TIN TỨC

Một chữ tình trong miền Nam xưa ngái

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-08 10:05:42
mail facebook google pos stwis
1910 lượt xem

NGUYỄN BÍNH HỒNG CẦU

Miền Nam xưa ngái gọi ta về một miền ký ức xưa, nơi đó chất chứa bao hoài niệm của một đời một thời, chất chứa nỗi mình nỗi người với bao oan khiên buồn vui vinh nhục thăng trầm máu lệ không chỉ của riêng ai, số phận đời người gắn liền cùng số phận của quê hương đất nước.


Nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu và nhà văn Thu Trân

Bước đi thời cuộc mang theo những dịch chuyển đổi dời giằng xé giữa cũ - mới, mất - còn, để tạo dựng nên những giá trị tinh thần mới mẻ nhưng đồng thời cũng làm xáo trộn không nhỏ, làm mất đi những giá trị đã được xác lập của người xưa. Sự biến thiên nghiệt ngã của thời cuộc hằn sâu thêm những dấu ấn bi hùng lên khuôn mặt lịch sử, đồng thời cũng nhào nặn nhấn chìm tan tác bao phận người phận đời nổi nênh dâu bể khóc cười. Con người và vùng đất của Miền Nam xưa ngái đã lùi sâu vào quá khứ, lớp bụi thời gian đủ dầy đủ cao theo ngày tháng chất chồng, nhưng giờ đây con người và vùng đất nhau rún máu thịt đó được tái hiện qua ngòi bút của chính tác giả, người trong cuộc, nó rờ rỡ tươi rói y xì như chuyện vừa mới xảy ra hôm qua, bởi vùng ký ức đó được lưu giữ trong hồn cốt của người viết, song hành cùng năm tháng đời người.

Tôi lắng lòng mình theo từng trang từng trang Miền Nam xưa ngái và tôi như gặp lại chính mình ở đâu đó trên trang viết của Thu Trân. Bởi tôi cũng có một tuổi thơ không yên bình, một vùng đất máu thịt đẫm máu và nước mắt, đất nước của một thời mang trên mình cuộc chiến tranh tàn khốc. Cũng như các bạn đều biết, gốc gác tôi không phải người Đàng trong mình, nhưng phải nói tôi rất may mắn và rất tự hào vì được cha mẹ sinh ra ở vùng đất cực Nam này, như có lần tôi đã tự bạch trong bài thơ Khuyết vòm trời quê nội: “đâu góc vườn xưa nắm đất cha đào/ gởi lại quê người lá nhau cuốn rún/ cho tôi được làm con xứ sở/ ươm mầm tôi trong hào khí phương Nam”. Vì điều này tôi có thể tự tin nói, mình là người đồng điệu hợp nhãn với chủ nhân của Miền Nam xưa ngái, bởi chúng tôi cùng có chung niềm tự hào vì mình được làm con dân miền Nam chính gốc, Nam Bộ thứ thiệt, chính gốc từ lời ăn tiếng nói, cung cách sống thuần hậu, chấc phác, bộc trực, ngay thẳng và chân tình. Miền Nam xưa ngái chính là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, không gian trong sách ôm trùm một góc nhỏ Đồng Nai thời mở đất, thời chinh chiến, thời khốn khó của những ngày đầu miền Nam mới giải phóng. Không! Đó không còn là câu chuyện của riêng Đồng Nai, nó được mở rộng cương thổ hơn khái quát hơn. Miền nam xưa ngái được tác giả chia làm bốn phần, mỗi phần gồm nhiều chuyện, mỗi câu chuyện là một lát cắt nho nhỏ so với bề dày bộn bề của cuộc sống, bằng lối viết chân phương đằm thắm dung dị kiệm lời không cầu kỳ khoe chữ hay triết luận cao vời mà bằng những chi tiết rất thực rất đời thường hiện diện trong từng lát cắt nho nhỏ sống động ấy, nhà văn Thu Trân đã làm thức dậy y xì toàn cảnh của một thời Miền Nam xưa ngái với những hỷ nộ ái ố nổi nênh ghềnh thác, chông chênh phận người phận ta. Thật ra Miền Nam xưa ngái được khuôn trong bối cảnh không gian thơi gian Đồng Nai vào khoảng thập niên 60-80 của thế kỷ trước, năm sáu mươi năm một chặn đường, một đời người cũng đã là qua hai đầu thế kỷ với biết bao đổi dời sông núi.

Tôi nghĩ, không phải ngẫu nhiên mà tác giả trang trọng đặt phần Văn hóa khẩn hoang Nam Bộ mở đầu quyển sách Miền Nam xưa ngái, có phải đây là tâm thế của người cầm viết, có trước có sau quê hương nguồn cội. Văn hóa khẩn hoang Nam Bộ chuyên chở nhiều điều thú vị, là nguồn tư liệu quí bổ ích cho những ai muốn khám phá về một Nam Bộ qua nhiều thời. Và nhất là tác giả dành nhiều chữ nghĩa cho miền phương ngữ miền Nam dẫu là chưa tròn đầy mà tròn đầy sao đặng khi mà điều kiện còn buộc ràng vào giới hạn. Phương ngữ Nam Bộ vốn là một kho tàng văn hóa không kém phần đồ sộ, độc đáo vô nhị, mang sắc thái đặc trưng của vùng đất phương Nam, mỗi từ mỗi câu đều mang dấu ấn lịch sử con người, vùng đất, phong phú mới mẻ và khoáng đạt như chính hơi thở của đất đai. Nhớ hồi còn là sinh viên của trường, tôi từng có tiểu luận chuyên đề về Phương ngữ Nam Bộ đạt điểm tuyệt đối, (xin được mở ngoặc chút xíu xiu, nay nhờ Miền Nam xưa ngái mình có cớ để tự khoe mẻ, xàm xí chút xin mọi người bỏ qua cho) giờ đây bỗng dưng gặp nhau lại trong Miền Nam xưa ngái âu cũng là một cuộc hội ngộ kỳ thú giữa hai người đồng điệu, tác giả và người đọc. Có điều tôi luôn chạnh lòng, ngày nay nhiều từ nhiều câu phương ngữ bị rơi rụng dần mất đi, cũng vì lẽ nầy một lần nữa tôi cảm ơn Miền Nam xưa ngái đã ngoái lại trân trọng gìn giữ miền ngôn ngữ tôi yêu.  

 Miền Nam xưa ngái ngồn ngộn những buồn vui nỗi mình nỗi người đắng đót xót xa, có thể gói gọn trong một chữ tình, và tôi xin được trân trọng viết hoa chữ TÌNH chan chứa ấy. Chứa chan tình người bao dung, tình đất cưu mang, nặng sâu tình làng nghĩa xóm mỗi khi tối lửa tắt đèn, cảm thông chia sẻ đớn đau trong từng mảnh đời số phận con người. Người đọc ắt không thể ngăn dòng nước mắt, không thể không rờn rợn trong nỗi kinh hoàng khi đối diện với Tàu đêm năm cũ, đó là một ám ảnh khôn nguôi của một đời của một thời đen đủi, ngăn sông cấm chợ. Để có được miếng ăn eo hẹp để cho vào những chiếc bụng bủng beo trống rỗng  của lũ con lít nhít, những chiếc bụng còm nhom ốm đói cùa cha mẹ già gần đất xa trời, người ta đã bất chấp sự sống chết hiểm nguy  chen chúc rượt đuổi dẫm đạp chồng chất lên nhau trên chuyến tàu sinh tử, chật chội hôi thúi đến tận cùng ngôn ngữ, và hậu quả của những chuyến tàu đêm như thế đã cướp đi hơn bảy mươi sinh linh, trở thành cô hồn dã quỉ lang thang không chốn quay về, bảy mươi người vĩnh viễn nằm lại bên đường cầu thực, không ai có giấy tờ tùy thân, bảy mươi nấm mộ hoang hiu hắt mọc lên sau vụ tai nạn khủng khiếp lật tàu năm đó, ở địa phận Dầu Giây- Long Khánh. Nước mắt lăn dài theo từng con chữ, rờn rợn nỗi đớn đau của một thời xa ngái. Chữ TÌNH trong Miền Nam xưa ngái còn đọng lại rất đậm sâu trên từng mảnh đời nghiệt ngã trong xóm me Mỹ, những người đàn bà nghèo khó bạc phận vì đủ mọi lý do để trở thành nô lệ đa phương diện cho người Mỹ, đánh đổi nhân phẩm để có cuộc sống không phải của con người đúng nghĩa. Chữ TÌNH yêu thương đùm bọc những mảnh đời bất hạnh trong thân phận những đứa con lai, chúng mãi mãi không biết cha mình là ai, mãi mãi là những đứa trẻ vô thừa nhận, suốt đời trong số kiếp cù bơ cù bất, kể cả khi chúng đang ở ngay chính quê cha (nước Mỹ). Chữ Tình của một quê ngoại rách bươm nghèo khó nhưng đủ tình thương và lòng bao dung hiển hiện đẹp đẽ trong diện mạo của Miền Nam xưa ngái.

Nhà văn Thu Trân đã làm được cái điều mà người cầm viết nào cũng đều mong muốn, đã chạm đến cung bậc cảm xúc của người đọc, chuyển tải những điều muốn gửi gắm chia sẻ đến được trái tim người đọc…

Nguồn Văn nghệ số 36+37/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm