TIN TỨC

Bi kịch và lẽ sống

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-27 14:23:40
mail facebook google pos stwis
2584 lượt xem

Nguyễn Văn Luyện

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Chắc hẳn, sân khấu kịch hiện đại Việt Nam sẽ để lại một khoảng trống lớn nếu vắng bóng kịch của Lưu Quang Vũ. Hiếm có một kịch gia nào ở nước ta số lượng vở diễn trên các sân khấu lớn trong và ngoài nước nhiều như nhà viết kịch họ Lưu. Trong số đó, người đọc thích thú bậc nhất với vở kịch hấp dẫn “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Sự kì tài của người viết trong vở kịch này là bắt nguồn từ cốt truyện giản dị trong văn học dân gian, tác giả thổi vào tác phẩm hơi thở nóng hổi của cuộc sống đương đại từ đó gửi gắm chiều sâu triết lí nhân sinh có giá trị muôn đời.


Nhà soạn kịch, nhà thơ, nhà văn – Lưu Quang Vũ.

Bi kịch nhói đau

Trước khi đến với kịch, Lưu Quang Vũ đã “đắm đuối” cùng thơ với nguồn cảm hứng bất tận về tiếng Việt, về đất nước quê hương và cả những xúc cảm thầm kín về tình yêu. Nhưng tên tuổi của ông thực sự rạng danh khi tỏa sáng với sân khấu kịch. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một vở kịch gồm bảy hồi, được chuyển thể từ một câu chuyện dân gian. Trương Ba vốn là một người làm vườn hiền từ, lương thiện, có học thức và rất giỏi đánh cờ. Ông được mọi người nể trọng, con cháu hết mực kính yêu. Ấy thế mà, Trương Ba bỗng nhiên chết oan do sự vô tâm tắc trách của Nam Tào trên thiên đình. Để sửa sai, Đế Thích đã cho hồn Trương Ba sống lại bằng cách nhập vào xác anh hàng thịt vừa mới chết ở gần nhà. Từ đó, việc sống nhờ, sống gửi vào thân xác anh hàng thịt đã đẩy Hồn Trương Ba vào những tình huống oái oăm, dở khóc, dở cười. Cuối cùng, không chấp nhận cảnh ngộ ấy, hồn Trương Ba chấp nhận cái chết vĩnh viễn, trả lại xác cho anh hàng thịt. Đó là một hành trình gian khổ để được là chính mình và sống trong trái tim yêu thương của mọi người.

Xung đột chính của vở kịch là cuộc tranh đấu quyết liệt giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt, giữa cái thanh cao, với cái phàm tục tầm thường. Đoạn đối thoại gay cấn, căng thẳng giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt giúp người đọc cảm nhận được xung đột căng như dây đàn và cả bi kịch tha hóa đầy đau xót. Ở đó, Hồn đưa ra đủ lí lẽ để khẳng định sự cao khiết của mình: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”. Xác thịt không có tiếng nói, không có tư tưởng, cảm xúc, chỉ là xác thịt âm u đui mù, chỉ là cái vỏ bề ngoài. Trái với lí lẽ kia, xác một mực khẳng định, ông không tách khỏi tôi được đâu, dù tôi là thân xác, “hai ta đã hòa với nhau làm một rồi”, “ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi”. Hàng loạt chứng cớ xác hàng thịt đưa ra biện minh có phần ti tiện nhưng đó vẫn là sự thật. Bởi thế, càng về cuối, dung lượng lời thoại của xác càng dài, lời thoại của hồn càng ngắn, thậm chí chỉ là lời than thở tuyệt vọng. Trái lại, xác hàng thịt dương dương tự đắc thậm chí đưa ra lời lẽ diễu cợt bởi sự lấn át, thắng thế. Hồn đau khổ, bế tắc, tuyệt vọng bởi chẳng thể nào cưỡng lại được hoàn cảnh trớ trêu. Lời xác biện hộ không sai, thế nên hồn càng dằn vặt khổ đau vì không còn là chính mình, phải quy phục sự sai khiến của xác. Ông Trương Ba ngày xưa thánh thiện, tao nhã giờ đây khi trú nhờ xác hàng thịt trở nên phàm tục, thô lỗ quá. Tham ăn, nói to, thậm chí dung tục, tầm thường, nhiễm không ít thói hư tật xấu. Sau lớp đối thoại Hồn – xác, người viết nhắn gửi triết lí nhân sinh sâu sắc. Dù muốn hay không, khi phải sống giữa cái xấu, chắc chắn người ta sẽ bị nhiễm, thậm chí bị nó lấn át, sai khiến, tha hóa chẳng còn được sống là chính mình. “Gần mực thì đen”, làm sao mà tránh khỏi. Bi kịch đau nhói của Hồn Trương Ba khi sống nhờ thân xác hàng thịt là sự chán chường, tuyệt vọng, bết tắc tột cùng, bị tha hóa đánh mất bản chất tốt đẹp, chịu sự ràng buộc, sai khiến của thân xác hàng thịt. Trên sân khấu, hồn trong bóng dáng lờ mờ của ông Trương Ba bần thần nhập vào xác đã chưng tỏ một sự thật, hồn không thể tách rời khỏi sự lệ thuộc vào xác, thế nên nỗi dằn vặt đau khổ càng ghê gớm hơn.

Chìm trong bế tắc, đau khổ, dằn vặt, Hồn lại dằn vặt, đau khổ hơn khi nhận thấy sự thật xót xa. Ông Trương Ba không còn là ông Trương Ba ngày nào: vợ yêu mến, con kính trọng, cháu quý yêu. Giờ đây, Hồn Trương Ba xa lạ trong mắt người thân. Hãy dõi theo câu nói của người vợ 30 năm trời gắn bó để thấu tỏ tình cảnh trớ trêu của Hồn Trương Ba: “Tôi biết ông vốn là người hết lòng yêu thương vợ con… chỉ tại bây giờ… Ông đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”. Một câu nói đau xót, đẫm nước mắt, hàm chứa một chút ghen tuông, giận dỗi, bế tắc của người vợ. Thậm chí, bà còn có ý định bỏ đi, đi đâu cũng được, đi “để ông thảnh thơi với cô vợ người hàng thịt”. Cái Gái, đứa cháu yêu quý, hiểu ông nhất nhà một mực chối bỏ, không nhận ông nội: “Tôi không phải là cháu ông”. Thận chí xua đuổi thẳng thừng: “Cút đi lão đồ tể”. Lời con trẻ ngây thơ, thẳng thắn như vết cứa làm Hồn Trương Ba càng nhói đau hơn. Cô con dâu thương cảm nhưng cảm thấy xa lạ bởi thầy đã đổi khác, làm thế nào để giữ lại thầy của chúng con xưa kia. Đau xót quá!

Vậy là sống gửi, sống nhờ thân xác anh hàng thịt Hồn Trương Ba không chỉ phải gánh chịu biết bao phiền toái mà còn gây ra bao đau khổ cho người thân. Và dường như, người thân đau khổ thì sự dằn vặt khổ đau của Hồn Trương Ba càng nhân lên gấp bội. Đúng là, sống mà còn khổ hơn chết. Những câu độc thoại nội tâm: “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ…” càng khơi sâu thêm bi kịch đau khổ tột cùng ấy. Làm thế nào để không phải sống hồn nọ xác kia? Làm thế nào để thiên lương lành vững như xưa?

Lựa chọn can đảm

Dõi theo diễn biến của hồi kịch, dường như tôi cứ ám ảnh mãi với lời độc thoại trong tâm trạng tuyệt vọng đau khổ này của Hồn Trương Ba: “Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?”. Trong đời sống, khi bị dồn vào chân tường, kẻ bản lĩnh nhân cách sẽ tung hê mọi thứ cố cứu lấy thiên lương. Hồn Trương Ba cũng đang trong cảnh ngộ ấy, và có một lựa chọn dứt khoát, can đảm, đứng dậy, lập cập nhưng quả quyết, đến bên cột nhà, châm lửa, thắp hương gọi Đế Thích xuống, không phải để đánh cờ, mà để chấp nhận cái chết, trả lại xác cho anh hàng thịt. Quả là, không có hoàn cảnh nào tuyệt vọng, chỉ có người tuyệt vọng vì hoàn cảnh. Trong truyệt vọng ấy, Hồn Trương Ba vẫn tìm được một lối thoát. Chết để được sống!

Đoạn đối thoại Hồn Trương Ba – Đế thích có nhiều lời thoại mang tầng sâu ý nghĩa. Hãy lắng nghe lời nói này: “Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được”. Lời thoại giản dị mà ẩn chứa một cách lựa chọn can đảm, không chút do dự. Tại sao? Bởi lẽ, hồn đã thấm thía sự “tréo ngeo” khi phải sống “hồn nọ xác kia”. Đó là sự lựa chọn của nhận thức và cả tình cảm, không còn cách nào khác. Mang thân thể ấy làm chi để phải chịu phiền toái, khổ sở, dằn vặt. Đến câu thoại tiếp theo, người ta hiểu thấu hơn một khát vọng quý giá: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Đó là sự thật. Làm sao hồn ông Trương Ba, trong sạch, cao khiết chịu sự khuất phục bởi xác anh hàng thịt dung tục, tầm thường. Vậy nên, hồn thẳng thắn bày tỏ khát vọng, “được là tôi toàn vẹn”, nghĩa là được sống tự nhiên giữa thể xác và tâm hồn, được là chính mình, không phản sống nhờ, sống gửi vào ai cả. Và cuối cùng, để được là chính mình, hồn Trương Ba khước từ mọi cách sắp đặt của Đế Thích. Không nhập vào xác cu Tị, cũng không nhập vào cả Đế Thích. Hồn chấp nhận cái chết, trả lại xác cho anh hàng thịt. Đó là lựa chọn can đảm nhằm bảo vệ cốt cách tâm hồn thanh cao thánh thiện của ông Trương Ba ngày nào.

Theo dõi lớp thoại hồn Trương Ba với Đế Thích, có một điều đặc biệt là hồn luôn trong thế chủ động bày tỏ ý muốn nguyện vọng bản thân. Khác với khi đối thoại với xác, hồn luôn trong cảnh bị động, thất thế. Vậy là khát vọng được sống là chính mình tạo nên một nguồn sức mạnh giúp hồn có một chọn lựa đáng quý, đáng trọng vô cùng. “Cái chết không phải mất mát lớn nhất, mất mát lớn nhất là để tâm hồn tàn lụi khi còn sống”. Hồn Trương Ba đã có một lựa chọn dứt khoát, dũng cảm để cứu tâm hồn nhân cách của mình không hoen ố vì sự dung tục, tầm thường. Thật đáng trân trọng và yêu quý!

Lẽ sống đích thực

Một lần, xem lại vở kịch do đạo diễn Trọng Dũng dàn dựng trên Youtobe. Tôi băn khoăn mãi bởi phần kết không giống kịch của Lưu Quang Vũ. Trong vở diễn đó, sau khi hồn Trương Ba trả lại xác, anh hàng thịt sống lại buông ra những lời thô lỗ, quát chửi vợ con, lăm lăm cầm chai rượu ngửa cổ uống. Cô vợ thốt lên một lời bế tắc: không! Không! Đạo diễn sân khấu thay đổi như vậy, tôi thấy tiêng tiếc.

Trong văn bản kịch của Lưu Quang Vũ, đoạn kết mới thú vị và chứa ẩn chất thơ ngọt ngào mang đến bao cảm xúc cho người xem. Hồn Trương Ba chợp chờn trong mà xanh cây là trò chuyện cùng người thân: “Tôi đây bà ạ! Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc thềm của nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà giẫy cỏ…không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây mà cái Gái nâng niu..”.Trước đó, khi sống nhờ xác hàng thịt, hồn Trương Ba sống mà như chết, còn khi trả lại xác hàng thịt, hồn chết mà lại đang sống. Sống theo đúng nghĩa, đó là sống trong suy nghĩ, tình cảm, nỗi nhớ niềm thương của người khác. Tuyệt thật! Còn gì khổ hơn khi sống mà như chết, còn gì quý hơn khi chết mà vẫn sống. Sống trong tình yêu thương, quý trọng của người thân yêu.

Vậy đấy, sống trên đời đã là quý giá, nhưng sống trong trái tim người khác còn quý giá hơn. Trước cách mạng, nhà văn Nam Cao đã từng day dứt với kiếp “Sống mòn”, “Đời thừa”. May sao, ông Trương Ba không còn rơi vào bi kịch ấy sau khi trả lại thân xác cho anh hàng thịt. Thế đấy, sống chân thật đúng là mình quan trọng lắm. Lẽ sống ấy không chỉ vì bản thân mà còn vì hạnh phúc, niềm vui của những người xung quanh. Và khi đó, thân xác ông Trương Ba sẽ tan rữa theo bùn đất nhưng nhân cách tâm hồn ông sẽ đọng mãi trong trái trim yêu thương của những người thân yêu.

Đọc vở kịch, người ta thán phục tài năng của Lưu Quang Vũ. Cái kết của truyện cổ dân gian lại là sự mở đầu cho kịch hiện đại. Từ đó, tác giả xoay quanh mối xung đột quyết liệt giữa hồn và xác. Càng về cuối, xung đột càng căng thẳng, tạo sự kịch tính, hồi hộp cho người đọc. Cao trào được đẩy lên cao ở cảnh 7, bi kịch của hồn Trương Ba đạt đỉnh khi lâm vào cảnh trớ trêu, xác lấn át, người thân xa lánh. Thế là nỗi đau khổ tuyệt vọng đến đỉnh điểm. Từ đó, hành động đốt hương gọi Đế Thích mở ra nút thắt. Hồn Trương Ba chết để được sống. Ngôn ngữ kịch của Lưu Quang Vũ cũng rất đặc sắc, giản dị đời thường mà giàu tính triết lí.

Được viết cách đây gần bốn chục năm, vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ vẫn mang tính thời sự sâu sắc. Thông điệp sâu sắc tác giả gửi gắm vẫn còn làm day dứt những người chân chính. Sống trên đời là điều quý giá, nhưng sống là chính mình, sống trọn vẹn với những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn. Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Con người phải can đảm đấu tranh chống lại nghịch cảnh, chống lại sự dung tục, tầm thường để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý. Tiếc rằng, trong xã hội hiện nay, không ít kẻ chưa làm được điều đó. Bên ngoài họ một đường, bên trong lại muôn nẻo. Bởi vậy, vở kịch của “Ngòi bút vàng của sân khấu Việt Nam” sẽ luôn giữ vai trò lay tỉnh lương tri con người giữa bộn bề cuộc sống hôm nay…

N.V.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm