TIN TỨC

Thơ là linh dược

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-27 22:06:23
mail facebook google pos stwis
340 lượt xem

NHẬT HỒNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.

 

Tác giả Trần Thị Thùy Vy

 

Ai cũng biết rằng, thời gian gần đây cao trào thơ Việt Nam nở như hoa xuân, các tâm hồn thơ thi nhau sáng tác, nhưng không vì thế mà mất đi chất thơ, càng lúc càng dồi dào sức sống. Riêng tôi, không đánh giá thơ giỏi dở mà muốn nói Thơ là cái hồn tinh tuý của dân tộc Việt Nam đã lớn lên trong cái nôi Thơ Ca. Mỗi người, mỗi nét, mang đủ màu sắc khắc hoạ thơ của mình. Rất đặc biệt, tác giả Trần Thị Thuỳ Vy không thêu dệt tâng bốc thơ của mình mà chỉ đánh giá qua bốn từ: THƠ LÀ LINH DƯỢC. Đã nói là linh dược thì sẽ chữa lành các căn bệnh mà con người vốn mắc phải! Hay! Lối suy nghĩ rất mới.

Đối với tác giả dùng ngôn ngữ diễn tả tâm tư tình cảm bằng giọng điệu rất mới trong thơ, trong Mái đêm: Em trao anh trái tim côi từng đêm…Hình như một ánh trăng vừa tàn/ một chiếc lá vừa rơi/ một làn gió vừa thổi tung mái tóc/ rối bời vì bóng anh lồng lộng/một sợi tóc vừa rụng xuống/ khỏi mái đêm sâu thẳm (Cả những ngày đã quên, trang 12).

Rất là tự nhiên đến đổi, khi chạm vào hồn thơ người đọc không hề hay biết là những vần thơ mà cứ ngỡ là một quang cảnh êm đềm trước mắt. Cái hay của tác giả là như thế, như ta xem một tác phẩm chân dung nghệ thuật của hoạ sĩ tài danh, nét vẽ mê hoặc người xem, những lỗ chân lông người trong tranh hiện rõ và đôi mắt long lanh đang giao tiếp chuyện trò với người đối diện. Ở cái nhìn khác, Chơ Ro. Tôi nhìn thấy bầu trời Chơ Ro trong mắt em/…những chiếc gùi trên lưng cõng đầy mưa nắng/…mùa con két về rỉa bắp/tiếng con dê gọi bầy/ mùa dựng rượu ghè/mùa giống trống chiêng/tế dâng đủ đầy/mùa nương rẫy/mùa dấu chân em bám đá/ngược dốc gọi nguồn/ơi Chơ Ro! Cả những ngày đã quên, trang 18).

Một quang cảnh đẹp bịnh dị quê hương được vẽ lên bằng ngôn ngữ truyệt vời đến đổi người đọc nhận ra góc quê hương trước mặt, thời gian chầm chậm trôi mà mọi sự sinh hoạt đang diễn tiến từng chút một. Sự linh động, và sự chân quê không hào nháng, không lập khuôn, bởi sự thật đã khắc hoạ tinh tế. Ở đâu đó trên cánh đồng thì tiếng trâu nhịp chân về chuồng, hay tiếng chim gọi nhau về tổ khi trời sắp tối, thì ở Chơ Ro tiếng dê gọi bầy. Hình ảnh trung thực trong thơ tác giả đã làm cho người đọc phải giật mình vì đứng trước một góc quê hương đậm đà bản sắc dân tộc. Lần theo chiều cảm xúc ta chạm đến nỗi niềm của tác giả với Mặc trầm lời ru. Người đàn bà ẵm bồng cánh buồm vừa mọc/tiếng khóc của nụ chồi đỏ hỏn/của ánh mặt trời dâng sóng/Vượt cạn…/Người đàn bà chèo cạn đêm nay/ôm hòn máu đời mình/mặc trầm lời ru. Cả những ngày đã quên, trang 32).

Vượt cạn của người đàn bà luôn là nỗi bất trắc mà cũng là niềm vui nhất trong đời. Tiếng khóc của trẻ thơ làm cho người đàn bà lớn hẳn và mạnh mẽ hơn, sẵn sàng đối mặt, luôn giữ an toàn cho mầm non trong mọi hoàn cảnh! Ở đây, vượt cạn, tác giả đã mạnh dạn ẵm bồng cánh buồm vừa mọc, dùng đôi tay vươn dài che chở cho nụ chồi đỏ hỏn. Hình ảnh người đàn bà có đầy đủ trách nhiệm thật đáng trân trọng!

Trở lại với góc quê hương ta bắt gặp ký ức cối xây lúa chạm vào lòng, một nỗi niềm hằn sâu vào hàng thế kỷ khôn nguôi. Làn da đồng hun sâu dãi dầu của ông/nụ cười móm mém tóc mây của bà/…đường cày và những lằn roi ví thá/những bữa cơm vội vã/giấc ngủ đượm bùn phèn của mẹ/khói thuốc phập phều ngày đông của cha/…ngun ngút khói chiều giáp hạt/gom cánh chim tuổi thơ/phơi ngày trở giấc/…chiếc cối xay/xoay tròn…xoay đều/điệu mưa bình yên/ru nhưng giấc mơ màu mỡ. Cả những ngày đã quên, trang 46).

Một buổi sớm mai nào đó, giọt cà phê rơi trong đáy cốc, chợt nghe tiếng va chạm vào lòng! Thèm, nhớ, bâng khuâng. Nhưng với tác giả lại khác hơn, cô đã vẽ lên một bức tranh không gam màu mà ẩn hiện sáng tối rõ nét bằng những ngôn từ thật ấn tượng. Chiều nay caphe cùng anh/được trở về mười tám/tuổi dám yêu dám nhận/Ngày mai không caphe/không cute/không mầu nhiệm/…ngày mai rồi ngày mai nữa…/gánh hàng rong trên vai bà Bảy cong dần/từng bước đi chậm chạp/tiếng mời chào thưa hơn/Chiều nay/bên anh tuổi mười tám hiện thời/như giọt cà phê rơi. (Cả những ngày đã quên, trang 66). Hãy để lòng thanh thản và nhắm mắt để nghe tiếng guốc gõ trên từng cung, có một khoảng lặng đến ngậm ngùi chỉ trong vài câu ngắn ngủi. Tác giả đã thâu tóm thời thời gian, không gian một cách tài tình cho người đọc nhận ra suốt chiều dài cuộc đời và thân phận, nhận ra điều trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Đây là một nghệ thuật diễn tả cho một biểu cảm của ngôn ngữ, hay tiếng lòng của tác giả đau đáu nỗi niềm của người đời. Con người dù bận rộn đến đâu, đôi khi cũng có những giây phút suy gẫm thiền định (méditation). Những giây phút này tác giả nhận ra sắc màu tâm tưởng bằng những cung bậc từ tốn: Người đàn bà len qua giông tố/vất vưởng giữa sa mạc/cằn cỗi giữa hoang tàn/đồng hành cùng bóng đêm/Có lúc lả đi chạm chân tuyệt vọng/Chơn tâm vụt sáng/Bàn chân dần ấm/Chạm sỏi biết đau/…Từng bước/Từng bước… chuyển hồng/ (Cả những ngày đã quên trang 93).

Tác giả đã khéo léo chuyển hoá tâm trạng một cách tài tình, dù là bài thơ ngắn nhưng cũng đủ để người đọc suy gẫm việc đời, không chịu đầu hàng nghịch cảnh, lúc nào cũng vươn lên cho dù một chân què quặt dưới ánh sáng mặt trời. Nhìn chung qua tập thơ Cả những ngày đã quên tác giả Trần Thị Thuỳ Vy đã cho ta nhận ra nhưng điều tưởng chừng như rất đơn giản như ăn ngủ thường nhật nhưng không hề đơn giản chút nào, mỗi cử chỉ động tác đều có ý nghĩa riêng của nó, qua thời gian và không gian nhưng động tác đó lại càng nhiệm mầu đầy sắc màu trong cuộc sống bằng thơ. Thơ của Thuỳ Vy rất thực trong đời sống, thế nên rất sinh động càng đọc càng say mê.

Bao nhiêu lo toan của người đàn bà, trước cảnh cơm, áo gạo tiền mà vẫn Thơ. Có thể nói, thơ với Trần Thị Thuỳ Vy là linh dược (mesdicament miracle). Chính tác giả đã nói: Tôi đọc thơ xuôi dọc bờ kênh/nức lòng cây trái/vũ trụ nuôi em/trái tim rực hồng/Những bài thơ nơi đại dương xa xôi/hừng hực yêu thương/cháy tràn chữ/những ký tự nhảy nhót/…Thơ là linh duợc/linh dược là thơ/ (Cả những ngày đã quên, trang 22). Rất đặc biệt, thơ của Thuỳ Vy thoát qua vần điệu, ngôn từ hào phóng không gò bó, mà nhẹ nhàng êm đềm tạo cho người đọc say mê lạ lùng.

Dòng thời gian đi qua không trở lại, mọi thứ dần khuất trong kiếp người. Nhưng tình thơ của Thuỳ Vy không mất, nó vẫn hiện hữu nơi góc quê hương, trên vai áo bạt màu của người mẹ còng lưng theo năm tháng. Và nó vẫn hiện hữu cùng với tiếng dê gọi đàn khi chiều về trên thôn bản nào đó! Với sức trẻ, thơ Thuỳ Vy sẽ còn bay xa và cao hơn ở khắp mọi nơi. Mong rằng, với mạch thơ đầy sức sống của tác giả Trần Thị Thuỳ Vy sẽ tiếp tục cho ra đời những tác phẩm đáng yêu, đáng trân trọng.

Cần Thơ, ngày 5/12/025

N.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm