TIN TỨC

Một người trong cuộc chơi thơ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-02-19 11:17:29
mail facebook google pos stwis
4106 lượt xem

 

(Đọc sách “Bày cuộc thơ” của Đinh Thanh Huyền)

PGS.TS Nguyễn Thị Bình

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Tôi có cơ duyên quen biết Đinh Thanh Huyền từ mười mấy năm trước. Là giáo viên dạy văn “cứng cựa” ở một trường THPT chuyên, hẳn nhiên chị có năng lực thẩm thơ tốt. Chị cũng từng làm thơ, tôi đã đọc được tập thơ của chị do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành có cái tên rất ấn tượng “Nước mắt tôi là cát”. Một lối thơ câu chữ tiết chế, ít bận tâm vần luật, liều liên tưởng phóng túng khiến hình ảnh xuất hiện như từ cõi mộng du, nhưng có khả năng ám ảnh tâm trí người ta. Tôi tin, nếu tiếp tục làm thơ, chị sẽ nằm trong số những người mang khát vọng vượt thoát khỏi từ trường thơ truyền thống.

Nhưng tôi thật sự bất ngờ, khi biết chị đã viết những bài phê bình thơ xuất sắc đến mức khiến kinh nghiệm quen thuộc về thơ mà tôi có được tan loãng hẳn trong một phức cảm vừa hoang mang, vừa hân hoan. Tôi nhớ đến nỗi buồn nhà thơ Inrasara từng bày tỏ, rằng khủng hoảng thơ Việt mấy thập kỉ qua chủ yếu không nằm ở phía người sáng tác mà ở phía người đọc. Nghệ thuật, trong đó có thơ, luôn đòi hỏi sáng tạo. Đã sáng tạo là phải đương đầu với áp lực ghê gớm của thói quen, của thẩm mĩ truyền thống. Nếu thị hiếu của công chúng khăng khăng không đổi thì mọi cách tân của nhà thơ xem ra vô vọng hết. May thay, lịch sử nghệ thuật nhân loại cho thấy luôn có một bộ phận công chúng, dù lúc đầu rất ít ỏi, bắt được “tần số” mới từ những tác phẩm mang tinh thần tiên phong, làm động lực cho nỗ lực bứt phá khỏi các khuôn thước của hệ giá trị cũ, thúc đẩy mở rộng kinh nghiệm thẩm mĩ của thời đại.

Hơn nửa thế kỉ trước, “siêu độc giả” Hoài Thanh thành công vang dội với công trình phê bình Thơ mới: Thi nhân Việt Nam. Nguyên tắc thẩm thơ của ông đã thành lí luận kinh điển: lấy hồn ta để hiểu hồn người. Tôi nghĩ, đấy là khi người đọc và người làm thơ có cùng tâm thế cảm xúc, cùng “kênh” thẩm mĩ. Còn khi giữa hai bên có sự vênh lệch lớn về gout thẩm mĩ, khi điều nhà thơ muốn thể hiện qua ngôn từ với điều bạn đọc muốn thấy và có thể thấy rất ít song trùng, thậm chí chúng dường như thuộc về hai hệ hình thẩm mĩ, khi ấy thơ đem lại cả nỗi bất bình lẫn niềm nghi ngại. Thực tiễn thơ Việt đương đại với các trường hợp nhóm thơ Dòng chữ, thơ Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Phương Lan, Nguyệt Phạm, Bùi Chát, Lý Đợi, Nguyễn Thế Hoàng Linh… đã gây ra vô số cuộc tranh cãi om sòm ông nói gà bà nói vịt, không ít tiếng thở dài cao ngạo: cái hay thì không mới, cái mới thì không hay…

Chính lúc này công chúng thơ cần đến những tiếng nói phê bình có khả năng dẫn dắt, khai mở. Với tôi, những bài phê bình của Đinh Thanh Huyền trong tập sách này thực sự đã gây ra một cú shock nhận thức, làm thay đổi mạnh mẽ quan niệm về thơ, về vai trò cấp nghĩa cho thơ của người đọc. Khi tôi chia sẻ trên Facebook bài viết Game thủ (Đinh Thanh Huyền phê bình chùm thơ Thử làm bài thơ mất gà của Lê Vĩnh Tài), Phó giáo sư – Tiến sĩ Ngô Văn Giá đọc và nhắn tin ngay: “Cho em hỏi một chút về Đinh Thanh Huyền. Bài viết khá quá. Đọc bài này thấy mình bị lạc hậu rồi. Những ý tưởng của bạn ấy, mình lờ mờ thấy nhưng không gọi ra được, do mình không có công cụ. Ở đây cần cả ba: trực giác khoa học, làm chủ lí thuyết và khả năng biểu đạt sáng tỏ. Bạn ấy có cả ba, chị ạ”. Một Tiến sĩ Ngữ văn, bạn đồng niên với tôi, đang giảng dạy tại một trường đại học phía Nam gọi điện bày tỏ sự thán phục pha chút ngậm ngùi tự giễu: “Đọc bài phê bình thơ Lê Vĩnh Tài này, mình thấy mình đã bị loại ra khỏi cuộc chơi rồi cậu ạ”. Thêm mấy đồng nghiệp có uy tín nữa đánh giá cao bài Game thủ, tôi yên tâm liên hệ với Huyền, được chị gửi cho đọc hơn chục bài khác. Mới nhìn các tiêu đề thấy có vẻ chị viết phê bình theo lối tài tử, ngẫu hứng: tình cờ đọc, gặp được điều đắc ý thì viết chơi vậy thôi. Tất cả đều viết về thơ đương đại, tập trung vào ba tác giả: Mai Văn Phấn, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thị Hải. Trừ Nguyễn Thị Hải là cái tên còn ít người biết, Mai Văn Phấn và Lê Vĩnh Tài đã được nói đến khá nhiều trên các sách báo, trong các cuộc hội thảo…

Nhưng tôi chưa thấy ai đọc họ theo cách của Huyền. Đọc kĩ hóa ra chị không hề ngẫu hứng. Huyền bao quát khá tốt đời sống văn chương Việt, nắm bắt rất tinh những chuyển động bề sâu của thơ Việt hiện đại, nhạy bén với những thành tựu của lí luận văn học để chọn ra được những phạm trù, những khái niệm công cụ thích hợp cho việc tiếp nhận những dạng thức thơ còn lạ lẫm với số đông độc giả. Điều quan trọng, theo tôi, chị đã có sẵn một niềm tin, một chủ kiến riêng về thơ, về mối quan hệ giữa sáng tạo và thưởng thức thơ. Và chị tìm thấy ở thơ Mai Văn Phấn, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thị Hải những chứng cớ đích đáng cho niềm tin, cho chủ kiến của mình. Đọc chị, chúng ta sẽ nhận ra một kiểu người đọc rất thú vị: không chỉ “lấy hồn ta để hiểu hồn người” mà còn phổ hồn ta vào câu chữ của người. Chẳng hạn, cách chị diễn giải về Kinh mạch tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn: “Quan niệm về tôn giáo như là một giải pháp cho những cơn bấn loạn tâm thần, là ma túy gây lệ thuộc một cách ngọt ngào cho con người trong cuộc đời khổ đau bất tận đã khiến cho yếu tố tôn giáo trong thơ trở thành vật ngoại lai. Và tôn giáo trở thành nơi ẩn nấp tinh thần cho nhà thơ trong sự cưỡng bức của đời sống. Trường hợp Mai Văn Phấn hoàn toàn khác, tôn giáo là đức tin chứ không phải liều thuốc tâm thần (…) Mỗi tôn giáo là một con đường cho nhân loại tụ về một điểm: lòng từ bi cao cả, một thế giới toàn hảo trong tình yêu thương vô điều kiện. Mỗi thi tài là miếng bọt biển thấm hút năng lượng vô hạn của lòng từ bi đó. Tâm không phân biệt chính là phúc phận trời cho họ, để họ tắm trong ánh sáng của mọi tôn giáo bằng đức tin hồn nhiên nhất: Còn bóng ai in trên quả chuông, loa kèn, tang trống. Nơi ấy Phật Thích Ca và Chúa Giê-su cộng hưởng, làm sự lặng im cũng nhấp nhô chuyện trò trong khoảng trống ban mai”. (Trường ca Người cùng thời).


Bìa cuốn sách “Bày cuộc thơ” của Đinh Thanh Huyền.

Thật tình, tôi thấy cảm thức tôn giáo ở Đinh Thanh Huyền có khi còn đậm nét hơn cả trong thơ Mai Văn Phấn nữa, đậm đến mức có lẽ khiên nhà thơ khi đọc lời bình cũng phải giật mình: “Năm phần của tập thơ gợi nên một hành trình từ ngoài vào trong, từ thanh sơ đến sâu sắc, từ giản đơn đến đa bội. Nhưng Hương cúc chi và Tiếng sấm thì nhẹ nhõm, cái nhẹ của làn hương và âm thanh khác nhau về hình tướng mà tương đồng về bản thể. Không rõ Mai Văn Phấn có ý thức về điều này không, hay chất thiền trong ông đã xui khiến nên ý hướng đó.” (Vài ý nghĩ sớm về thơ hai câu Mai Văn Phấn). Đó chẳng phải người phê bình đang sáng tạo lại văn bản của nhà thơ đấy sao! Rất tự giác khi xác lập cho mình quan niệm về thơ, Đinh Thanh Huyền một mặt xem thơ như cuộc chơi, “từ chối phục vụ một món thơ “hay” theo menu của đại chúng”, chơi là nhằm hóa giải mọi nỗi sợ hãi trong di sản tinh thần con người. Chị đã phân tích tuyệt hay tính trò chơi trong chùm Thử làm bài thơ mất gà của Lê Vĩnh Tài (Game thủ). Ở đây, các tri nhận về văn hóa học, về tiếp nhận, về trò chơi… thẩm thấu tự nhiên, nhuần nhuyễn như đã có sẵn trong cơ chế tư duy của người đọc thơ, không chút gượng ép sống sượng như thường thấy ở kẻ vay mượn lí thuyết cốt cho thời thượng. Mặt khác, chị tin tưởng sâu sắc vào “quyền năng thực sự của thơ: mở cánh cửa vào thực tại” theo cách thức đặc thù.

Nhà thơ không chỉ làm mình nổi lên là tiếng nói duy nhất có giá trị mà còn xác quyết luôn tính thuần khiết, trong vắt của thực tại mà anh ta biểu đạt. Bởi nhà thơ đứng ngay trong thực tại nên anh ta hiểu cái thực tại đó không phải bằng chứng ngộ mà là đắc ngộ. Chứng ngộ là dần dần đến được chân lí. Đắc ngộ là bất thần ở trong chân lí (…) Tôi muốn nói đến trạng thái sống của thơ. Nó nhảy vào thực tại, không qua quá trình, không cần chuẩn bị. Đọc bài thơ ta bị ném thẳng vào thực tại, mọi rườm rà bị lột bỏ, ta thấy mình ở trong một cái biết chưa từng có. Lúc này ta không cần đến niềm tin, không cần được thuyết phục, ta chính là niềm tin rồi”. Hiểu như thế thì cách thơ mở cánh cửa vào thực tại là tính thơ: “Cái mà thơ diễn tả không dừng ở cảm xúc. Nó là nhận thức về chân lí tối thượng của hiện hữu”, “tính thơ là tính trong vắt sâu thẳm của thực tại đi qua thơ”. Cũng bởi thế, “tính thơ là tính toàn vẹn” (Thơ – như tôi nghĩ). Một quan niệm về thơ đương nhiên kéo theo quan niệm về tiếp nhận thơ: “Thơ là thực tại được trải nghiệm, trước hết bởi nhà thơ, sau đó là người đọc”. “nó không cần trung gian để biểu đạt chân lí. Tiếp đến, sự tiếp nhận của người đọc cũng là trực tiếp”. “Do tính trải nghiệm nên thực tại của người đọc này không thể là của người đọc kia (…) Đọc thơ là biến mình thành kẻ thực hành tính thơ”.

Đinh Thanh Huyền khái quát hai kiểu đọc thơ: “Kiểu thứ nhất, độc giả cố hiểu bài thơ như tác giả viết. Việc hiểu đúng ý nhà thơ khiến người đọc thấy mình ngang hàng với tác giả. Trong trường hợp này, độc giả là người đồng hành với thi ca. Kiểu thứ hai, người đọc tìm ra thực tại riêng của mình trong thơ. Từ đồng cảm, đồng hành, người đọc tách mình khỏi hiện thực của tác giả, bắt đầu nhìn thấu suốt chính mình. Đây là chỗ mà người đọc và nhà thơ rời xa nhau”. “Khoảnh khắc mà người đọc rời khỏi bài thơ để bước vào thế giới bản ngã của họ, là khoảnh khắc kì diệu. Khoảnh khắc người đọc rời khỏi bản ngã để đến được cái toàn thể, là “đạt đạo” (Thơ – như tôi nghĩ). Bản thân tôi, qua những trang phê bình thơ của Đinh Thanh Huyền, không chút nghi ngờ rằng chị nhất định thuộc về kiểu độc giả thứ hai, mang khát vọng “rót tất cả thực tại toàn vẹn trong trẻo nguyên thủy vào ngôn từ” của thơ, để kích hoạt ở người đọc sự tự trải nghiệm, rằng chị đã thật sự “đạt đạo” khi buông mình vào những cuộc trải nghiệm thơ.

Chị đã là một người đọc hạnh phúc khi gặp được những bài thơ có thể cho chị cơ hội nhìn thấu mình, để rời khỏi bài thơ bằng cảm giác tĩnh lặng của tự do. Những diễn giải của chị giúp tôi tìm lại được tình yêu với thơ giữa bao nhiêu bất ổn đời thường, giữa hỗn loạn những giá trị thật và giả, giữa ngổn ngang những kiếm tìm, thể nghiệm trong nghệ thuật… Đinh Thanh Huyền viết phê bình bằng thứ văn phong vừa dồi dào cảm xúc vừa mạch lạc, một lối văn giàu hàm lượng trí tuệ và mê hoặc như… tôn giáo. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này với mong muốn lan tỏa niềm hạnh phúc mà thơ có thể mang đến cho bạn đọc sau khi chúng ta quan sát một cách đọc thơ, một ứng xử thơ có lẽ là khác biệt đáng kể so với kinh nghiệm của số đông.

Hà Nội, mùa đông 2021
N.T.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm