TIN TỨC

Mai Quỳnh Nam không đi trên những lối mòn – Tiểu luận của Pawel Kubiak

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-01-10 17:19:44
mail facebook google pos stwis
1200 lượt xem

Nguyệt san Gazeta Kulturalna (Báo Văn hóa) của Ba Lan số ra tháng 2 năm 2021 đăng bài viết của tác giả Pawel Kubiak về tập thơ Phía bên kia sự im lặng* của Mai Quỳnh Nam. Bài này từng đăng trên trang Lý luận phê bình của Hội Nhà văn Ba Lan giữa tháng 2 năm 2020. Chỉ hai tuần sau đó, tác giả bài viết đã đột ngột ra đi.

 

Ở Ba Lan, Pawel Kubiak được biết đến với tư cách nhà thơ, nhà hoạt động văn học nghệ thuật, dịch giả văn học Việt Nam ra tiếng Ba Lan. Ông đã cùng nhà thơ Lâm Quang Mỹ dịch thơ cổ điển Việt Nam, thơ của các tác giả thuộc phong trào Thơ Mới, dịch thơ Lâm Quang Mỹ, in và phát hành rộng rãi tại Ba Lan. Ông cũng là một trong số không nhiều các dịch giả Ba Lan được mời sang Việt Nam dự Hội nghị Quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài.

Pawel Kubiak ra đi là tổn thất lớn không chỉ với công chúng văn học Ba Lan mà còn với công chúng văn học Việt Nam. Ông yêu mến Việt Nam và đã dành tình cảm đặc biệt cho nền văn học mà ông đánh giá cao và vô cùng ngưỡng mộ.

Vanvn xin trân trọng giới thiệu lại trọn vẹn bài viết của nhà thơ Pawel Kubiak về thơ Mai Quỳnh Nam do dịch giả Nguyễn Chí Thuật chuyển ngữ.

 

Thơ Việt Nam ở Ba Lan vẫn là một cái gì đó xa lạ. Mà rõ ràng đất nước châu Á này luôn là mảnh đất tốt cho thơ ca phát triển, nơi nhà thơ được tôn vinh, ngưỡng mộ. Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước được công bố dưới dạng một bài thơ. Văn Miếu ở Hà Nội tồn tại suốt 10 thế kỷ nay là minh chứng hùng hồn cho lời khẳng định này.

Suốt nhiều năm hợp tác dịch thơ cổ điển Việt Nam, nền thơ có truyền thống tính bằng thiên niên kỷ, tôi có vinh dự hai lần được Hội Nhà văn Việt Nam mời sang Việt Nam dự các hoạt động liên quan đến văn học. Cụ thể tôi tham dự các Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài với danh nghĩa người dịch văn học Việt Nam ra tiếng Ba Lan, cùng với hàng trăm dịch giả nước ngoài khác. Quy mô của các hoạt động này thật sự nằm ngoài sức tưởng tượng của những người Ba Lan chúng ta: đoàn xe ca 10 chiếc nối đuôi nhau chở các dịch giả đi thăm danh lam thắng cảnh ở thủ đô, tham quan vịnh Hạ Long, đi dọc sông Hồng và đến nhiều địa danh nổi tiếng khác, có xe cảnh sát tháp tùng. Ở cuối mỗi câu miêu tả trên đây của tôi, lẽ ra dấu chấm than phải được sử dụng!

Khi tập thơ Phía bên kia sự im lặng của Mai Quỳnh Nam được xuất bản, tác giả bản dịch, với sự cộng tác của nhà thơ Ba Lan, Kalina Izabela Ziola, đã gửi tặng nó cho tôi và việc làm này khiến tôi vui mừng khôn tả. Lý do: đây là thơ hiện đại Việt Nam, loại thơ “sống” thuộc giai đoạn thơ mà tôi biết ít nhất. Cuốn sách có dung lượng khá lớn, in đẹp, minh họa mang không khí và tâm hồn châu Á. Còn nội dung thì vô cùng phong phú.

Trước hết tập thơ là kho báu chứa đựng kết quả quan sát các sự kiện và các quá trình đời sống: quá trình liên quan đến thiên nhiên, quá trình mang tính xã hội học và văn minh hóa. Rõ ràng sự nhậy cảm về thân phận con người đã được làm nổi bật. Mai Quỳnh Nam thường xuyên xã hội hóa các vấn đề mà thơ ông đề cập, ông chỉ ra những con đường nhỏ mờ ảo của hệ thống xã hội trong nền văn minh của chúng ta; chúng ta không biết suy ngẫm cụ thể của nhà thơ liên quan đến quốc gia nào, bởi vì thi sĩ chu du nhiều nơi trên thế giới, song tôi nghĩ điều đó không phải là vấn đề quan trọng nhất:



Nhà thơ Mai Quỳnh Nam

 

Xã hội học lúc 0 giờ 

 

Mưa pháo hoa xối xả lên trời

Uốn những vòng ngũ sắc

 

Giờ này những chú bé đánh giày ngủ rất ngon,

rất say. Những cô gái bán mình vừa dứt cuộc tình,

bóng hình mờ mờ ảo ảo. Những ông chủ

vừa tan tiệc rượu, thương trường điên đảo,

giá vàng vừa tỉnh vừa say

giờ này, bầu trời tinh tươm không gợn mây

không suy thoái,

không phát triển,

không minh chứng một điều gì hết

dịu dàng trên tán cây

che giấc ngủ ngon

những chú bé đánh giày

Một vấn đề riêng rẽ khác là sự cô đơn “có chủ định” được đề cập trong bài Người đàn bà hiện đại: “Độc thân/ sống cùng cún con/ hai tivi/ hai điện thoại (…)/ đêm buồn/ dắt cún dạo chơi”.

Hiện tượng không mấy hay ho khác có thể là mặt trái của đô thị hóa diễn ra chóng mặt và việc công nghệ hiện đại thống trị đời sống xã hội:
 

Hiện đại 

 

Ăn cơm hộp, ở nhà hình hộp

Sống độc thân ngày cơm hộp hai lần

Phố chói nắng, không cây đổ bóng

Những quan tài dựng ngược bủa vây anh

(…)

Ở một số bài thơ trong phần Một tập thơ này, chúng ta bắt gặp sự súc tích đến bất thường, những tối giản đáng ngạc nhiên nhưng lại không hề làm nghèo nàn nội dung các tác phẩm! Chỉ trong một hai dòng thơ thôi mà cả vũ trụ thi ca hiện diện. Có cảm giác từ chỗ dòng thơ kết thúc không thể có con đường đi tiếp: một bước tiến thêm lên phía trước sẽ phá vỡ mối liên hệ với nền tảng liên tưởng, một bước lùi lại phía sau sẽ làm loãng ra cảm xúc. Cho nên sự gắn kết giữa các từ ngữ phải vô cùng khéo léo: * * */ Một túp lều/ một vầng trăng/ hai tiếng thở dài/ vài giọt sương/ thế là thiên đường.

Hay: * * */ Không đến nỗi tồi tệ/ thì em còn có anh/ anh còn có trời xanh/ trời xanh còn mây trắng/ tính trọn gói một ngày/ thế là ta thắng đậm.

Tôi muốn dành thêm mấy câu để nói về sự đặc sắc của bài thơ sau đây. Vầng trăng, những đám mây trôi trên bầu trời, đối với người Việt là cả một thế giới huyền ảo, chứ không chỉ là biểu trưng, mà là một hiện thực ngoài vật chất! Đó là một thế giới người ta bắt gặp, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một bản di chúc để lại cho tương lai:  ***/ Đám mây màu hồng nhạt/ đang chuyển dần thành xanh/ con ơi, vầng mây trắng/ nhiều khi trôi một mình.

Về các mối quan hệ xã hội và những tập quán tồn tại ở Việt Nam (và chắc chắn ở một phần các quốc gia châu Á nữa), bài thơ trích dẫn dưới đây nói lên nhiều điều:
 

Sự tồn tại

 

Ông giáo sư tồn tại vì cái đầu uyên bác

cô thư ký tồn tại vì xinh và đôi khi giả bộ hơi đần

tôi tồn tại vì gì không biết

đã mấy lần nước ngập đến chân

Bài thơ Quan hệ giới, mở đầu bằng câu “Sạp trái cây của người đàn bà/ quả gì cũng có”. Có thể thấy phần lớn các bài thơ đều được viết từ góc nhìn điển hình của người đàn ông khi ca ngợi vẻ đẹp phụ nữ, đề cao sự tinh tế thiên phú của phái đẹp. Tác giả cũng bày tỏ sự mong đợi thường tình của đàn ông: sống lâu dài bên cạnh người phụ nữ mình yêu, được hưởng sự chăm sóc, ân ái, ví dụ: “Tình yêu phong em thành thánh thành thần, thành đức tin, anh ngưỡng vọng”. “Em trói buộc tôi bằng quyền lực mềm/bằng nhan sắc”, “Đôi ta lỡ bước sa chân/ mấy lần trượt ngã/ thôi thì dựa vào nhau mà đi/ đường xa/ nào ân hận gì”. “Ấm êm bên em trôi qua rất nhanh/ tất cả tan tành/ bệnh tình ấp tới”.

Ở một trong số những bài thơ mà theo tôi là quan trọng nhất của tập thơ, chúng ta bắt gặp sự so sánh không chút mâu thuẫn giữa triết học châu Âu của Hegel với thuyết đầu thai kiếp sau của châu Á theo Ấn Độ giáo, Hin-đu giáo. Trong tương lai được đề cập, không có cái gì chiến thắng cái gì mà cả hai thế giới đều song song tồn tại:
 

Phép thử thuật tư biện

 

Theo phương pháp của Hê-ghen

tôi đặt niềm tin

vào ý niệm tuyệt đối

tôi kêu gọi

những hạt sương kết đọng trong đêm

sáng ra, tôi nhìn

trên lá sen

long lanh hạt ngọc

 

tôi cũng đặt niềm tin

vào ý niệm tuyệt đối

để hình dung về em

mong có em trong tồn tại khác

em đẹp, nồng nàn …

 

sau giấc mơ miên man

tôi gặp con cánh cam

xòe đôi cánh óng vàng

bay lên

từ cây mận

Tính tư tưởng chiếm vị trí đáng chú ý trong tập thơ Phía bên kia sự im lặng. Nhà thơ đứng ở phía nào, đứng về phía ai để phát ngôn? Thi sĩ là nhà nghiên cứu xã hội học làm việc ở Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Ông bày tỏ những quan điểm phong phú, đa dạng, đôi khi đối lập nhau, đưa ra những phát hiện khác nhau về vấn đề cuộc sống, cái chết, tâm hồn (tâm hồn đối với người Việt là ý thức về giá trị bản thân, hơi khác so với toàn bộ đời sống, sự tồn tại của con người Thiên chúa giáo). Trong bài thơ viết tặng vợ, ông nói rõ: “sau khi chết, chúng ta bị quẳng mỗi đứa một nơi”…, và xa hơn một chút “trời ghen tức chơi trò phá đám”. Ông tỏ ra nghi ngờ: “Chúng ta chia tay nhau ở phía cuối con đường, sực mùi tử khí/ kiếp người là gì ấy nhỉ?”. Ông cũng cho phép: “Lòng tan rã như có ma đến ám”. Trong thơ ông có chỗ cho một quan niệm mang tính hoàn vũ:
 

Cầu nguyện

 

Xin tha thứ mọi tội lỗi

xin hãy minh oan

xin nhìn thấu vào nguyên nhân cái chết

 

xin để linh hồn anh được siêu thoát

So sánh với tầm nhìn Thiên chúa giáo, có thể thấy sự khác biệt: “giản dị thôi, tôi chuyển vùng đời/ về miền tất định”. Sau sự ra đi của người vợ thân yêu, nhà thơ viết bài thơ chứa đựng bi kịch cá nhân nhưng cũng đầy chất trí tuệ:
 

Mộ đôi

 

Hai tấm thân tan rã

Truyền hơi ấm cho nhau

Dưới đất lạnh

Từ lâu

Họ chỉ còn im lặng

Còn đây là bài thơ chứa đựng thế giới quan thuần túy:

Tất cả tin vào cái không có

thế là cãi cọ

thế là chiến tranh

đằng đẵng hàng nghìn năm

không phân thắng bại

tội này

thuộc về các giáo phái!

Và kết thúc chủ đề này:

* * *

Tôn giáo cần được dung hòa

Lẽ nào Thánh kinh không phôi pha?

Có một số bài thơ đề cập trực tiếp đến văn học thế giới, đến lĩnh vực khoa học, cả Việt Nam và quốc tế. Một trong số đó là bài tác giả phân tích tác phẩm thơ Wislawa Szymborska, chứng minh rằng, thống kê là biểu tượng mang tính nghệ thuật” ở nữ thi sĩ Ba Lan được trao Nobel Văn học. Trong loạt tác phẩm này, bài thơ gây ấn tượng mạnh trong tôi là tác phẩm viết về số phận bi kịch của nhà văn khác, cũng được trao Nobel văn học:

 

Tự sát, trường hợp Hemingway

 

Tự sát

có cơ chế di truyền

căn nguyên từ máu

 

viên đạn súng sưn sư tử

chính ông phát nổ

 

chết

ai cũng vậy thôi

bi kịch đời người

cần giải thoát

Trong bài thơ viết dưới nhan đề Thơ mang ít nhiều yếu tố lý luận thể loại, tác giả đề cập quá trình sáng tạo và tính chất dự báo của tác phẩm: “tôi đọc/bằng sự im lặng/ hết ngày này sang ngày khác/thơ trong đầu tôi/ có thể đã viết xong/ có thể là bản nháp/ có thể mấy câu rời rạc/ của tôi/ hoặc của người khác (…)/ nếu không có thơ thì tôi chết/ có, thì quá mệt/ tôi đã giải thoát”.

Trong một bài thơ khác, tác giả tâm sự: “tất cả không chú ý đến tôi/ con người có thói quen/ yên lặng/ nhìn bầu trời”.

Quá trình đọc tập thơ làm nẩy sinh trong tôi sự tò mò, đúng hơn là cảm nhận sự khác biệt đến của người ở tại một đất nước xa xôi như tôi. Trong bài thơ có câu thơ lấy làm đầu đề cho phần Một tập thơ Tình yêu như quả bóng pha lê, được đặt vào sự so sánh, ở một ý nghĩa nào đó, lao động với… tình yêu! Liệu điều này có thể xảy ra trong văn học châu Âu nói chung và văn học Ba Lan nói riêng không? Tôi nghĩ rằng bài thơ đã mang đến cho người đọc châu Âu một vầng sáng, tuy còn lờ mờ, chứ chưa hẳn là luồng ánh sáng có mức độ chiếu rọi cao, giúp họ nhìn nhận ý nghĩa lớn lao của lao động động ở châu Á: ***/ Công việc như quả bóng cao su/ rơi xuống/ lại nẩy lên/ tình yêu như quả bóng thủy tinh/ trượt tay là vỡ.

Một số bài thơ tiếng Việt chắc chắn rất khó chuyển ngữ (chứ chưa nói là dịch thành thơ) sang tiếng Ba Lan với tất cả những chiều kích cơ bản. Để giữ được tầng nghĩa đầu tiên, trong bản dịch, tính năng động sẽ mất đi, sẽ thoát ra khỏi con suối tình cảm của người Việt; một số liên tưởng mang tính triết lý, tôn giáo tập quán, khí chất… làm nên cao điểm trữ tình chỉ có thể có trong nguyên bản. Chẳng hạn: * * */ Anh đau khổ, em chưa hề đau khổ/ ước gì ta trộn lẫn vào nhau/ để đến biển em dạn dày sóng gió/ để lòng anh vợi bớt nỗi u sầu.

Hay bài thơ chứa đựng sự chân tình với con trai: * * */ Cha muốn con là người cẩn thận/ cha muốn con là người thẳng thắn/ cẩn thận còn ở đằng sau/ thẳng thắn cần hơn phải đặt lên đầu.

Và đây, thêm một ví dụ nữa, ví dụ cuối cùng: * * */ Thật khó nói trước lòng anh/ vì sự chân thành/ anh nói trước.

Việc dịch các bài thơ loại này đòi hỏi người dịch phải cố gắng ở mức cao nhất, chỉ cần coi nhẹ công việc mình làm hay “sáng tạo” tùy tiện hoặc lạm dụng chú thích ngoài văn bản, hiệu quả tiếp nhận ở bạn đọc sẽ giảm đáng kể.

Có thể có những bạn đọc Ba Lan như tôi sẽ lấy làm tiếc là Mai Quỳnh Nam đã đưa vào tập thơ những hồi ức khá đậm nét về cuộc chiến tranh chống Mỹ mà tác giả tham dự với tư cách người lính tại điểm nóng trên mặt trận phía Nam. Nhưng suy cho cùng tác giả hoàn toàn có quyền viết cả loạt bài miêu tả sự ác liệt của cuộc chiến tranh mà mấy chục năm sau đôi khi người đọc vẫn thấy lạnh xương sống khi đọc chúng. Chỉ có phóng đại quá mức cái ác thuần túy của chiến tranh mới làm nảy sinh trong lòng một bạn đọc như tôi sự kém nhiệt tình  đọc tác phẩm loại này. Vả lại khó làm khác được khi bi kịch của dân tộc Việt Nam và sự tham gia trực tiếp của tác giả vào các sự kiện nói trên đặt ra cho thi sĩ nhiệm vụ là đôi khi phải quay trở lại với sự khốc liệt của chiến tranh, với những gì kẻ thù đã gieo rắc trên đất nước của ông:

Màu trắng

Người đàn bà vật vã trên bàn đẻ

căng hết sức mình

để trở thành người mẹ

 

bao lần bác sĩ gỡ ra từ thân thể chị

những mảnh vụn bom găm

vá lành vết bỏng na-pan

 

và bây giờ, sau cơn đau kinh hoàng của người vượt bể

anh nâng đỡ trên tay đứa bé

dị dạng hình người

không tiếng khóc

 

anh rụng rời

cắn chặt môi

ghìm nước mắt

 

như có loạt bom hắt tê tái vào mặt

màu trắng đục những cơn mưa hóa học.

Trong bất cứ trường hợp nào, sự khác biệt không có nghĩa là xa lạ. Tiếp nhận những nội dung đến từ một nơi xa xôi luôn làm phong phú bản thân mình, vì vậy cần nuôi hy vọng rằng thế giới của mọi sự sáng tạo sẽ đi theo con đường như vậy. Xin chân thành khuyến khích bạn đọc thưởng thức tập thơ này.

NGUYỄN CHÍ THUẬT

Dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan

_______

* Mai Quỳnh Nam, Phía bên kia sự im lặng, bản dịch tiếng Ba Lan của Nguyễn Chí Thuật, với sự cộng tác của Kalina Izabela Zioła, Nxb G&P, Poznań 2020, 172 trang.

Nguồn: https://vanvn.vn/

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm