TIN TỨC

Mai Quỳnh Nam không đi trên những lối mòn – Tiểu luận của Pawel Kubiak

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-01-10 17:19:44
mail facebook google pos stwis
1308 lượt xem

Nguyệt san Gazeta Kulturalna (Báo Văn hóa) của Ba Lan số ra tháng 2 năm 2021 đăng bài viết của tác giả Pawel Kubiak về tập thơ Phía bên kia sự im lặng* của Mai Quỳnh Nam. Bài này từng đăng trên trang Lý luận phê bình của Hội Nhà văn Ba Lan giữa tháng 2 năm 2020. Chỉ hai tuần sau đó, tác giả bài viết đã đột ngột ra đi.

 

Ở Ba Lan, Pawel Kubiak được biết đến với tư cách nhà thơ, nhà hoạt động văn học nghệ thuật, dịch giả văn học Việt Nam ra tiếng Ba Lan. Ông đã cùng nhà thơ Lâm Quang Mỹ dịch thơ cổ điển Việt Nam, thơ của các tác giả thuộc phong trào Thơ Mới, dịch thơ Lâm Quang Mỹ, in và phát hành rộng rãi tại Ba Lan. Ông cũng là một trong số không nhiều các dịch giả Ba Lan được mời sang Việt Nam dự Hội nghị Quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài.

Pawel Kubiak ra đi là tổn thất lớn không chỉ với công chúng văn học Ba Lan mà còn với công chúng văn học Việt Nam. Ông yêu mến Việt Nam và đã dành tình cảm đặc biệt cho nền văn học mà ông đánh giá cao và vô cùng ngưỡng mộ.

Vanvn xin trân trọng giới thiệu lại trọn vẹn bài viết của nhà thơ Pawel Kubiak về thơ Mai Quỳnh Nam do dịch giả Nguyễn Chí Thuật chuyển ngữ.

 

Thơ Việt Nam ở Ba Lan vẫn là một cái gì đó xa lạ. Mà rõ ràng đất nước châu Á này luôn là mảnh đất tốt cho thơ ca phát triển, nơi nhà thơ được tôn vinh, ngưỡng mộ. Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước được công bố dưới dạng một bài thơ. Văn Miếu ở Hà Nội tồn tại suốt 10 thế kỷ nay là minh chứng hùng hồn cho lời khẳng định này.

Suốt nhiều năm hợp tác dịch thơ cổ điển Việt Nam, nền thơ có truyền thống tính bằng thiên niên kỷ, tôi có vinh dự hai lần được Hội Nhà văn Việt Nam mời sang Việt Nam dự các hoạt động liên quan đến văn học. Cụ thể tôi tham dự các Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài với danh nghĩa người dịch văn học Việt Nam ra tiếng Ba Lan, cùng với hàng trăm dịch giả nước ngoài khác. Quy mô của các hoạt động này thật sự nằm ngoài sức tưởng tượng của những người Ba Lan chúng ta: đoàn xe ca 10 chiếc nối đuôi nhau chở các dịch giả đi thăm danh lam thắng cảnh ở thủ đô, tham quan vịnh Hạ Long, đi dọc sông Hồng và đến nhiều địa danh nổi tiếng khác, có xe cảnh sát tháp tùng. Ở cuối mỗi câu miêu tả trên đây của tôi, lẽ ra dấu chấm than phải được sử dụng!

Khi tập thơ Phía bên kia sự im lặng của Mai Quỳnh Nam được xuất bản, tác giả bản dịch, với sự cộng tác của nhà thơ Ba Lan, Kalina Izabela Ziola, đã gửi tặng nó cho tôi và việc làm này khiến tôi vui mừng khôn tả. Lý do: đây là thơ hiện đại Việt Nam, loại thơ “sống” thuộc giai đoạn thơ mà tôi biết ít nhất. Cuốn sách có dung lượng khá lớn, in đẹp, minh họa mang không khí và tâm hồn châu Á. Còn nội dung thì vô cùng phong phú.

Trước hết tập thơ là kho báu chứa đựng kết quả quan sát các sự kiện và các quá trình đời sống: quá trình liên quan đến thiên nhiên, quá trình mang tính xã hội học và văn minh hóa. Rõ ràng sự nhậy cảm về thân phận con người đã được làm nổi bật. Mai Quỳnh Nam thường xuyên xã hội hóa các vấn đề mà thơ ông đề cập, ông chỉ ra những con đường nhỏ mờ ảo của hệ thống xã hội trong nền văn minh của chúng ta; chúng ta không biết suy ngẫm cụ thể của nhà thơ liên quan đến quốc gia nào, bởi vì thi sĩ chu du nhiều nơi trên thế giới, song tôi nghĩ điều đó không phải là vấn đề quan trọng nhất:



Nhà thơ Mai Quỳnh Nam

 

Xã hội học lúc 0 giờ 

 

Mưa pháo hoa xối xả lên trời

Uốn những vòng ngũ sắc

 

Giờ này những chú bé đánh giày ngủ rất ngon,

rất say. Những cô gái bán mình vừa dứt cuộc tình,

bóng hình mờ mờ ảo ảo. Những ông chủ

vừa tan tiệc rượu, thương trường điên đảo,

giá vàng vừa tỉnh vừa say

giờ này, bầu trời tinh tươm không gợn mây

không suy thoái,

không phát triển,

không minh chứng một điều gì hết

dịu dàng trên tán cây

che giấc ngủ ngon

những chú bé đánh giày

Một vấn đề riêng rẽ khác là sự cô đơn “có chủ định” được đề cập trong bài Người đàn bà hiện đại: “Độc thân/ sống cùng cún con/ hai tivi/ hai điện thoại (…)/ đêm buồn/ dắt cún dạo chơi”.

Hiện tượng không mấy hay ho khác có thể là mặt trái của đô thị hóa diễn ra chóng mặt và việc công nghệ hiện đại thống trị đời sống xã hội:
 

Hiện đại 

 

Ăn cơm hộp, ở nhà hình hộp

Sống độc thân ngày cơm hộp hai lần

Phố chói nắng, không cây đổ bóng

Những quan tài dựng ngược bủa vây anh

(…)

Ở một số bài thơ trong phần Một tập thơ này, chúng ta bắt gặp sự súc tích đến bất thường, những tối giản đáng ngạc nhiên nhưng lại không hề làm nghèo nàn nội dung các tác phẩm! Chỉ trong một hai dòng thơ thôi mà cả vũ trụ thi ca hiện diện. Có cảm giác từ chỗ dòng thơ kết thúc không thể có con đường đi tiếp: một bước tiến thêm lên phía trước sẽ phá vỡ mối liên hệ với nền tảng liên tưởng, một bước lùi lại phía sau sẽ làm loãng ra cảm xúc. Cho nên sự gắn kết giữa các từ ngữ phải vô cùng khéo léo: * * */ Một túp lều/ một vầng trăng/ hai tiếng thở dài/ vài giọt sương/ thế là thiên đường.

Hay: * * */ Không đến nỗi tồi tệ/ thì em còn có anh/ anh còn có trời xanh/ trời xanh còn mây trắng/ tính trọn gói một ngày/ thế là ta thắng đậm.

Tôi muốn dành thêm mấy câu để nói về sự đặc sắc của bài thơ sau đây. Vầng trăng, những đám mây trôi trên bầu trời, đối với người Việt là cả một thế giới huyền ảo, chứ không chỉ là biểu trưng, mà là một hiện thực ngoài vật chất! Đó là một thế giới người ta bắt gặp, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một bản di chúc để lại cho tương lai:  ***/ Đám mây màu hồng nhạt/ đang chuyển dần thành xanh/ con ơi, vầng mây trắng/ nhiều khi trôi một mình.

Về các mối quan hệ xã hội và những tập quán tồn tại ở Việt Nam (và chắc chắn ở một phần các quốc gia châu Á nữa), bài thơ trích dẫn dưới đây nói lên nhiều điều:
 

Sự tồn tại

 

Ông giáo sư tồn tại vì cái đầu uyên bác

cô thư ký tồn tại vì xinh và đôi khi giả bộ hơi đần

tôi tồn tại vì gì không biết

đã mấy lần nước ngập đến chân

Bài thơ Quan hệ giới, mở đầu bằng câu “Sạp trái cây của người đàn bà/ quả gì cũng có”. Có thể thấy phần lớn các bài thơ đều được viết từ góc nhìn điển hình của người đàn ông khi ca ngợi vẻ đẹp phụ nữ, đề cao sự tinh tế thiên phú của phái đẹp. Tác giả cũng bày tỏ sự mong đợi thường tình của đàn ông: sống lâu dài bên cạnh người phụ nữ mình yêu, được hưởng sự chăm sóc, ân ái, ví dụ: “Tình yêu phong em thành thánh thành thần, thành đức tin, anh ngưỡng vọng”. “Em trói buộc tôi bằng quyền lực mềm/bằng nhan sắc”, “Đôi ta lỡ bước sa chân/ mấy lần trượt ngã/ thôi thì dựa vào nhau mà đi/ đường xa/ nào ân hận gì”. “Ấm êm bên em trôi qua rất nhanh/ tất cả tan tành/ bệnh tình ấp tới”.

Ở một trong số những bài thơ mà theo tôi là quan trọng nhất của tập thơ, chúng ta bắt gặp sự so sánh không chút mâu thuẫn giữa triết học châu Âu của Hegel với thuyết đầu thai kiếp sau của châu Á theo Ấn Độ giáo, Hin-đu giáo. Trong tương lai được đề cập, không có cái gì chiến thắng cái gì mà cả hai thế giới đều song song tồn tại:
 

Phép thử thuật tư biện

 

Theo phương pháp của Hê-ghen

tôi đặt niềm tin

vào ý niệm tuyệt đối

tôi kêu gọi

những hạt sương kết đọng trong đêm

sáng ra, tôi nhìn

trên lá sen

long lanh hạt ngọc

 

tôi cũng đặt niềm tin

vào ý niệm tuyệt đối

để hình dung về em

mong có em trong tồn tại khác

em đẹp, nồng nàn …

 

sau giấc mơ miên man

tôi gặp con cánh cam

xòe đôi cánh óng vàng

bay lên

từ cây mận

Tính tư tưởng chiếm vị trí đáng chú ý trong tập thơ Phía bên kia sự im lặng. Nhà thơ đứng ở phía nào, đứng về phía ai để phát ngôn? Thi sĩ là nhà nghiên cứu xã hội học làm việc ở Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Ông bày tỏ những quan điểm phong phú, đa dạng, đôi khi đối lập nhau, đưa ra những phát hiện khác nhau về vấn đề cuộc sống, cái chết, tâm hồn (tâm hồn đối với người Việt là ý thức về giá trị bản thân, hơi khác so với toàn bộ đời sống, sự tồn tại của con người Thiên chúa giáo). Trong bài thơ viết tặng vợ, ông nói rõ: “sau khi chết, chúng ta bị quẳng mỗi đứa một nơi”…, và xa hơn một chút “trời ghen tức chơi trò phá đám”. Ông tỏ ra nghi ngờ: “Chúng ta chia tay nhau ở phía cuối con đường, sực mùi tử khí/ kiếp người là gì ấy nhỉ?”. Ông cũng cho phép: “Lòng tan rã như có ma đến ám”. Trong thơ ông có chỗ cho một quan niệm mang tính hoàn vũ:
 

Cầu nguyện

 

Xin tha thứ mọi tội lỗi

xin hãy minh oan

xin nhìn thấu vào nguyên nhân cái chết

 

xin để linh hồn anh được siêu thoát

So sánh với tầm nhìn Thiên chúa giáo, có thể thấy sự khác biệt: “giản dị thôi, tôi chuyển vùng đời/ về miền tất định”. Sau sự ra đi của người vợ thân yêu, nhà thơ viết bài thơ chứa đựng bi kịch cá nhân nhưng cũng đầy chất trí tuệ:
 

Mộ đôi

 

Hai tấm thân tan rã

Truyền hơi ấm cho nhau

Dưới đất lạnh

Từ lâu

Họ chỉ còn im lặng

Còn đây là bài thơ chứa đựng thế giới quan thuần túy:

Tất cả tin vào cái không có

thế là cãi cọ

thế là chiến tranh

đằng đẵng hàng nghìn năm

không phân thắng bại

tội này

thuộc về các giáo phái!

Và kết thúc chủ đề này:

* * *

Tôn giáo cần được dung hòa

Lẽ nào Thánh kinh không phôi pha?

Có một số bài thơ đề cập trực tiếp đến văn học thế giới, đến lĩnh vực khoa học, cả Việt Nam và quốc tế. Một trong số đó là bài tác giả phân tích tác phẩm thơ Wislawa Szymborska, chứng minh rằng, thống kê là biểu tượng mang tính nghệ thuật” ở nữ thi sĩ Ba Lan được trao Nobel Văn học. Trong loạt tác phẩm này, bài thơ gây ấn tượng mạnh trong tôi là tác phẩm viết về số phận bi kịch của nhà văn khác, cũng được trao Nobel văn học:

 

Tự sát, trường hợp Hemingway

 

Tự sát

có cơ chế di truyền

căn nguyên từ máu

 

viên đạn súng sưn sư tử

chính ông phát nổ

 

chết

ai cũng vậy thôi

bi kịch đời người

cần giải thoát

Trong bài thơ viết dưới nhan đề Thơ mang ít nhiều yếu tố lý luận thể loại, tác giả đề cập quá trình sáng tạo và tính chất dự báo của tác phẩm: “tôi đọc/bằng sự im lặng/ hết ngày này sang ngày khác/thơ trong đầu tôi/ có thể đã viết xong/ có thể là bản nháp/ có thể mấy câu rời rạc/ của tôi/ hoặc của người khác (…)/ nếu không có thơ thì tôi chết/ có, thì quá mệt/ tôi đã giải thoát”.

Trong một bài thơ khác, tác giả tâm sự: “tất cả không chú ý đến tôi/ con người có thói quen/ yên lặng/ nhìn bầu trời”.

Quá trình đọc tập thơ làm nẩy sinh trong tôi sự tò mò, đúng hơn là cảm nhận sự khác biệt đến của người ở tại một đất nước xa xôi như tôi. Trong bài thơ có câu thơ lấy làm đầu đề cho phần Một tập thơ Tình yêu như quả bóng pha lê, được đặt vào sự so sánh, ở một ý nghĩa nào đó, lao động với… tình yêu! Liệu điều này có thể xảy ra trong văn học châu Âu nói chung và văn học Ba Lan nói riêng không? Tôi nghĩ rằng bài thơ đã mang đến cho người đọc châu Âu một vầng sáng, tuy còn lờ mờ, chứ chưa hẳn là luồng ánh sáng có mức độ chiếu rọi cao, giúp họ nhìn nhận ý nghĩa lớn lao của lao động động ở châu Á: ***/ Công việc như quả bóng cao su/ rơi xuống/ lại nẩy lên/ tình yêu như quả bóng thủy tinh/ trượt tay là vỡ.

Một số bài thơ tiếng Việt chắc chắn rất khó chuyển ngữ (chứ chưa nói là dịch thành thơ) sang tiếng Ba Lan với tất cả những chiều kích cơ bản. Để giữ được tầng nghĩa đầu tiên, trong bản dịch, tính năng động sẽ mất đi, sẽ thoát ra khỏi con suối tình cảm của người Việt; một số liên tưởng mang tính triết lý, tôn giáo tập quán, khí chất… làm nên cao điểm trữ tình chỉ có thể có trong nguyên bản. Chẳng hạn: * * */ Anh đau khổ, em chưa hề đau khổ/ ước gì ta trộn lẫn vào nhau/ để đến biển em dạn dày sóng gió/ để lòng anh vợi bớt nỗi u sầu.

Hay bài thơ chứa đựng sự chân tình với con trai: * * */ Cha muốn con là người cẩn thận/ cha muốn con là người thẳng thắn/ cẩn thận còn ở đằng sau/ thẳng thắn cần hơn phải đặt lên đầu.

Và đây, thêm một ví dụ nữa, ví dụ cuối cùng: * * */ Thật khó nói trước lòng anh/ vì sự chân thành/ anh nói trước.

Việc dịch các bài thơ loại này đòi hỏi người dịch phải cố gắng ở mức cao nhất, chỉ cần coi nhẹ công việc mình làm hay “sáng tạo” tùy tiện hoặc lạm dụng chú thích ngoài văn bản, hiệu quả tiếp nhận ở bạn đọc sẽ giảm đáng kể.

Có thể có những bạn đọc Ba Lan như tôi sẽ lấy làm tiếc là Mai Quỳnh Nam đã đưa vào tập thơ những hồi ức khá đậm nét về cuộc chiến tranh chống Mỹ mà tác giả tham dự với tư cách người lính tại điểm nóng trên mặt trận phía Nam. Nhưng suy cho cùng tác giả hoàn toàn có quyền viết cả loạt bài miêu tả sự ác liệt của cuộc chiến tranh mà mấy chục năm sau đôi khi người đọc vẫn thấy lạnh xương sống khi đọc chúng. Chỉ có phóng đại quá mức cái ác thuần túy của chiến tranh mới làm nảy sinh trong lòng một bạn đọc như tôi sự kém nhiệt tình  đọc tác phẩm loại này. Vả lại khó làm khác được khi bi kịch của dân tộc Việt Nam và sự tham gia trực tiếp của tác giả vào các sự kiện nói trên đặt ra cho thi sĩ nhiệm vụ là đôi khi phải quay trở lại với sự khốc liệt của chiến tranh, với những gì kẻ thù đã gieo rắc trên đất nước của ông:

Màu trắng

Người đàn bà vật vã trên bàn đẻ

căng hết sức mình

để trở thành người mẹ

 

bao lần bác sĩ gỡ ra từ thân thể chị

những mảnh vụn bom găm

vá lành vết bỏng na-pan

 

và bây giờ, sau cơn đau kinh hoàng của người vượt bể

anh nâng đỡ trên tay đứa bé

dị dạng hình người

không tiếng khóc

 

anh rụng rời

cắn chặt môi

ghìm nước mắt

 

như có loạt bom hắt tê tái vào mặt

màu trắng đục những cơn mưa hóa học.

Trong bất cứ trường hợp nào, sự khác biệt không có nghĩa là xa lạ. Tiếp nhận những nội dung đến từ một nơi xa xôi luôn làm phong phú bản thân mình, vì vậy cần nuôi hy vọng rằng thế giới của mọi sự sáng tạo sẽ đi theo con đường như vậy. Xin chân thành khuyến khích bạn đọc thưởng thức tập thơ này.

NGUYỄN CHÍ THUẬT

Dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan

_______

* Mai Quỳnh Nam, Phía bên kia sự im lặng, bản dịch tiếng Ba Lan của Nguyễn Chí Thuật, với sự cộng tác của Kalina Izabela Zioła, Nxb G&P, Poznań 2020, 172 trang.

Nguồn: https://vanvn.vn/

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm