TIN TỨC

Lời thoại trong văn học

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-06 11:06:31
mail facebook google pos stwis
4041 lượt xem

Một tác phẩm văn học có thể có nhiều hoặc ít lời thoại, độc giả sẽ thích loại nào hơn? Cái đó tùy gu thẩm mĩ của mỗi người, tùy vào bối cảnh, kết cấu tác phẩm nhưng thông thường, những lời thoại sắc sảo, độc đáo được ưa thích hơn.

 


Nhà văn Uông Triều.

Ví dụ điển hình về lời thoại dài có thể kể đến các tác phẩm của Dostoevsky. Lời thoại trong các tác phẩm của nhà văn Nga này không những dài, liên tục mà đôi khi chúng còn trở thành một câu chuyện độc lập. Trong những tác phẩm như Thằng ngốc, Anh em nhà Kazamazov…, ta dễ dàng nhìn thấy những lời thoại kéo dài vài trang thậm chí vài chục trang. Tác phẩm của Dostoevsky giàu tính kịch, các nhân vật thường được đưa lên “sân khấu” cùng một lúc và phô diễn tất cả tính cách và suy nghĩ của mình ở cùng một thời điểm vậy nên lời thoại được phát triển là đương nhiên và cũng là phong cách độc đáo của Dostoevsky.

Thời cổ điển qua đi, những tác phẩm có lời thoại lê thê không được ưa chuộng nữa. Bây giờ một tác phẩm toàn lời thoại sẽ khiến người đọc mệt mỏi, chán ngấy bởi nhiều lời thoại không độc đáo, chủ yếu mang tính đãi bôi và tác giả gần như chỉ dựa vào lời thoại để phát triển câu chuyện. Dựa hoàn toàn vào lời thoại để phát triển câu chuyện là một thao tác kĩ thuật được coi là non tay và dễ dãi. Đôi khi, tác giả không biết phải kể câu chuyện ra sao nên phải dùng lời thoại để tạo diễn biến. Đây là một cách kể chuyện cũ kĩ và hé lộ rằng người viết đang bí những phương thức truyền tải thích hợp.

Sự lạm dụng lời thoại đôi khi còn nguy hiểm ở chỗ nhân vật nói nhiều quá, mọi suy nghĩ, hành động, tư tưởng đều phát qua miệng. Nhân vật trở thành cái loa, chỉ có nói và nói, câu chuyện thiếu chiều sâu suy nghĩ, độ chín của hành động và bối cảnh tạo dựng. Một truyện ngắn hoặc một tiểu thuyết hiện đại mà nhân vật nói từ đầu đến cuối dường như đã cầm chắc thất bại.

Tôi từng nhận được một truyện ngắn với cách kể chuyện duy nhất là hai nhân vật thoại với nhau từ đầu đến cuối. Thông qua lời thoại đan xen nhau, tác giả kể lại hoàn toàn câu chuyện, sự việc này móc nối vào sự việc kia. Sự dẫn dắt câu chuyện bằng lời thoại kiểu này khiến độc giả mệt mỏi và có cảm giác người viết có rất ít lao động nghệ thuật thực sự. Khi tôi trao đổi điều này với tác giả thì anh ấy biện minh rằng có những truyện kinh điển hoàn toàn là lời thoại, ví dụ pho Ngàn lẻ một đêm của người Ả Rập. Nhưng đó là trường hợp khác, nàng Scheherazade trong Ngàn lẻ một đêm kể chuyện rất hấp dẫn, chuyện nọ móc xích chuyện kia và thực tế ấy là hình thức kể chuyện phù hợp với thời đại ấy, khi có một người kể truyện miệng đúng nghĩa và có những người xung quanh đang lắng nghe. Nếu bây giờ vẫn sử dụng nguyên dạng hình thức ấy nhưng với cách thức kém hơn thì độc giả hiện đại khó có thể chấp nhận.

Lại nữa, vẫn còn nhiều tác phẩm có những đoạn xã giao chứa rất ít thông tin hoặc thông tin không có tính gợi mở hoặc hấp dẫn nghệ thuật. Thử xem một đoạn hội thoại viết kiểu thế này:

“Hội đi vào sân và nhìn thấy An, Hội hỏi:

– Chị ăn cơm chưa?

– Tôi ăn rồi, còn chú?

Hội đáp:

– Em cũng ăn rồi.

An lại bảo:- Bên ấy ăn cơm sớm nhỉ?

– Vâng, hôm nay nhà em có việc. Anh Dũng có nhà không chị?

– Có, nhà tôi đang ở trong nhà đấy.

– Vâng, vậy em vào gặp anh Dũng bàn tí chuyện.”

Nếu một truyện ngắn hoặc một tiểu thuyết cứ một quãng lại có một đoạn hội thoại nhạt nhẽo và xã giao như thế thì có lẽ độc giả khó lòng đọc đến những trang cuối cùng.

Trong nhiều tác phẩm văn học đương đại và với những người viết ý thức về việc tiết chế lời nói, sự xuất hiện các đoạn thoại ít dần và thậm chí có những tác phẩm không có lời thoại trực tiếp nào, chỉ còn câu kể hoặc câu tường thuật. Tôi có thể lấy những ví dụ điển hình về kiểu này trong hai cuốn tiểu thuyết Diệt vong và Đốn hạ của Thomas Bernhard, một nhà văn nổi tiếng người Áo viết bằng tiếng Đức và trong các tác phẩm Vu khống, Sóng ngầm của học trò của ông, nhà văn Pháp gốc Việt Linda Lê. Trong các tiểu thuyết này, các dòng chữ cứ nối tiếp nhau không ngừng nghỉ, hiếm ngắt đoạn hay xuống dòng, vẫn có lời thoại nhưng là những lời nói được dính kết và triền miên như một dòng sông đang chảy không ngừng; người đọc hầu như không được nghỉ một phút nào, nhất là với hai cuốn sách của Thomas Bernhard.

Vậy khi nào cần phải có lời thoại? Câu hỏi này phụ thuộc vào mỗi tác giả và quan điểm viết của họ. Cũng không đến mức cực đoan là không dùng bất cứ câu thoại nào, trừ những chủ ý nhất định và ngược lại, nếu thoại dài quá thì cũng nên cân nhắc.

Và thế nào là lời thoại hấp dẫn và cần thiết? Đó là những lời thoại có những thông tin hấp dẫn, tạo ra các mâu thuẫn, gợi suy nghĩ liên tưởng hoặc thúc đẩy các kịch tính; ở góc độ nào đó, chúng gần gũi với kịch nói. Dưới đây là một đoạn hội thoại nổi tiếng giữa Bá Kiến và Chí Phèo trong Chí Phèo của Nam Cao:

“- Chí Phèo đấy hở? Lè bè vừa thôi chứ, tôi không phải là cái kho.

Rồi ném bẹt năm hào xuống đất, cụ bảo hắn:

– Cầm lấy mà cút đi cho rảnh. Rồi làm mà ăn chứ cứ báo người ta mãi à?

Hắn trợn mắt chỉ tay vào mặt cụ:

– Tao không đến đây xin năm hào.

Thấy hắn toan làm dữ cụ đành dịu giọng:

– Thôi, cầm lấy vậy, tôi không còn hơn.

Hắn vênh cái mặt lên, rất kiêu ngạo:

– Tao đã bảo là tao không đòi tiền.

– Giỏi! Hôm nay mới thấy anh không đòi tiền. Thế anh cần gì?

Hắn dõng dạc:

– Tao muốn làm người lương thiện!

Bá Kiến cười ha hả:

– Ồ tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ.

Hắn lắc đầu:

– Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không? Chỉ có một cách… biết không! Chỉ có một cách là… cái này biết không?”

Còn đây là một đoạn trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố:

“Chị Dậu xám mặt, vội vàng đặt con bé xuống đất, chạy đến đỡ lấy tay hắn:

– Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!

– Tha này! Tha này!

Vừa nói hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn đến để trói anh Dậu.

Hình như tức quá không thể chịu được, chị Dậu liều mạng cự lại:

– Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ.

Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu.

Chị Dậu nghiến hai hàm răng:

– Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!”

Một đoạn nữa trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp:

“Sinh lúi húi dưới bếp. Trong buồng Sinh, Khảm đang giới thiệu với ba người bạn tập anbum có chụp những ảnh của Khảm, có cả ảnh hồi bé tập lẫy. Cô My Lan bảo: “Anh Khảm hồi bé bụ ghê.” Khảm bảo: “Con anh sau này cũng bụ thế, nhưng xinh hơn, có cái nốt ruồi ở cằm.” My Lan đỏ mặt, sờ vào cái nốt ruồi cằm mình, đấm thùm thụp vào lưng Khảm. Việt Hùng hỏi: “Ảnh này chụp hồi đi thực tập phải không?” Khảm bảo: “Ừ!” Việt Hùng khen: “Nét lắm.” My Lan hỏi: “Có phải hồi ấy anh ăn trộm khoai, bị dân quân bắt không.” Khảm đỏ mặt bảo: “Toàn nói lăng nhăng, mắc tội nói xấu đồng đội. Thế nào tớ cũng bắt đền.” My Lan hỏi: “Bắt đền gì?” Khảm bảo: “Đợi tối thì biết.” Mọi người cười.”

Cả ba đoạn trích ở trên đều có những câu thoại rất đặc sắc, thể hiện rõ cá tính nhân vật, gợi liên tưởng, thúc đẩy mâu thuẫn và góp phần tạo ra bước ngoặt của truyện. Tất nhiên không phải đoạn thoại nào cũng hấp dẫn và ngay trong cùng một tác phẩm cũng vậy; thỉnh thoảng ta còn thấy những sai lệch về lời nói, ví dụ một anh nông dân lại có cách nói năng kiểu cách như một giáo sư đang giảng bài hoặc một người miền Bắc sống ở đất Bắc lại nói theo kiểu Nam Bộ…

Ở một khía cạnh khác, đôi khi để tạo ra sự chân thực cho nhân vật, nhiều tác giả còn cố ý viết cả những câu nói sai lỗi chính tả, lỗi phát âm, tiếng địa phương, tiếng lóng của nhân vật y như lúc họ giao tiếp thực sự ngoài đời sống. Việc sử dụng những kiểu ăn nói đặc trưng này trong tác phẩm văn học giúp lưu lại những dấu vết của lịch sử phát triển ngôn ngữ, những bằng chứng cho thấy cách diễn đạt đã có sự thay đổi theo thời gian và biến đổi của xã hội. Ví dụ đọc những tiểu thuyết của Tự Lực văn đoàn sẽ thấy ngày trước người ta nói chuyện không giống như bây giờ; hoặc đọc Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng, độc giả hiện tại sẽ biết thêm được rất nhiều tiếng lóng của giới giang hồ Hải Phòng từ hồi đầu thế kỉ trước.

Tất nhiên ngôn ngữ văn học vừa giống ngôn ngữ đời sống vừa có những đặc trưng riêng vì chúng được phản chiếu qua lăng kính và ý đồ của người viết. Lời thoại trong tác phẩm văn học cũng không có một khuôn mẫu cứng nhắc nào, nó là cả một bầu trời sáng tạo và phong cách của người viết. Lời thoại ngắn hay dài, trực tiếp hay gián tiếp hoặc thậm chí không có cũng không là vấn đề quyết định, miễn là chúng tạo được hiệu quả nghệ thuật thực sự trong tổng thể tác phẩm và trong thời đại của chính nó.

 Uông Triều/VNQĐ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Quyền lực của các câu lạc bộ sách với gen Z
Sự nổi lên của mạng xã hội và các câu lạc bộ sách số cũng đang định hình lại gu đọc sách của độc giả, đặc biệt thế hệ trẻ. Các hashtag như #BookTok và #Bookstagram đang ảnh hưởng đến việc lựa chọn sách của các câu lạc bộ, ví dụ như ưu tiên các thể loại như giả tưởng, lãng mạn và kinh dị, từ đó tác động đến lựa chọn đọc và mua sách của người trẻ. Điều này phần nào khiến các tác phẩm kinh dị, lãng mạn và lãng mạn giả tưởng trở thành những xu hướng ăn khách hàng đầu hiện nay.
Xem thêm
Từ Miss World, nhìn về tiêu chí sắc đẹp
Cái đẹp có thể ngăn cản chiến tranh, cái đẹp có thể hóa giải hận thù, vì thế sứ mệnh của các nữ hoàng sắc đẹp là vô cùng cao cả, đôi khi vượt ra khỏi giới hạn một cuộc thi. Và mỗi quốc gia nếu muốn có cho mình một nữ hoàng sắc đẹp cả hình thức lẫn tri thức thì cần có những khâu tuyển chọn nghiêm ngặt, đúng chuẩn, giới hạn số lượng cuộc thi. Bên cạnh đó cũng cần tìm hiểu những tiêu chí cũng như chọn ra những thí sinh phù hợp nhất cho mỗi cuộc thi để mỗi đấu trường sắc đẹp sẽ là nơi cho mỗi thí sinh lớn lên, trưởng thành hơn, sống có trách nhiệm và hạnh phúc hơn cho mình và cho xã hội.
Xem thêm
Hai góc nhìn về văn của người trẻ
Văn chương của người trẻ là phải thấy trong đó hình ảnh của chính người trẻ. Ở đó, văn chương được xem là những trang đời gắn liền với nhịp sống của thanh niên hiện nay với nhiều tâm tư loay hoay về hành trình khẳng định bản thể, với những ngổn ngang giữa hoài bão tương lai và thực tế trần trụi hiện tại. Như vậy, dù muốn dù không, giới nghiên cứu văn học và những độc giả có phần kén đọc phải chấp nhận sự tồn tại của một dòng/nhánh văn học đại chúng với những cách định nghĩa mới về văn chương.
Xem thêm
Tản mạn về hai thi tài lục bát Nguyễn Du và Nguyễn Bính
Ai cũng biết Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc. Văn chương của ông, cụ thể là Truyện Kiều, đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà văn Việt Nam.
Xem thêm
Văn học nghệ thuật trong thời đại công nghệ số
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực để phát triển đất nước. Trong văn học nghệ thuật, đây sẽ là cơ hội để mở rộng không gian sáng tạo và tiếp cận công chúng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, giữ gìn các giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam.
Xem thêm
Khát vọng người xưa và trách nhiệm hậu thế
“Người xưa” mà nhà văn – không thẻ Trần Bảo Định bàn về khát vọng của họ là những tên tuổi nay đã ở “cõi khác” hơn bảy thập kỷ! Có thể gọi họ là nhà cách mạng, là danh nhân; bà góa phụ Trần Văn Sĩ (người bạn cùng chí hướng với Tạ Thu Thâu, đã bị tù Côn Đảo với Nguyễn An Ninh và mất ở đó) còn tôn vinh họ là “vĩ nhân” là “ngôi sao sáng” của dân tộc…
Xem thêm
Suy nghĩ về Luật Báo chí năm 2025
Từ góc nhìn của một người nhiều năm công tác trong lĩnh vực quản lý nhà nước về báo chí, từng lãnh đạo cơ quan báo chí và giảng dạy nghiệp vụ báo chí, Đại tá, nhà báo Trần Thế Tuyển chia sẻ những suy nghĩ về đạo luật mới qua bài viết Dĩ bất biến ứng vạn biến.
Xem thêm
Nghĩ về sứ mệnh của báo chí
Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và yêu cầu tiếp tục sắp xếp hệ thống báo chí theo hướng tinh gọn, hiệu quả, câu chuyện về sứ mệnh, mô hình phát triển và tương lai của báo chí Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nhìn nhận một cách toàn diện, khoa học và nhân văn.
Xem thêm
“Trang sách và mái trường” mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một sân chơi sáng tác
Bài phát biểu tại buổi lễ phát động cuộc thi viết về “ Trang sách & Mái trường”do Nhà xuất bảo Giáo dục Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh vào sáng ngày 12/6/2026
Xem thêm
Nhà văn Phố Giang với tác phẩm “Một dòng họ học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái”
Tôi sinh hoạt cùng anh ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM & Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, đã được anh tặng hai tác phẩm thơ: Hoa trái cuối mùa, 99 Khúc tình thơ và tác phẩm văn Một dòng họ Học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái. Kể từ năm 2004 đến nay, anh đã xuất bản 8 tác phẩm thơ và 4 tác phẩm văn. Thật đáng khâm phục và tự hào với bút lực phi thường và sự cần cù sáng tạo của anh.
Xem thêm
Hành trình đi, suy ngẫm và viết
Một hôm, nhà báo Tô Đình Tuân gửi cho tôi tập bản thảo khá dày. Tôi đọc và viết không chỉ vì tình cảm đồng nghiệp quen biết nhiều năm trong nghề báo, mà còn bởi tôi hiểu khá rõ con người và hành trình nghề nghiệp của tác giả. Đặc biệt, trong giai đoạn tôi được phân công làm Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, Tô Đình Tuân là một cộng sự đắc lực, luôn tận tâm, trách nhiệm và đầy nhiệt huyết với công việc.
Xem thêm
Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc: Từ người yêu nước đến “Đường kách mệnh”
Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành đến sự ra đời của Đường Kách mệnh, bài viết của PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ giúp người đọc nhìn lại một chặng đường lịch sử đặc biệt – nơi chủ nghĩa yêu nước gặp gỡ chủ nghĩa Mác – Lênin để hình thành tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh và mở lối cho dân tộc Việt Nam đi tới độc lập, tự do.
Xem thêm
Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc
Trong suốt 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025), văn học, nghệ thuật Việt Nam đã không ngừng phát triển, đồng hành cùng công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trên nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng và truyền thống dân tộc, văn học, nghệ thuật đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, phản ánh hiện thực đời sống xã hội, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Xem thêm
Có một sự đồng điệu giữa văn hoá và nghệ thuật Việt-Pháp
Thierry kể về Paris những năm tuổi trẻ. Nhà của Thierry cách trường Sư phạm ENS Paris chừng mười lăm phút đi bộ. Ông nói về các quán cà phê nơi giới trí thức Pháp từng tranh luận thâu đêm, về những phòng tranh nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés, về Foucault với những suy tư sâu thẳm về con người và tự do. Khi nhắc đến Foucault, giọng ông chậm lại như đang nhớ về một người bạn cũ đã ra đi rất xa. Sau đó Thierry hỏi Tú rằng tại sao anh lại đến ven sông Sài Gòn để làm mỹ thuật.
Xem thêm
Văn học trong kỷ nguyên số
Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới và công nghệ mới, những thay đổi lớn đã diễn ra trong cách sáng tác và đọc văn học. Đặc biệt là sự phổ biến của văn học trực tuyến và đọc điện tử, đã làm thay đổi rất nhiều cấu trúc và hệ sinh thái văn học truyền thống. Trong cuộc cách mạng thông tin và truyền thông sâu rộng này, văn học thời đại số sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Xem thêm
Người trẻ và văn chương tìm đường gặp nhau
Trong thời đại số, chỉ với một cú chạm màn hình, giới trẻ có thể tiếp cận vô vàn nội dung giải trí và tri thức, khiến những trang văn cần đọc chậm, chiêm nghiệm dần đánh mất vị trí trung tâm trong thói quen tiếp nhận.
Xem thêm
Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Ngày nay, thông qua mạng xã hội và các phương tiện công nghệ, con người kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng một thực tại lại xảy ra: Dường như con người đang cô đơn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, văn học nghệ thuật được kỳ vọng là sợi dây hàn gắn liên kết giữa người với người. Liệu một cuốn sách có thể mang tới sự gắn kết? Từ những cuộc đối thoại trong chuỗi sự kiện Những ngày Văn học châu Âu 2026, câu hỏi ấy đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xem thêm
Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa cầm trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.
Xem thêm