TIN TỨC

Lê Nam Phong, vị tướng trận giàu lòng nhân ái

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-27 17:04:28
mail facebook google pos stwis
5620 lượt xem

Vậy là trái tim của Trung tướng Lê Nam Phong ngừng đập ở tuổi 95 vào lúc 11 giờ trưa hôm qua, 26-3-2022, tại nhà riêng trong khu làng đại học Thủ Đức. Tôi biết tin quá trễ, lòng không khỏi bàng hoàng, tiếc thương một vị tướng trận mạc, tài danh và đức độ. Xin gửi nén tâm nhang thành kính tiễn biệt Ông (NMN).

NGUYỄN MINH NGỌC

Có lẽ nhờ bởi công việc của một người cầm bút mặc áo lính mà tôi có chút may mắn được tiếp xúc và hầu chuyện với khá nhiều các tướng lĩnh danh tiếng của Quân đội nhân dân Việt Nam, trong số đó có Trung tướng Lê Nam Phong. Tôi được diện kiến ông lần đầu tại Nha Trang, trong dịp kỷ niệm 35 năm ngày truyền thống Trường sĩ quan Không quân (8-1993). Nhưng phải tới đầu năm 2005, khi chuyển về nhận công tác ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi mới có điều kiện được gặp ông với tần suất dày hơn. Hầu hết cánh viết văn, làm báo của quân đội, đều gọi “bố”, xưng “con” với cụ Phong, và được vị tướng cao niên vui vẻ chấp nhận.

Hồi ấy, Chi nhánh Nhà xuất bản QĐND đóng tại số 1 Kỳ Đồng, quận 3, ở cái góc mũi tàu cao ráo. Một bữa, tôi đương cắm cúi xử lý bản thảo “Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm” của cố Thượng tướng Trần Văn Trà để kịp tái bản, thì nghe có tiếng gọi ngoài sân. Tôi chạy ra thì bất ngờ thấy “bố Phong” vận thường phục tuềnh toàng, nách kẹp chiếc sơ mi đựng tài liệu. Vì phòng ốc chật chội, tôi mời ông ngồi trên ghế đá dưới bóng cây. Biết tôi vừa hoàn thành cuốn hồi ký “Đường lên phía trước” giúp Thiếu tướng Trần Chí Cường, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, anh ruột GS Trần Thanh Đạm, cụ Phong trao cho tôi tập bản thảo chừng trăm trang A4. Đọc lướt qua, thất vọng vì thấy nó sơ lược và khô khan quá, viết theo lối liệt kê tuần tự của mấy tay làm báo, tôi bèn thưa, bố cứ để đây con sẽ nhuận sắc lại cho. Ai đời bố là tướng trận mạc, chiến tích đầy mình, người có mặt trong cả ba sự kiện lịch sử lừng lẫy (7-5-1954; 30-4-1975; 7-1-1979) mà viết được ngần này thì uổng phí quá. Ông cười khà khà, gật đầu.

Nhưng về sau, tôi nghiệm ra rằng phàm những việc như dựng vợ, gả chồng, tậu nhà, làm sách… đều phải gặp duyên thì mới nên chuyện. Bao lần hò hẹn với bố Phong hỏi thêm để viết lại, nhưng không hiểu sao cứ ì ạch không thực hiện được. Bởi ông sống hồn nhiên, rất tin người, lại muốn có cuốn sách, thêm vào đó sự “đốc thúc và hứa hẹn” đủ điều của các thợ làm “nhựt trình”, thế là xuôi. Cụ rút bản thảo đưa họ lo chạy giấy phép và in thành sách. Chao ơi, cầm cuốn hồi ký “Cuộc đời và…” của cụ lên tay, tôi điếng hồn vì cách làm lấy được của mấy vị “thể hiện”. Ý chừng muốn khoe cái sự đọc, họ trích 8 câu trong “Chinh phụ ngâm thì hỡi ôi, sai toe toét đến phân nửa. (Ví như: “Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa/ Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên/ Nhủ rồi tay lại trao liền/ Bước đi một bước lại vin áo chàng”). Hoặc viết “thành nhà Hồ ở Thọ Xuân, Thanh Hóa”; rồi câu nổi tiếng của nhà văn Xô viết Ra xun Gamzatov “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục…” được cho là “của một triết gia” thì thật không còn gì để nói! Người viết đã liều cùng mình, kẻ biên tập cũng lại ấm ớ nốt, nên mới ra nông nổi ấy. Nếu cụ Đặng Trần Côn và nữ sĩ Đoàn Thị Điểm sống dậy, chắc hẳn họ sẽ cầm hèo vụt đám người này. Tôi giận mình quá đỗi, vì không thể giúp ông, nhưng biết làm sao được một khi “ván đã đóng thuyền”! Đến tận bây giờ, đó là điều tôi áy náy nhất đối với một vị tướng mà mình hằng kính trọng. Biết vậy, nhưng vốn là người đại lượng, bố Phong chẳng hề vân vi…

Tuổi Đinh Mão, ông chào đời tháng 5-1927 tại làng Phú Mỹ, tổng Phú Hậu, nay thuộc xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông là con thứ hai trong một gia đình nông dân nghèo, đông con. Vùng quê ông có hai con lạch chảy ra biển, thường gọi là Lạch Quèn và Lạch Cờn. Được cha mẹ đặt tên là Lê Hoàng Thống, chữ “thống” theo Hán tự có nghĩa là đau, khổ. Trong đêm trường nô lệ, lầm than, dân tình đều ăn đói, mặc rét. Mới hơn 10 tuổi đầu, Thống đã phải đi chăn trâu, cắt cỏ. Không được đi học, ngày ngày vừa bế em, cậu bé đứng bên ngoài cửa lớp say sưa ngắm chúng bạn ê a đánh vần. Ngó theo tay thầy giáo viết lên bảng, Thống lấy gạch non vạch xuống nền đất, bắt chước. Vậy mà chỉ vài tháng học mót, cậu đã đọc và viết được chữ quốc ngữ, rồi làm thạo cả bốn phép tính. Điều đó khiến cho dân làng hết sức ngạc nhiên về cu Thống tinh nghịch mà giỏi giang.

Giữa năm 1944, được ông Kỳ, một đảng viên người làng giác ngộ và dìu dắt làm liên lạc cho Việt Minh, vừa tuổi “bẻ gãy sừng trâu”, Thống được sung vào đội bảo vệ, nhận công tác bí mật của tổ chức. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, anh rời quê hương với chân đất, quần cộc, áo nâu, thỏa chí nguyện trai làng Quỳnh. Thống được chọn đi học lớp bồi dưỡng quân sự đầu tiên của tỉnh Nghệ An do Trung đoàn 57 mở cấp tốc ở huyện Thanh Chương, rồi được sung vào lực lượng tự vệ thành Vinh, thuộc đại đội Hồng Sơn. Tuy nhỏ con và thấp bé, nhẹ cân, nhưng anh vẫn quyết chí xin gia nhập Vệ quốc đoàn. Sau hai lần bí mật bỏ thêm đá vào trong túi quần, cuối cùng chàng thanh niên được toại nguyện. Trở thành chiến sĩ của Trung đoàn 57, Lê Hoàng Thống được biên chế vào Chi đội Đội Cung, chiến đấu trên chiến trường Liên khu 4.

Nhờ chiến đấu gan dạ và dũng cảm, tháng 2-1948, Lê Hoàng Thống được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Buổi lễ kết nạp tổ chức ngay trong chùa Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Sống trên quê hương của nhà cách mạng Lê Hồng Phong, người lính trẻ thấy cái tên Hoàng Thống của mình không còn phù hợp nữa, nên quyết định đổi. Ban đầu anh tính lấy tên Hồng Phong, nhưng bạn bè khuyên nên đổi thành Nam Phong, nghĩa là gió Nam. Và không ngờ cái tân danh Lê Nam Phong lại gắn liền với cuộc đời Nam chinh Bắc chiến của ông.

Là một cán bộ trẻ của Đại đoàn quân Tiên Phong (308), Lê Nam Phong được giao chỉ huy nhiều đại đội thuộc Tiểu đoàn 322, Trung đoàn 88, có mặt trong đội hình chiến đấu lớn trên các chiến trường, tham gia các chiến dịch ở Việt Bắc, Tây Bắc và trung du Bắc Bộ trong cuộc kháng Pháp. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi nắm đại đội 225, sau những ngày “mưa dầm cơm vắt” đào chiến hào, đánh lấn, nhìn chiến sĩ lấm láp bùn đất, đại đội trưởng Lê Nam Phong cho lính cạo trọc đầu, vừa mát, lại vừa tiện lợi khi cận chiến giáp lá cà. Thế là đại đội 225 được gọi là “đại đội đầu trọc”, và ông mang biệt danh “đại đội trưởng đầu trọc” nổi tiếng. Tiếp đó, đơn vị ông phối hợp đánh Mường Thanh, rồi tiêu diệt cứ điểm Độc Lập. Dù ở đâu, Lê Nam Phong vẫn xông pha cùng đồng đội, sát cánh cùng anh em chịu đựng gian khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, bền gan đánh giặc, góp phần giải phóng quê hương. Tấm lòng thương yêu chiến sĩ theo ông đi suốt cuộc đời binh nghiệp.

Từ sau chiến thắng Điện Biên “chấn động địa cầu”, Lê Nam Phong kiên trì học thêm văn hóa, sau đó ông được cử sang Trung Quốc học chính quy tại Học viện Quân sự Hoàng Phố, đây là ngôi trường đào tạo các tướng lĩnh và sĩ quan cao cấp danh tiếng. Trở về, sau một thời gian thử sức tại “lò luyện” Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu), tháng 4-1964, ông được Bộ Quốc phòng giao làm Đoàn trưởng Đoàn 707, phụ trách hơn 100 cán bộ quân chính của cả 3 miền, lên đường đi “xẻ dọc Trường Sơn” vào chiến trường B. Chỉ huy một đội toàn quan đi Nam thật không dễ dàng gì. Tuy nhiên, sau hơn 4 tháng hành quân, đoàn vào đến căn cứ Suối Dây, cạnh sông Tha La (chân núi Bà Đen, Tây Ninh), an toàn.

Khi tâm sự với Trung tướng Trần Văn Trà - Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Lê Nam Phong bày tỏ nguyện vọng muốn trực tiếp xuống đơn vị chiến đấu, về mặt trận nào cũng được. Thế là ngay sau chiến dịch Dầu Tiếng, ông về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 thuộc “Công trường 9” (Sư đoàn 9). Những năm tháng lăn lộn trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, tháng 8-1972, Lê Nam Phong được bổ nhiệm giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7. Đây là một trong những đơn vị chủ lực của Miền, lập nhiều chiến công oanh liệt ở Đồng Xoài, Phước Long, chốt chặn đường 13 Tàu Ô - Xóm Ruộng, Định Quán, Xuân Lộc; và cũng là đơn vị nòng cốt khi Quân đoàn 4 được thành lập vào tháng 7-1974. Sáng ngày 30-4-1975, ông ngồi xe bọc thép tính chạy vào nội đô Sài Gòn, nhưng đường bị kẹt, không ngán, ông leo lên Honda do một chiến sĩ cầm lái luồn lách chạy qua cầu Thị Nghè, xông thẳng vào dinh Độc Lập, chứng kiến sự kiện độc nhất vô nhị trong lịch sử chống xâm lăng của dân tộc.

*

Tốt nghiệp Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng), cuối năm 1977, Lê Nam Phong đảm nhiệm chức Phó tham mưu trưởng Quân đoàn 4. Tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc, ông cùng đồng đội thực hiện nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát họa diệt chủng. Còn đương mải miết thực hiện nhiệm vụ ở Phnôm Pênh, đầu tháng 2-1979, Lê Nam Phong nhận lệnh điều động ra Quân đoàn 1. Vốn trực tính, ông hỏi tướng Đặng Vũ Hiệp, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ngay tại cửa Trạm 66 (BQP), rằng ai điều tôi ra đây? Vị tướng tủm tỉm, trả lời cụt lủn: Tàu khựa! Lại hỏi, ai ký lệnh? Anh Chu Huy Mân! Nghe tên ông Hai Mạnh, lập tức Lê Nam Phong lẳng lặng chấp hành. Ông về Quân đoàn 1 trấn ải phòng tuyến phía Bắc. Đến tháng 12-1979, thì được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân đoàn thay cho tướng Nguyễn Hòa. Lê Nam Phong được cử sang Liên Xô tu nghiệp tại Học viện Voroshilov... Đến năm 1983, ông trở lại chiến trường Campuchia, làm Phó tham mưu trưởng Mặt trận 719 (cơ quan Tiền phương Bộ Quốc phòng).

 Hoàn thành nhiệm vụ giúp bạn, tròn tuổi 60, tướng Lê Nam Phong được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường sĩ quan Lục quân 2. Năm 1988, ông được thăng cấp Trung tướng. Dẫu không có học hàm, học vị gì nổi bật, song ông đã có công lớn xây dựng nền móng đào tạo cho một trung tâm đào tạo cán bộ quân đội tầm cỡ phía Nam. Không chỉ có vậy, với tấm lòng nhân ái bao dung, ông đặc biệt quan tâm đến đời sống của cán bộ, giáo viên, công nhân viên quốc phòng. Ông cùng Ban giám hiệu Nhà trường, lo quy hoạch đất cát nhà cửa, giúp hợp lý hóa gia đình cho anh chị em để họ yên tâm gắn bó lâu dài. Đến nay, có thể nói làng lính Lục quân 2 vào loại khang trang, mẫu mực và đẹp nhất toàn quân. Năm 1996, Nhà trường được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đến giữa năm 1997, khi đã ở vào tuổi “cổ lại hi”, Trung tướng Lê Nam Phong mới được cấp trên cho rời quân ngũ. Ông bàn giao chức Hiệu trưởng cho Đại tá Đào Văn Lợi, một chiến sĩ trước đây của mình.

 Kém ông những 20 tuổi, Đào Văn Lợi quê ở xã Ninh Thanh, huyện Ninh Giang, Hải Dương. Nhập ngũ tháng 4-1965, anh vào chiến trường B2, làm lính của Trung đoàn 141, rồi làm Trợ lý Quân lực Sư đoàn 7. Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong vừa là người chỉ huy, vừa là người thầy trực tiếp dìu dắt chiến sĩ Lợi. Trong quá trình ấy, ông phát hiện ra tố chất “tham mưu” của chàng lính trẻ và chú tâm bồi dưỡng. Gần cuối cuộc chiến tranh (11-1974) anh Lợi được Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong gọi lên giao nhiệm vụ “ra Bắc đi học về làm chỉ huy”. Sau khi tốt nghiệp, Đào Văn Lợi tiếp tục trở lại Quân đoàn 4, tham gia bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Số phận và cơ duyên đã gắn kết hai người với nhau. Hầu hết những đơn vị mà Đào Văn Lợi chiến đấu và công tác từ tiểu đoàn lên đến quân đoàn, hầu hết đều có bóng dáng của tướng Lê Nam Phong.

Cho đến nay, nhiều cán bộ, giảng viên của Trường sĩ quan Lục quân 2 vẫn còn nhắc lễ chuyển giao “độc đáo” có một không hai giữa Trung tướng Lê Nam Phong và Đại tá Đào Văn Lợi, nguyên Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn 4. Mặc dù chưa có lịch bàn giao, song ông vẫn chuẩn bị văn bản sẵn sàng. Khi Đại tá Đào Văn Lợi dẫn gia đình đến thăm trường, Trung tướng Lê Nam Phong liền tổ chức bàn giao rất chóng vánh. Sau khi dẫn tân Hiệu trưởng đi giới thiệu với cán bộ, giáo viên, học viên của Nhà trường, tướng Lê Nam Phong rời nhiệm sở bằng một bữa cơm liên hoan hết sức nhẹ nhàng và thanh thản. Từ một xã viên HTX, Đào Văn Lợi trở thành một cán bộ chỉ huy quân sự tài năng, năm 1998, ông được phong Thiếu tướng. Cuối năm 2000, ông được bổ nhiệm Giám đốc Học viện Lục quân (Đà Lạt). Tháng 8-2001, Đào Văn Lợi bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học Quân sự. Tiếp đó, anh được nhận học hàm Phó Giáo sư và được thăng hàm Trung tướng. Tiếc thay, năm 2011, ông mất vì bạo bệnh…

Có lẽ hiếm vị tướng nào đau đáu thương yêu cấp dưới được như Trung tướng Lê Nam Phong. Khi là Tư lệnh Quân đoàn 1, ông xuống làm việc với Trung đoàn 48, thấy Phó trung đoàn trưởng Nguyễn Khắc Nghiên giỏi giang, nhưng quân hàm đại úy mốc xì. Thương anh em thiệt thòi, không một lời hứa hẹn kiểu đãi bôi, ông trực tiếp hỏi han nắm rõ sự tình và trở về. Chừng hơn một tuần sau thì anh Nghiên được nhận Thiếu tá. (Về sau Nguyễn Khắc Nghiên là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, nay đã mất).

Lần khác, ông về Hải Hậu, Nam Định tìm thăm gia đình anh Vũ Bầu, một cán bộ trung đoàn ngon lành của Sư đoàn 7 hồi đánh Mỹ. Vốn bộc trực, giữa bom đạn mù trời, thấy lính lơ mơ chểnh mảng, bực lên, ông quạt tơi bời, kể cả Vũ Bầu.  Nhưng khi nguôi ngoai, ông lại thương anh em và giận mình nóng nảy. Nhìn cấp dưới từng một thời vào sinh ra tử, nay về quê đi chăn vịt, con cái nheo nhóc, gia cảnh túng thiếu, ông trào nước mắt. Thế là có bao nhiêu tiền trong túi, ông dốc hết; lại tháo cả chiếc đồng hồ đeo tay, kỷ vật quý giá của Đại tướng Lê Trọng Tấn, đưa tặng Vũ Bầu. Lúc bùi ngùi chia tay, anh Bầu ngỏ ý muốn có bộ quân phục sĩ quan bằng dạ, ông bối rối vì “quân tử nhất bộ”. Tình huống quả khó xử, nhưng không để anh Bầu thất vọng, vị tướng “quyết” ngay tắp lự. Lúc cả gia đình tiễn ra xe, ông tế nhị bảo vợ anh Bầu vào nhà trước, rồi cởi phăng bộ dạ trao cho cấp dưới và chui tọt vào xe, ngồi co ro. Mặc đồ xà lỏn, ông cho xe chạy một mạch về Quân đoàn. Cảnh vệ vẫn đứng nghiêm chào mà không hề hay biết Tư lệnh “sai” điều lệnh!

Thế nên, không lạ khi ông có lủ khủ “con nuôi” và con “kết nghĩa”, ai ai cũng gọi bố rất đỗi kính trọng. Trước Tết Nguyên đán Canh Tý, người viết bài này có dịp ngồi cùng bàn hầu rượu cụ, nói vậy chứ do sức khỏe giảm sút, bố Phong không hề đụng đến giọt rượu, hớp bia nào. Trong buổi tiệc ấy, có rất nhiều người, tướng lĩnh, rồi các sĩ quan cao cấp, cùng một số giám đốc các bệnh viện lớn, xúm đến nắm tay ông để nói lời tri ân, nhờ ông tạo điều kiện mà họ có hôm nay. Lắm người cứ đế lẳng lặng ôm lấy ông rồi dúi quà vào túi. Và vị tướng già 93 tuổi cười khà khà, nụ cười sảng khoái của con người giàu tình thương, có cái tâm sáng rỡ.

*

Trung tướng Lê Nam Phong và Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc trong một sự kiện (2014)

Trung tướng Lê Nam Phong có cả kho giai thoại, kể cả ngày không hết, nghe thì cười muốn bể bụng. Cuộc đời chiến trận của ông gắn với nhiều biệt danh từ thời lăn lộn chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ. Trong đó, nổi nhất là “Năm bình toong” và “Năm hỏa lực”. Số là đi đánh trận ông thường mang theo bên mình bình toong rượu đế, thi thoảng mần một tợp cho săn gân cốt. Có lần gặp nhà báo Đinh Phong bám theo bộ đội, mà chỉ độc con dao găm, ông cởi súng ngắn và bình toong trao cho nhà báo phòng thân, nhưng đi một đoạn sực nhớ trao nhầm bình rượu nên kêu “đòi” lại! Còn “Năm hỏa lực” là bởi ông luôn xông xáo, quyết đoán, khẩn trương táo bạo, yêu cầu cấp dưới tuân thủ để kịp thời hành động, không chần chừ bàn cãi. Tài nghệ cầm quân của ông nổi tiếng là vậy!

Chuyện ông “kén” vợ rất độc đáo. Sau thời gian tiếp quản Thủ đô, bấy giờ đã là một cán bộ tiểu đoàn, ông được cấp trên cho về thăm nhà. Người cha đã mất từ hơn 9 năm trước. Người mẹ và các anh chị em trong gia đình mừng ông trở về và mong mỏi chàng bộ đội sớm yên bề gia thất. Vốn tính nghịch ngợm, tếu táo, trong buổi gặp mặt với các thanh niên, thiếu nữ trong làng, sau khi kể chuyện đánh Điện Biên, đột nhiên Lê Nam Phong hỏi: “Có o mô muốn lấy tui, giơ tay?”. Nhiều cô gái cùng giơ tay cái rụp, nhưng người giơ cao nhất chính là vợ ông bây giờ, bà Võ Thị Hồng Mai. Về nhà, mẹ ông bảo, Mai là con bà o Cần, người họ Lê nhà mình. Chàng tìm đến nhà, bà Cần bảo: “Tau có 3 đứa con gái, cho mi một đứa, tùy chọn!”. Được lời như cởi tấm lòng, hết phép được hai gia đình ưng thuận, Lê Nam Phong dẫn người yêu ra Hà Nội báo cáo tổ chức. Lễ thành hôn của hai người do Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 Bùi Nam Hà làm chủ hôn. Về sau ông Bùi Nam Hà là Thiếu tướng, nguyên Phó tổng thanh tra Quân đội, Giám đốc Học viện Hậu cần… Bà Mai là người vợ tảo tần, thủy chung, lo nuôi dạy con cái để ông chuyên tâm đánh giặc, phụng sự việc quân.

Đặc biệt, sự phức tạp của Nghệ ngữ được ông vận dụng có hiệu quả thời đánh Mỹ, vẫn được lính tráng truyền tụng mãi. Số là, hồi ở miền Đông Nam Bộ, sau nhiều cuộc càn lớn, địch bắt được một số mật điện của ta, chúng dò ra khóa mật mã, thế là lộ bem. Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong bèn lệnh cho cánh thông tin chọn 2 chiến sĩ quê Nghi Lộc trực hai đầu dây, đàm thoại choang choang thoải mái truyền đi mệnh lệnh chiến đấu tới các đơn vị. Đối phương rà bắt được sóng vô tuyến của ta, song chúng nổi điên vì không biết “vi xi” (VC) sử dụng ngoại ngữ gì, mà không tài nào dịch nổi! Các chuyên gia mật mã của địch cũng bó tay chào thua vì không sao giải mã được nội dung cuộc đàm thoại ấy.

Chuyện ông trân trọng mời Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân về thăm Trường sĩ quan Lục quân 2 vào năm 1993. Hồi ấy, trường còn nghèo lắm, nhưng ông vẫn bàn với tập thể lãnh đạo, tổ chức tiếp đón người “Anh Cả quân đội” thật trọng thị, ấm áp. Biết được cán bộ, giáo viên, học viên của trường luôn khao khát được nhìn ngắm Đại tướng, mong được nghe nói chuyện trực tiếp, nên ông càng vững tâm. Có lẽ thời ấy chẳng mấy ai dám “to gan, lớn mật” như tướng Phong cả. Thói đời, người ta phù thịnh, mấy ai phù suy. Nhưng Hiệu trưởng Lê Nam Phong vẫn quyết chí tổ chức, bởi ngoài sự kính trọng dành cho Đại tướng, một người văn võ song toàn, đức độ ngời sáng, ông không có động cơ nào khác.

Trước hàng ngàn cán binh đội ngũ chỉnh tề, tướng Lê Nam Phong dõng dạc báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam suốt hai cuộc kháng chiến vừa qua. Giữa tiếng pháo tay vang dội không ngớt, ông kính mời Đại tướng duyệt đơn vị danh dự đang bồng súng chào. Sau khi nghe Đại tướng nói chuyện, tình cảm thân thiết như cha con, ông cháu, ai nấy thảy đều sung sướng, tự hào. Thì giờ ít, nên Đại tướng hỏi ông, còn gì nữa không? Ông mời Đại tướng xuống sân bắt tay hàng đầu và chụp hình lưu niệm. Rời sân vận động, vào hội trường nhỏ dành cho giáo viên và cán bộ khung, vị Hiệu trưởng vừa mở lời: “Giới thiệu với các đồng chí, người Anh Cả quân đội”, thì nghẹn lời, nước mắt ứa ra. Thấy vậy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngồi cạnh, vỗ vỗ vào lưng, cười nhẹ, động viên: “Đại đội trưởng đầu trọc, bình tĩnh chớ!” càng khiến ông xúc động. Mới đây, tôi khơi lại chuyện cũ, hỏi bố Phong ngày ấy, sau vụ đón tiếp rồi cụ có bị hề hấn chi không? Ông cười hà hà, nháy mắt...

Không riêng gì Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tướng Lê Nam Phong còn dành tình cảm kính trọng của mình đối với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Đại tướng Chu Huy Mân, cùng nhiều bậc đàn anh khác, với tất cả tấm lòng thủy chung, ân sâu nghĩa nặng. Hơn nửa thế kỷ trong quân ngũ, dẫu tính nóng như lửa, có thể quát mắng khi cấp dưới sai, nhưng ông không hề để bụng bao giờ. Ông vẫn luôn quý trọng từng chiến sĩ bình thường, từ người công vụ, đến lái xe. Và nghẹn ngào nhớ những người lính của mình hy sinh trước giờ toàn thắng, như Nguyễn Đăng Hoan cắm cờ trên đá chồng Định Quán (Đồng Nai).

Ngôi nhà của gia đình ông tọa lạc tại phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, luôn rộng mở, đón tiếp anh em bè bạn bốn phương. Nghỉ hưu rồi, nhưng ông vẫn nhiệt tình tham gia Ban liên lạc truyền thống “Chiến sĩ Điện Biên” và Hội cựu chiến binh các đơn vị cũ. Ông đi nhiều, hết họp hành, lại hội thảo, giao lưu, thăm viếng bạn bè… nên thường xuyên vắng nhà. Điều ấy khiến bà Mai phu nhân không vui, bà tìm cách ngăn cản để mong ông được nghỉ ngơi, vui thú điền viên. Nhưng vị tướng cao niên vẫn “chứng nào, tật nấy”, vẫn luôn hăm hở xông pha, tận cùng tình nghĩa. Vài năm gần đây, sức khỏe giảm sút, ông không đi lại nhiều, song trí nhớ vẫn còn rất mẫn tiệp, nụ cười luôn thường trực trên môi.

Vâng, vị tướng trận người Nghệ, Lê Nam Phong là thế đó. Có thể nói, cốt cách của ông tiêu biểu cho người Vệ quốc năm xưa, bộ đội Cụ Hồ ngày nay; đó là nhân cách của một danh tướng thời đại Hồ Chí Minh. Tên tuổi Trung tướng Lê Nam Phong được định vị trong Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm