố ma - Tiếng Serbia), Tuyển tập phê bình thơ có tựa đề Loạt bài tiểu luận về các nhà thơ Trung Quốc tiên phong, và bản dịch thơ A & 1 is the Founder (tạm dịch: A & 1 người sáng lập - Tiếng Anh-Trung), Tuyển tập các bài thơ của Tareq Samin (tiếng Anh-Trung), My Secret Lover, You (tạm dịch: Em, người tình bí mật của anh - Tiếng Trung), và dịch tiểu thuyết Назови имя бога của Savitskaya Svetlana Vasilievna, LB Nga (tạm dịch: Xưng danh Thiên Chúa - Tiếng Nga-Trung), v.v. Ngoài ra, ông còn biên tập cuốn sách Thơ chọn lọc của các nhà thơ quốc tế đương đại (tiếng Anh-Trung), Thơ Trung Quốc chọn lọc thế kỷ 20 (tiếng Trung-Anh), Từ điển các nhà thơ quốc tế đương đại (đa ngôn ngữ), Sách giáo khoa Trung-Anh: 300 bài thơ Trung Quốc đổi mới (1917 - 2012), và Kinh điển thế kỷ: 300 bài thơ Trung Quốc đổi mới (1917 - 2016), v.v.
Xem thêm
Mở vòng tay tình yêu | Chùm thơ Bill Wolak (Mỹ)
Bill Wolak là nhà thơ, nghệ sĩ tranh cắt dán kiêm nhiếp ảnh gia. Ông sinh sống tại New Jersey (Mỹ) và đã xuất bản 18 tập thơ.
Xem thêm
Quyền năng biến đổi của Ruth- truyện ngắn Suchen Christine Lim
Suchen Christine Lim sinh năm 1948 ở Malaysia. Bà lớn lên ở cả hai phía của eo biển ngăn cách Malaysia khỏi Singapore. Bà đến Singapore năm 14 tuổi, học ở Tu viện của trường Holy Infant Jesus, và sau đó là Đại học Quốc gia Singapore. Bà dạy ở một trường cao đẳng và làm chuyên viên thiết kế chương trình giảng dạy ở Bộ Giáo dục. Suchen nghỉ việc vào năm 2003 để dành toàn thời gian cho viết lách.
Xem thêm
Thơ Isaac Cohen (Israel)
Nhà thơ quốc tế, người Israel.
Xem thêm
Luận về thơ của Yi-Soo Byeon (Hàn Quốc)
Thơ là điều gì đó xảy ra ngay khi bạn thức dậy sau giấc ngủ. Giống như việc bạn mở mắt ra, đi trên mặt nước và ném mình vào một thứ gì đó.
Xem thêm
Gió rì rào trò chuyện - chùm thơ Soad Al-Kuwari (Qatar)
Tác giả là Cố vấn Văn hóa tại Bộ Văn hóa Qatar Điều phối viên Phong trào Thơ Quốc tế tại Qatar
Xem thêm
Chùm thơ Khasanboy Kholmirzaevich Gayubov (Cộng hòa Tajikistan)
Gốc cây thuở ấy lắng ngheNơi tôi thường vẫn đi về ngày xưaVà em, chuyện thật như đùaBây giờ chỉ đến trong mơ một lần.
Xem thêm
Du khách kiên định trong vũ trụ thi ca
Đó là cách người ta nói về Rodica Marian – tác giả cuốn thơ “Khoảnh khắc can đảm”.
Xem thêm
Chùm thơ Rida K Liamsi
Nhà thơ Rida K Liamsi sinh ngày 17/7/1943 tại Dabosingkep, thuộc quần đảo Lingga, tỉnh Đảo Riau, Cộng hòa Indonesia. Ông đã xuất bản 6 tập thơ: ODEX (1971), Tempuling (2003), Kelekatu (2007), ROSE (2003), Secangkir Kopi Sekanak (2017) và Sungai Rindu (2020). Thơ của ông được in trong nhiều tuyển tập cùng với các nhà văn, nhà thơ khác. Cuốn sách có tựa ROSE đã nhận được giải thưởng của Viện Ngôn ngữ quốc gia Indonesia năm 2018. Rida cũng là tiểu thuyết gia, đã xuất bản một số cuốn sách: Bulang Cahaya (2007), Megat (2016)...
Xem thêm
Chùm thơ Abdukakhor Kosim (Cộng hòa Tajikistan)
Nhà thơ Abdukakhor Kosim (tên đầy đủ: Abdukakhor Sattorovich Kosimov), sinh ngày 27/1/1965, tại trang trại bang Kuibyshev, thuộc vùng Vakhsh, Cộng hòa Tajikistan, trong một gia đình làm nghề thợ rèn. Ông đồng thời là nhạc sĩ, nhà báo uy tín của Tajikistan.
Xem thêm
Yevgeny Chigrin (LB Nga) - Mai Văn Phấn dịch từ tiếng Nga
Yevgeny Chigrin là một trong những nhà thơ đương đại uy tín của LB Nga
Xem thêm
Chùm thơ của Mahmoud Drwwish, nhà thơ lớn của Palestine
Mahmoud Darwish là một nhà thơ người Palestine và là một trong những nghệ sĩ hàng đầu của thế giới Ả Rậ
Xem thêm