TIN TỨC

Đọc ‘Bão’ – Ánh sáng nhân tâm giữa cơn bão thời cuộc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-05 23:33:39
mail facebook google pos stwis
1082 lượt xem

Tiểu thuyết "Bão" của PGS.TS, nhà văn Nguyễn Đức Hạnh được nhà văn Phan Đình Minh tiếp cận trên cả ba phương diện: nội dung xã hội, nghệ thuật tự sự và chiều sâu nhân văn. Bài viết đặt tác phẩm trong bối cảnh cuộc chiến giữa lương tri và quyền lực tha hóa – nơi chữ “Tâm” trở thành điểm tựa tinh thần của con người giữa bão táp thời cuộc. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết này.

PHAN ĐÌNH MINH

“Bão” là câu chuyện hiếm hoi trong Văn học đương đại Việt Nam mô tả trực diện về thế giới tội phạm, tham nhũng, sự tha hóa của quan chức và cuộc chiến nội tâm sinh tử của những người Công an liêm chính.

Trung tâm tiểu thuyết là Phạm Vụ, một cán bộ Công an trẻ, quyết liệt, giàu lý tưởng, mang trong mình hình bóng người cha đã hy sinh vì sự nghiệp An ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội của ngành Công an. Anh đại diện cho lớp chiến sĩ mới, đối lập với những cái bóng quyền lực bị mục ruỗng, tha hóa trong thể chế.

PGS.TS, nhà văn Nguyễn Đức Hạnh và nhà văn Phan Đình Minh.

Tiểu thuyết mở ra bối cảnh một tỉnh Biên Cương, vùng đất vốn yên bình nhưng nhanh chóng trở thành chảo lửa khi các tập đoàn lợi ích cấu kết với quan chức và xã hội đen, thâu tóm đất đai, xây dựng dự án, rửa tiền, buôn bán ma túy và vô hiệu hóa những người dám chống lại bọn chúng.

Trung tâm của nhóm quyền lực đen là Bí thư Tỉnh ủy Trần Tách, xuất thân từ nghèo khó nhưng đầy thủ đoạn. Không có tài năng, ông ta mua bằng tiến sĩ kinh tế, dùng mưu mẹo, tiền bạc và bạo lực để leo lên đỉnh cao quyền lực. Cùng phe cánh với Trần Tách là Thượng tá Phạm Văn Thắng, Phó Giám đốc Công an tỉnh, chú ruột của Vụ, một người biến chất vì tiền và quyền lực; Chủ tịch tỉnh Nguyễn Duy Hưng, con người nhu nhược, để vợ điều hành đường dây nhận hối lộ qua những “hũ sành” kỳ dị; Tập đoàn HVG của My Loan, doanh nghiệp sân sau chuyên chi tiền để lấy dự án, rửa tiền và thao túng chính trường.

Bên dưới bộ máy quyền lực này là ba băng nhóm xã hội đen: Cường “Trọc”, Út “Sẹo”, Minh Phi, nguy hiểm nhất, tàn bạo, buôn bán ma túy xuyên quốc gia.

Bọn chúng được quan chức bảo kê, đổi lại đem về quyền lợi khổng lồ. Sự kết hợp giữa quan chức tha hóa - doanh nghiệp sân sau - xã hội đen, trở thành “bộ ba ma quỷ”, khiến tỉnh Biên Cương rơi vào loạn lạc.

Lúc này xuất hiện Phạm Vụ, người lính đứng trong tâm bão.

Anh là chiến sỹ Công an Nhân dân có lý tưởng trong trẻo, luôn tin vào sự thật, lẽ phải và vào lời dạy của người cha liệt sĩ:

“Danh dự còn quý hơn vàng”

Vụ cùng Giám đốc Công an tỉnh Nguyễn Hồng Kiên, một người chính trực bí mật lập Chuyên án “Bão tan”, nhằm đồng loạt triệt phá các đường dây tội phạm và lật mặt nhóm quan chức tham nhũng.

Một trong những thông điệp mạnh của “Bão” là cách đồng tiền bẩn phá nát đời sống người dân như thế nào. Các dự án do HVG triển khai khiến hàng trăm hộ dân bị thu hồi đất. Có người “trúng tiền” rồi sa ngã, như gia đình ông Quýnh, từ triệu phú đất trở thành đổ nát vì rượu chè, tranh chấp, tai nạn. Có người như ông Thiện lại biết làm ăn và đứng lên từ một số tiền nhỏ nhoi.

Gia đình Vụ cũng chịu áp lực: Hai người cháu nghiện ngập, trốn sang Campuchia, mẹ anh, bà Vân lo lắng khôn nguôi. Vợ anh, chị Thắm, trở thành điểm tựa thầm lặng giữa những hiểm nguy bủa vây. Các chiến sĩ công an dưới quyền Vụ sống trong cảnh bị đe dọa, gia đình họ luôn đối mặt với sự trả thù của xã hội đen.

Nhiều biến cố dồn dập xảy đến. Bọn người xấu đã dàn cảnh vu hãm Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh Văn Tuấn; Sát hại bác Xây, người cắt tóc hiền hậu nhưng là nguồn cung cấp tin quan trọng; Gài ma túy vào xe của Vụ; Cố ý tông xe vợ anh, đe dọa con anh, tuy vậy, Vụ vẫn không lùi bước.

Khi Bộ Công an phê duyệt chuyên án, đúng giờ G được ấn định, trước khi nổ súng, Vụ đến gặp Giáo sư Thuấn, người viết thuê luận án cho Trần Tách. Giáo sư trong nước mắt thừa nhận sự lụi tàn của hệ thống giáo dục địa phương và nỗi xấu hổ khi tiếp tay cho cái ác… Vụ tặng ông chữ “Tâm”, như một lời nhắc nhở về lương tri.

… Đêm rạng sáng, Minh Phi và đàn em cố thủ trong hang đá. Chúng lo sợ, kiệt sức và hoảng loạn. Minh Phi tìm cách cầu cứu đại ca Voòng từ bên kia biên giới, nhưng bị phản bội.

Trong giờ phút hiểm nghèo, Kiều Huệ liều mình cõng bé Thỏ trắng chạy thoát bằng đường ngách. Cô trao bé cho Vụ, nhưng ngay lúc ấy cô bị Minh Phi bắn gục…

Huệ ra đi trong vòng tay Vụ, như một bông hoa huệ trắng muốt, tinh khiết ngay cả khi bị bầm dập cảnh đời. Hình ảnh ấy là đoạn bi tráng nhất của tiểu thuyết.

Sau cuộc tấn công, toàn bộ đường dây tội phạm từ quan chức đến xã hội đen đều bị bắt. Trần Tách, Thắng, Hưng cúi đầu nhận tội. Không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Nhưng cái giá rất đắt: Bốn chiến sĩ Công an trẻ hy sinh. Kiều Huệ chết. Gia đình nhiều chiến sĩ gánh chịu thương đau. Phạm Vụ mang vết thương đạn vẫn chưa lấy ra. Đó là “cái giá của sự trong sạch”.

GIÁ TRỊ NỘI DUNG

 “Bão” như một truyện ký về bóng tối và ánh sáng trong lòng một vùng đất nhỏ, nhưng cũng là dự báo, phác họa về những vấn đề lớn lao hơn…

“Bão” mở ra một dự cảm về đất trời có thể nổi bão, lòng người còn dễ dậy sóng hơn. Tác phẩm dựng lại bối cảnh xã hội của một tỉnh miền núi Biên Cương, nơi vẻ ngoài yên bình che giấu ba tầng cấu kết: Quan chức tha hóa, doanh nghiệp sân sau và xã hội đen. Ba tầng ấy tạo thành thế chân kiềng nuôi nấng tham nhũng, gieo chết chóc và làm băng hoại đời sống của hàng vạn con người.

Ở tầng cao nhất là Trần Tách, một Bí thư Tỉnh ủy leo lên quyền lực bằng mọi thủ đoạn, bằng cấp bán mua, và mưu mô sắc lạnh. Con đường của ông ta là thứ “bảng vàng giả hiệu” nằm trên nền mục ruỗng. Dưới ông là Phạm Văn Thắng, Phó Giám đốc Công an tỉnh, chú ruột Phạm Vụ, người biết luật nhưng lại chọn đứng về phía bóng tối. Còn Chủ tịch Hưng nhu nhược, để vợ tổ chức mạng lưới nhận tiền qua những chiếc “hũ sành”, biến quyền lực thành túi chứa.

Ở tầng doanh nghiệp, My Loan - doanh nghiệp HVG, dùng tiền và sắc tạo sức mạnh trói giới quan chức như trói thừng thúc ké. Những dự án đền bù rẻ mạt khiến nông dân bị đẩy khỏi mảnh đất của mình, người giàu lên bất thường, ảo ảnh rồi tàn lụi, kẻ tỉnh táo thì tự khởi nghiệp trong chật vật nhỏ nhoi. Thứ có chỉ ra nghịch lý: Đất đai, nơi cha ông đổ mồ hôi giữ lại bị rút ruột bởi chính những kẻ có quyền.

Tầng thấp nhất là các băng xã hội đen: Cường Trọc, Út Sẹo, Minh Phi. Chúng vừa là tay sai bẩn, vừa là nguồn lợi “vặt” mà không hề vặt của giới quan chức. Bọn chúng buôn ma túy, đâm thuê chém mướn, ép dân… và mẫn cán thực hiện hết những gì “phận trên” không lộ mặt.

Trên nền xã hội phức tạp loang lổ ấy, nhân vật trung tâm Phạm Vụ xuất hiện như một vệt sáng. Anh không phải người hùng không tì vết. Có nỗi sợ, có giằng xé, có gia đình bị đe dọa... nhưng anh có phẩm chất không thể lai tạp: Liêm chính, thứ di sản duy nhất được truyền lại từ người cha liệt sĩ. Sự đối lập giữa Phạm Vụ và người chú ruột Phạm Thắng tạo nên tuyến xung đột cốt lõi của tác phẩm: Cái thiện ác, nồi da nấu thịt, cức vỡ ngay trong chính “gian nhà của mình”.

Tác phẩm đặt Vụ trong nhiều tầng bi kịch: Cái chết của bác Xây, sự trả thù vào vợ con, sự theo dõi của toàn bộ hệ thống quyền lực đen. Nhưng càng bị dồn ép, nội lực của anh càng vùng sáng. Sức mạnh của Phạm Vụ không nằm ở súng ống mà ở lòng tin vào tử tế, sự thật sáng trong, điều tưởng mong manh nhưng lại bền như đá rắn.

Đường dây tội phạm bị bóc gỡ không chỉ bằng nghiệp vụ mà còn bằng sự nhân quả, tính người. Người cung cấp thông tin quan trọng nhất đôi khi chỉ là một bác thợ cắt tóc, một cô gái bị đời ruồng rẫy như Kiều Huệ, hay một giáo sư già viết thuê luận án trong nỗi tủi nhục của lương tri. Mỗi số phận mang một lát cắt xã hội, nơi cái giả làm mòn cái thật, nơi người lương thiện nhiều khi chỉ biết thở xuội ra, bất hạnh.

Chữ “Tâm” bằng đồng đúc, Vụ trao cho giáo sư Thuấn là biểu tượng cô đặc của tiểu thuyết: Giữa hỗn độn và giả dối, chỉ chữ Tâm mới cứu được một đời người, một nền giáo dục, và xa hơn là một quốc gia.

Đỉnh điểm của nội dung là cuộc tổng tấn công. Tỉnh nhỏ rung lên. Đạn nổ, máu chảy, chiến sĩ ta hy sinh… Nhưng thứ làm người đọc nghẹn lại không phải tiếng súng vang rền mà là khoảnh khắc Kiều Huệ ra đi trên tay Vụ, sau khi cứu con trai anh bằng chính sinh mạng mình. Một kẻ từng bị bóng tối vùi lấp đã chọn đứng về phía ánh sáng. Cái chết của cô là sự gột rửa,… ra đi để chữa lành. Là câu trả lời cho câu hỏi xuyên suốt của tác phẩm:

Ánh sáng có thể cứu một người đã từng sa ngã hay không?

Câu trả lời: Là có.

Khi bão tan, những nhân vật tha hóa bị bắt. Họ sụp đổ như những ngôi nhà dựng trên triền cát, nhưng tác phẩm không dừng ở việc “trừng phạt cái ác”, nó đã bước xa hơn: Khơi lại niềm tin của người dân vào lẽ phải và công lý.

Vĩ thanh khép lại nơi nghĩa trang. Mộ của bốn chiến sĩ trẻ. Ngôi mộ Kiều Huệ và tiếng hát xẩm của nghệ nhân Trung vang lên báo hiệu mùa xuân trở lại. Con người có thể không còn, nhưng lòng tin thì ở lại. Đó là giá trị nội dung lớn nhất của Bão

GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT

“Bão” không chỉ là văn bản tố cáo cái xấu xa, nó còn là tiểu thuyết của nhịp điệu, cấu trúc chặt chẽ, của hình ảnh giàu tính điện ảnh và nhạc tính…

“Bão” trước hết là một tiểu thuyết kể về cái ác, nhưng ngay lập tức vượt khỏi giới hạn đó để trở thành một tác phẩm của nhịp điệu và nhiều tầng cấu trúc, nơi hiện thực gai góc hòa vào chất trữ tình và cả sắc thái điện ảnh nữa.

Tác phẩm mang giọng kể mạnh, thẳng, tiết chế đến mức có lúc sắc lạnh nhưng trong chính sự lạnh lùng ấy lại vang lên thứ âm thanh của nhiều nhịp trường đoạn. Nhiều trang tựa phóng sự điều tra, nhiều đoạn lại mềm đi thành tự sự và đôi lúc như không kìm được cảm xúc, văn bản khẽ nghiêng về chất trữ tình... Ba lớp nghệ thuật ấy đan cài như ba dòng chảy không phân lập, tạo lên hiệu ứng cảm xúc tiếp nhận của độc giả,… khởi bung từng trang viết.

Tính hiện thực trong “Bão” không biểu đạt bằng sự gào thét, cường điệu. Nhà văn đặt trước mắt người đọc những chi tiết chọn lọc, những sự kiện không tô đậm nhưng đủ chân thật để dẫn dắt từng chi tiết văn học một... Một bí thư tỉnh đi mua tấm bằng tiến sĩ từ ông giáo sư già đói chữ và đói uy tín; chiếc “hũ sành” kín đáo mà lại trở thành cánh cổng lưu thông tiền bẩn; trang trại với bầy chó béc-giê canh giữ kho xương hổ giả; những cuộc tiệc thác loạn âm thầm được quay lén để làm tư liệu chính trị; rồi một căn nhà bị gài mìn nhằm cảnh cáo người quá ngay thẳng... Tác giả chỉ đưa sự việc ra ánh sáng, không bình luận, không tô màu hay tự biện… Sự tĩnh lặng bằng giọng kể khiến cái ác tự dưng phơi bày trọng lượng của nó, và người đọc cứ “tự nhiên” đối diện sự thật ấy mà không cần lẩn tránh, suy ngẫm.

Bên dưới bút pháp hiện thực cao cường, hệ thống nhân vật trong “Bão” hiện ra với sự dày tầng hiếm thấy. Không ai hoàn toàn thiện, cũng chẳng ai hoàn toàn ác, họ rung động, chao đảo, sa ngã, chùng chiềng đứng dậy, đúng như những gì đời sống thật vẫn thường khắc họa. Vụ không phải vị thánh bọc trong hào quang chính nghĩa. Anh biết sợ, biết tuyệt vọng, biết có những khoảnh khắc muốn lắm buông tay. Thắng, kẻ đứng ở phía bóng tối cũng không phải tên ác quỷ từ lúc ban đầu. Gã từng có mặc cảm, từng có phút yếu mềm đủ để người đọc nhận ra một phần con người đã bị chính hắn treo lên nướng… Kiều Huệ, người đàn bà bị đời gán chữ “hư” lại mang trái tim đau đớn và khát vọng được nhìn nhận. Ngay cả Trần Tách, biểu tượng của sự tàn nhẫn, cũng có khoảnh khắc ngồi trước bàn thờ cha mẹ mà tự soi lại chính mình. Minh Phi, dẫu tàn độc vẫn sợ bị phản bội như đứa trẻ lạc lõng giữa thế cuộc hắn tạo ra… Những con người như thế đã làm cho “Bão” thoát khỏi cái bóng của tiểu thuyết “minh họa”, trở thành bản khắc họa chân thực về “bản chất người” trong vòng xoáy quyền lực.

Ngôn ngữ của tác phẩm có độ ngân như bản nhạc, vang lên vừa thô ráp vừa tinh tế. Tác giả hiếm khi dùng từ “bão”, nhưng cơn bão vẫn ập đến qua những hình ảnh dồn nén: Bầu trời nặng mây đen, tiếng gà mái gáy gở nơi thôn xóm, bát hương gia tiên nứt đôi như dấu hiệu của một dòng họ sắp gặp vận hạn, tro nhang bay ra mùi lạnh, nước mắt hòa cùng mưa, và cuối truyện là tiếng đàn nhị và giọng hát xẩm réo rắt ngân dài như tiếng thở buồn của đất làng. Hình ảnh hoa trẩu trắng là đường chỉ xuyên suốt, mỗi lần xuất hiện lại gợt lên nét thanh khiết trái ngược hoàn toàn với không gian nhiễm độc chung quanh nó, cũng giống như Vụ, người giữ được sự trong sạch ngay giữa vùng bão tố.

Cảnh hang đá, nơi Minh Phi cố thủ cùng Kiều Huệ và bé Thỏ trắng, được dựng bằng thứ ngôn ngữ của điện ảnh: Ánh đèn pin lia qua những thạch nhũ ẩm lạnh, tiếng nước rỏ xuống nền đá tối, ánh lửa lách tách phản chiếu vào đôi mắt trẻ thơ run rẩy nhưng vẫn cố tỏ ra can đảm.

Chỉ vài nét, cả một khung hình đã trở nên sống động.

Cấu trúc của “Bão” được tổ chức theo ba tầng: Quyền lực, bóng tối tội phạm, và đời sống dân gian. Ba tầng này không song song tồn tại mà liên tục xoắn vào nhau.

Một quyết định trong phòng họp có thể bắt nguồn từ một bất công nhỏ ở nơi xóm núi; một bất ổn trong đời sống dân nghèo có khi lại là hệ quả chỉ một cái gật đầu trong giới chức. Tác giả cho thấy sự thật đơn giản nhưng đau đớn: Cơn bão của tham vọng luôn manh nha từ can cớ rất là nhỏ bé. Những người nông dân lam lũ, những cô giáo vùng cao, những ông thợ cắt tóc lặng lẽ nuôi nghề, họ là nạn nhân của bão nhưng cũng là những người bằng chính sự tử tế và bền bỉ, góp các viên đá đầu tiên để đắp những bờ đê.

Các đối ứng nghệ thuật xuất hiện dày đặc nhưng không phô trương: Vụ và Thắng như hai mặt của cùng một gia đình; Kiều Huệ và My Loan là hai kiểu phụ nữ bị cuốn vào guồng quyền lực; Hoa trẩu và bão, mưa và máu, chữ Tâm và tội lỗi, tất cả soi chiếu lẫn nhau, tạo ra chiều sâu văn chương mà vẫn duy trì chất phóng sự của tác phẩm.

BÀI HỌC QUẢN TRỊ XÃ HỘI

 “Bão” là tiểu thuyết nhưng cũng là bản điều trần xã hội. Mỗi chương như một dự thảo cảnh báo về sự đứt gãy quản trị nhà nước nếu quyền lực không được kiểm soát.

Từ giá trị nghệ thuật, “Bão” mở rộng thành văn bản quản trị xã hội.

Mỗi chương như một chỉnh thể lập pháp, chỉ ra nguy cơ khi quyền lực không được kiểm soát.

Tấm bằng giả của Trần Tách không chỉ là sự gian dối cá nhân mà còn là biểu tượng cho cơ chế nhân sự luộm thuộm, nơi kẻ bất tài leo cao rồi kéo theo những “chùm” người giống hệt mình, khiến bộ máy phùng phình trượt dài vào suy thoái. Cùng lúc, tác phẩm phơi bày bao mảnh sân sau, tựa như gốc rễ của mọi đường dây lợi ích. HVG làm giàu bằng hối lộ, và cái giá xã hội phải trả không chỉ là tiền mà là môi trường bị tổn thương, đạo đức bị mòn xói cùng lòng tin bị khoét rỗng.

Sự cấu kết giữa quan chức và tội phạm hiện ra như hố đen nuốt trọn mọi giá trị an ninh. Luật pháp bị vô hiệu hóa, không tối thượng, bà con, người yếu thế mất niềm tin, và tất nhiên… một thứ quyền lực song song ra đời trong bóng tối!

“Bão” nhấn mạnh rằng nếu tội phạm được bảo kê, nó sẽ trở thành con thú không ai kiểm soát nổi. Vì thế, ngành Công an chỉ có thể giữ được sự trong sạch khi dám cắt bỏ những ung nhọt trong chính mình. “Nhập kho” Thắng là bước thử nghiệm và đồng thời là bằng chứng cho nguyên tắc ấy.

Tác phẩm cũng khẳng định một chân lý cũ nhưng luôn đúng:

Người dân là cột chống bão vững chắc nhất. Sức mạnh của an ninh không nằm ở vũ khí mà ở lòng tin.

Một xã hội minh bạch thông tin thì khó có chỗ cho sự thao túng.

Một quy trình nhân sự đúng đắn sẽ không để kẻ bất tài phá nát một vùng đất.

Một nền giáo dục nghiêm túc sẽ không sản sinh những nhà quản lý dốt nát và bấy bứa.

Và một hệ thống hành pháp mạnh, phản ứng nhanh với tham nhũng sẽ dập tắt được mọi cơn bão trước khi nó lớn.

Rốt cuộc, “Bão” dẫn người đọc trở về với những giá trị vững chắc là truyền thống và văn hóa, khi ta nghe và nhìn thấy ông lão hát xẩm cất lên lời ca réo rắt, đó là điểm tựa mà mọi đường cong quyền lực đều phải soi chiếu… Đó là chữ “Tâm”, Vụ gửi lại cho Giáo sư Thuấn.

Vì thế, “Bão” không chỉ kể một chuyên án, mà mở ra dự cảm về cơn bão đạo đức rộng lớn hơn, nơi bóng tối hằng rình rập.

Nhưng giữa những đám mây đen vần vũ ấy, luôn ấm sáng một niềm tin vững chắc. Ta có nhân dân.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm