- Lý luận - Phê bình
- Nhà thơ và thi hứng sáng tạo
Nhà thơ và thi hứng sáng tạo
Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng:
2021-08-20 06:02:53
5411 lượt xem
GS. HỒ SĨ VỊNH
Nói đến thơ ca, người đọc nghĩ ngay đến tư tưởng tiềm ẩn, thi pháp vừa trực giác, vừa suy lý, ngôn ngữ thơ thường “bị rào cản”, chứ không “tự do” miêu tả như văn xuôi. Những tiên đề và chuẩn mực đó trong cá tính sáng tạo của nhà thơ giúp người đọc thưởng thức bài thơ hay, chưa hay, câu thơ giàu hình tượng hay nghèo thi pháp, thi hứng nhà thơ có mạch thơ sâu, hay nghèo sức tưởng tượng, ý thơ sâu hay nông cạn,... Bài viết này lý giải đôi điều về thi hứng sáng tạo của nhà thơ trong quan hệ lý thuyết thẩm mỹ của nhà thơ.
1. DUY CẢM VÀ DUY LÝ LÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI NĂNG THI HỨNG
Tài năng thơ ca là sự kết tụ giữa duy lý và duy cảm, giữa trí tuệ và tri thức văn hóa do nhà thơ chiếm lĩnh và cảm xúc trào dâng, kết quả của sự rèn luyện, sự lao động nghiêm khắc trong cảm hứng sáng tạo. Cảm hứng trong thơ có hai giai đoạn: Cảm hứng chủ đạo và cảm hứng phản xạ. Cái trước thuộc phạm trù đạo đức - chính trị; còn cái sau là “tia chớp” trong quá trình tìm tòi ý bài thơ. Thiên tài như A. Puskin mà cũng cần đến “sự lao động lặng yên”, trải qua bi kịch sáng tạo, cơn đau đơn nặng nề khi ý và lời thơ chưa gặp nhau, khi “tia chớp sáng tạo” bị biến mất,... Trong thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ở cả hai giai đoạn, nhiều bài thơ viết về đề tài Tổ quốc, thiên nhiên, ngay cả đề tài mất mát, bi thương,… vẫn đọng lại lâu dài trong tâm trí người đọc là nhờ tài năng của nhà thơ đồng hành với cảm hứng của người đọc. Những thi phẩm nổi tiếng thời đó như Sáng tháng năm, Nước non nghìn dặm, Mặt đường khát vọng, Trường ca sư đoàn, Sức bền của đất, Đường tới thành phố, Bài ca chim chơrao, Cuộc chia ly màu đỏ,... còn đồng hành cùng người đọc cho đến hôm nay là nhờ tài năng, sức khái quát cao của trí tuệ và chất liệu văn hóa dân gian, dân tộc. Viết về Đất nước (một chương lớn trong Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm với bút pháp hào hoa, hình tượng Đất nước như một họa phẩm sử thi hoành tráng: Đất nước là nơi Rồng ở, Lạc Long Quân và Âu Cơ, Đẻ ra trăm bọc trứng,... Huyền sử đó, nếu chỉ có thế thì chưa thành thơ hay. Bài thơ hay gây cảm hứng đồng điệu với người đọc là nhờ nhà thơ biết cá thể hóa dáng hình Đất nước:
Đất là nơi anh đến trường,
Nước là nơi em tắm
Đất nước là nơi ta hò hẹn
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm,...
Một nhà khoa học phương Tây - ông Jacwer Gauchearon - đã có nhận xét về thơ Nguyễn Trãi: “Thi ca và lịch sử chỉ là một... Đã đến lúc lịch sử trở thành động lực của thơ và thơ trở thành động lực của lịch sử”. Đó cũng là trường hợp sáng tạo thành công của nhiều nhà thơ lớn: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Tế Hanh....
Thơ viết về biển của Hữu Thỉnh là bài thơ hay, dễ thuộc, nhớ lâu, tứ thơ không lạ, lạ nhất là cách “chơi chữ”, từ nghĩa biểu hiện: biển, cánh buồm chiều, màu tím, gió, vách núi, chuyển dịch sang nghĩa nội hàm để nói lên một triết lý, tình yêu chân thật bao giờ cũng có nhận, có cho, có nhớ nhung và trách cứ của cả hai phía theo lối tu từ phủ định, giả định để xác định:
Gió không phải là roi/ mà vách núi phải mòn/ Em không phải là chiều/ mà nhuộm anh đến tím/ Sóng chẳng đến đâu/ nếu không đưa em đến/ Dù sóng đã làm anh/ Nghiêng ngả vì em.
Những năm gần đây, nhiều bài thơ viết về người mẹ, người chị với cảm hứng chân thật và giọng điệu lạ; không kể hết những chiến công của người con trai, người chồng nơi đầu tiên mũi đạn.... Bài thơ Chị (Bài dự thi trên báo Văn nghệ) của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm là một thi phẩm khá hay khi ông tạc tượng người vợ chiến binh trong nỗi cô đơn tột cùng bằng những câu nói cửa miệng dân gian: Chưa ai tạc tượng chị trong những ngày anh đi đánh giặc/ Một mình nuôi con/ sóng cả, đò đầy/ thân lươn, mình hạc/ con đường quê nhà vẹt một phương trời/ Chị quên vùng trắng/ Chị quên giếng nước, quên mình là đàn bà/ Chưa ai tạc tượng chị trong những năm tháng cuối cùng/ da nhăn, vỏ đỗ/ Suốt ngày khóc thương/ Chiếc xe lăn xếp cạnh bàn thờ/ Huân chương của anh gắn đầy tay vịn....
2. SỨC TƯỞNG TƯỢNG LÀ MỘT PHẨM CHẤT CỦA NHÀ THƠ
Sức tưởng tượng là quá trình tâm sinh lý xây dựng nên hình tượng, biểu tượng bằng cách cải tổ tư liệu của tri giác, trí nhớ trong quá trình lao động trước đây của nhà thơ. Tưởng tượng chỉ có ở con người. Nếu tri giác phản ánh cái hiện tại, thì tưởng tượng phản ánh cái đã qua. Có hai loại tưởng tượng: Tưởng tượng có chủ đích và tưởng tượng không có chủ đích. Nhà thơ Đức Fr.Hebel (1813-1863) cho tưởng tượng có thể chấp nhận được, trong sự có mặt của lý trí. Còn V.I.Lenin coi sức tưởng tượng là một phẩm chất, một giá trị vĩ đại nhất của con người. Nhà thơ và nhà khoa học đều cần đến sức tưởng tượng. Đại bộ phận tác phẩm thi ca, nổi tiếng thế giới đều được vận dụng sức tưởng tượng để làm giàu cho ngôn ngữ thơ, hình tượng nhân vật chính của tác phẩm. Trong thơ ca Việt Nam hiện đại của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên,... người đọc thường bắt gặp nhiều biểu tượng màu đỏ, ngọn lửa, giọt máu… Thậm chí còn có một bài thơ của nhà thơ trẻ thời chống Mỹ có nhan đề Cuộc cách mạng màu đỏ.
Thơ Nguyễn Đình Thi thường được bạn đọc chú ý biểu tượng sắc đỏ như Con đường lửa cháy, Đêm khuya ngồi đốt lửa, Lửa ào ào buông cuộn, Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa, Rừng lạ ào ào lá đỏ, Ôi cánh đồng quê chảy máu, Dây thép gai đâm nát trời chiều,... Tất cả những ẩn dụ, hoán dụ, phúng dụ nói với đọc thơ sự khốc liệt trong cơn binh đao của cuộc chiến tranh vệ quốc.
3. VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ PHI LÝ TÍNH TRONG THƠ
Một định nghĩa tóm tắt khi bàn về phi lý tính như: Trực giác, siêu thực, liên tưởng. Phi lý tính là một đặc thù của thơ, có cái lý riêng mà suy lý đơn thuần không hiểu được, nó cần được sự hướng dẫn của trí tuệ, tri thức văn hóa. Trong lịch sử văn học nước ta, ca dao, dân ca phản ánh tình yêu muôn mặt đời thường: Tình yêu con người, yêu thiên nhiên, quý trọng tình nghĩa bạn bè,... Với nhiều cách diễn đạt bằng ngoa dụ, ẩn dụ, hoán dụ. Ở biện pháp ẩn dụ và ngoa dụ, chúng ta đọc: Ước gì sông hẹp bằng ao/ Bắc cầu dải yếm qua trao ân tình; Cô kia tát nước bên sông/ Muốn sang anh bắc cành hồng cho sang... Trong Thơ mới giai đoạn 1930-1945, cánh cửa sổ nhìn về phương Tây đã ảnh hưởng đến thi hứng của nhiều nhà thơ. Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ là một ví dụ: Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát/ Hương thời gian không nồng/ Hương thời gian thanh thanh.....
Thời gian chỉ đo bằng năm tháng, bằng chiều dài lịch sử, sao lại đo bằng màu, bằng hương. Tứ thơ này chỉ là sự biểu hiện tình yêu của nhà thơ đối với thiên nhiên, với loại hoa màu tím. Dưới ảnh hưởng của văn hóa Pháp thời kỳ đó, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên và nhiều nhà thơ mới khác đều có những hình tượng thơ trực giác, siêu thực. Tuy nhiên, phi lý tính cũng có mặt tiêu cực trong triết học duy vật, trong thơ thời kỳ Ánh sáng, Phi lý tính trong thơ cần tránh sự lập dị, suy nghĩ mù quáng, cường điệu vô mục đích trong thi hứng của nhà thơ.
Muốn có những bài thơ hay, tứ thơ lạ để đời, chưa bao giờ là chuyện dễ. Có một nhà thơ hiện đại nói rằng, nghệ sĩ phải viết không chỉ bằng máu con tim mình, mà còn bằng mọi dây thần kinh trong cảm hứng sáng tạo. Còn Hữu Loan - Tác giả bài thơ Màu tím hoa sim coi sáng tạo là hiện tượng tâm sinh lý ác liệt, nhưng không mù quáng mà có Lửa Thần đưa đường. Lửa Thần đó chính là lý tưởng xã hội, Lý tưởng thẩm mỹ của nhà thơ.
Nguồn: Văn nghệ số 24/2021.
Bài viết liên quan
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm