TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Khảo nghiệm thẩm mỹ”: Chất trữ tình, nét chấm phá nữ quyền, tính tinh tế bẩm sinh qua ba bài “tình thi” của nữ sĩ Trần Mai Hường

“Khảo nghiệm thẩm mỹ”: Chất trữ tình, nét chấm phá nữ quyền, tính tinh tế bẩm sinh qua ba bài “tình thi” của nữ sĩ Trần Mai Hường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-11-27 21:30:21
mail facebook google pos stwis
883 lượt xem

TUẤN TRẦN

Trần Mai Hường dùng ngày rộng tháng dài chỉ để yêu và được yêu. Tiếng thơ đó nâng đỡ cho đời và người nên đẹp và nhã, say đắm và lặng lẽ… dạt dào và đong đầy mật hoa. Thơ chị ở lại thời thiếu nữ đầy mộng mơ mà tràn dư những trận mưa tình ngọt ngào, êm say, có lúc cuồng quyến, dâng động.

Điều đặc biệt ở đây là cách tinh tế thắt bện “sợi tình tơ nghĩa” để luôn đứng giữa lằn ranh hiện đại và hậu hiện đại. Không nghiêng về phía nào. Không khí đương đại và tinh thần nữ tính trữ tình luôn đằm thắm, mượt mà, nhuốm đọng mà vuốt dịu cho những dòng thơ trở nên thơ mà cũng rất con người/ thật đàn bà… Tôi nhìn và nhận thơ chị, thật hay ở mảng viết cho anh, cho em và cho tình đời, tình người.


Nhà thơ Trần Mai Hường

Dùng anh để nghiệm đời, để chiêm ngắm thế thái nhân tình. Trần Mai Hường luôn ý thức sâu sắc về vai trò “thiếu phụ”. Luôn có cái cân nhắc, khiêm nhường và cái bản chất “hậu phương” của người nữ theo kịch nghệ Á Đông. Dẫu đang thời điểm em như “ngọc biếc”, “bừng men” và hiểu thấu lòng đời cũng như đã phơi trải tấm thân này, trái tim này: “Này anh này anh, này anh” cho bao cuộc lật trở tìm yêu ở đời.

Nghiệm riêng để thấu lòng chung, để hiểu về được mất/ thắng thua. Và em khi với anh sẽ “tự thua” bởi suy cho cùng thượng đế tạo ra em bằng sườn anh. Em là “đồ chơi” của anh nhưng cũng là một phần sự sống thiêng liêng trong anh… Suốt đời em đi tìm “nghiệm riêng” nhưng đồng quy vào anh mới ra lẽ chung- riêng.

Khi nói về anh, em và để nghiệm sinh và nghiệm mình giọng thơ Trần Mai Hường rất tế vi và “ngọa ngôn”. Mọi sự khiêm nhường đều có chủ đích, mọi lời nhẹ nhàng đều ẩn tàng sự “táo tợn”. Bọc trong cái nữ tính là “quyền lực” thần bí nơi trái tim em. Trái tim có thể “bắt anh” phải ngả nghiêng nhưng em không diễn đạt và phô bày hết cái tiềm tàng vạn năng trong tình em mà đằm dịu, mà ngọt nhạt mà nên hương vị của tình yêu và sự hi sinh, cùng lòng bao dung, độ tha lớn lao cho anh. Em là người phụ nữ của hôm nay đẹp như ru lòng anh vào cõi mộng.

 

Suốt đời tìm một nghiệm riêng

Em mang đánh cược những thiêng liêng mình

 

Này anh này anh này anh

Hãy lên ngọc biếc cho xanh âm thầm

 

Cho thôi chốt cửa, lặng câm

Tự thua em sẽ tự cầm cố em

 

Cho thôi hoá thạch. Bừng men

Cho mây quỳ gối bên thềm chung chiêng

 

Bao giờ tìm được nghiệm riêng

Em thôi xúc xắc với duyên phận mình...

                        (Nghiệm riêng)

"Chỉ cần anh thấu đủ/ em đã thừa bão giống" là cái mà chủ thể trữ tình đã "nghiệm": Sau một đời yêu về trên mái tóc, bờ môi, hương thơm bàn tay... em lục lại bao "mịn thơm" quá khứ "Tận sâu lặng thinh anh""sâu tận hững hờ em".

"Lặng thinh", "hững hờ" thuộc về miền "đất thiêng" của tình yêu. Nơi đó không còn những hờn hận, mãnh liệt của buổi ban đầu mà đi vào trầm mặc nhìn lại một thời tình đã từng lên ngôi. Nay đã qua mùa giông bão tình lắng lại nơi tận bể sâu mà không cần thể hiện ra nữa. Ta đã trở về với "quan ái" im vắng bọc vây trong một lý trí biết buông neo và tha thứ. Cảm tưởng về giai điệu "Tình ta như dòng sông/ đã qua mùa giông bão"... Thơ Trần Mai Hường khi viết về anh và em luôn có kết nối, kế thừa với nữ sĩ Xuân Quỳnh nhưng với giọng điệu giăng tỏa, cô nén, chất chứa và run ngân hơn.

Trần Mai Hường đã đưa không khí đương đại tràn ngập trong thơ. Cõi yêu của trời nay khác với thời xưa luôn dùng tấm liệm chứa chan phủ lên bao nhẹ nhàng lưu luyến. Luôn thấy "cá tính tình yêu mạnh mẽ", cái "nghiệm riêng", cái khác biệt, cái "di hài của trái tim" yêu mạnh mẽ và bền bỉ trong tấm lòng tha thiết, trong đẹp vô ngần. Ở đây ta thấy được cái "chừng mực", "vừa đủ" trong dung nhận quá khứ và tiếp nhận hiện tại của một giọng thơ luôn lý trí và không lẫn vào đâu được.

 

Tận sâu lặng thinh anh

những phiêu bồng ủ lửa

Sâu tận hững hờ em

mùa thương vừa ngậm sữa

 

Bao mịn thơm quá khứ

dệt muôn sắc cầu vồng

Chỉ cần anh thấu đủ

em đã thừa bão giông...

                (Với anh)

Chính vì cái "chừng mực" những khoảng "lưng chừng", cách đo lường ước lệ với tình anh, tình em, tình đất và người đó mà tiếng thơ chị chẳng bao giờ hết "thắc mắc", "mơ tưởng" luôn tự tạo ra không gian "tâm tưởng" đầy những hỏi han, "chừa" ra một lối, những khoảng trống quay cuồng chẳng cần phân định lối ra để em luôn được "trách móc", như cái cớ để "dan díu".

 

Xếp hàng trong điện thoại em

Là bao mê đắm ngọt mềm - ngày xưa...

 

Mình thiêu thân đã đủ vừa

Bao nguy nga cũ

Xin chừa lối thương

 

Dòng tin một thuở lừng hương

Lại toan tà nghịch

Lại dường như im

 

Lại - em - sấp - ngửa - nổi - chìm

Bơi trong sóng chữ biết tìm đâu phao...

 

Đừng anh

Đừng vỗ về nhau

Hạ huyền

Em đợi chân cầu

Được không?

                      (Xin chừa lối thương)

Rõ ràng không phải xếp hàng trong thư tình hay thơ tình mà là "điện thoại"_bối cảnh của hiện đại. Ta thấy hiện ra: ảnh, hình, tình, có ngôn ngữ của những tin nhắn yêu đương thấm đượm. Thậm chí cả những "video clip" ái và yêu nâng niu và vỗ về. Một câu thơ ngắn thi nhân đã phơi kịch bao thi vị của tình yêu. Gắn thiết với cuộc sống số hóa hôm nay, cách yêu của anh và em cũng được lưu đặt mã hóa trong biểu tượng của "vũ trụ": “điện thoại".

"Mình thiêu thân đã đủ vừa" là lời nhắc anh về "ái tình là rượu ngọt nhưng uống quá nhiều sẽ say độc"? Ý thơ mang tính "nhắn nhủ" mà lại "gợi cảm" và "khêu khích". Thật hay cho cách xếp đặt câu chữ, "ngụy ngôn" vô cùng cho cái khát khao "nửa chính, nửa tà". Em quá "đa sự" đưa anh vào "cùng cốc" của tình yêu cuồng ảo... lạc vào ánh mắt đó, cơn say theo suốt đời.

Sau tất cả em vẫn muốn "hư" chờ anh nơi "chân cầu" lúc "hạ huyền": "Hạ huyền" là "mật ngôn tình yêu". Là từ em chưng cất trong "cõi riêng" nơi mình để nói cho anh và chỉ mình anh hiểu mà thôi...Trong cõi "Hạ huyền" đó em lần theo hương tình cũ mà tìm thấy anh sau bao ngày "bơi trong sóng chữ"…

Phải nói rằng thơ Trần Mai Hường là "mật thư của tình yêu". Như giọt ngọc rơi trên phiến lá, pha hương những giọt mật đầy, như nơi giọt mắt rơi em khóc và cười rồi tâm sự bao lời được mất. Tình anh và em đã từng hóa đầm lầy mặn chát bởi bao giọt lệ cay đắng nhưng em không chịu để thành dòng sông chết. Luôn ý thức khuấy đảo, bao dung, thấu hiểu, nâng niu, quý dữ cho trong lại vô ngần. Lối lựa lọc và xếp đặt câu chữ gần như chính xác tuyệt đối, trải nghiệm thơ chị thực sự tôi say mê đến muốn lên cơn sốt giảng đọc cho khôn cùng thiên hạ những tấm lòng yêu khát khao giảo hảo.​

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm