TIN TỨC

Mỹ cảm hoài niệm trong thơ Hoàng Thân | Bài của Trần Hoài Anh

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-04-01 07:52:57
mail facebook google pos stwis
2802 lượt xem

                       

       1. Để trả lời câu hỏi: Thơ là gì? Alfred De Vigny, một thi sĩ tài danh của nước Pháp, thế kỷ XIX đã xác quyết: “Thơ là sự Đẹp tuyệt trần của sự vật, và sự chiêm ngưỡng Đẹp ấy trong lý tưởng”. (1) Quan niệm của Alfred De Vigny về cái đẹp trong thơ đã cho thấy một trong những yếu tính của thơ là hướng đến cái đẹp và sáng tạo nên cái đẹp.

Cái đẹp đó chính là sự kết tinh từ những mỹ cảm, những rung động của thi nhân trước cuộc sống và con người. Không có điều kiện tiên quyết nầy sẽ không có thơ ca đúng nghĩa. Bởi, nếu không có sự rung động trước cái đẹp, nhà thơ sẽ không thể nào có thi hứng để hình thành những dự phóng sáng tạo. Chiêm ngưỡng “cái đẹp trong lý tưởng” sẽ tạo nên những mỹ cảm thi ca, một phẩm tính thể hiện năng lực sáng tạo của nhà thơ. Đây cũng là điều người đọc có thể tri nhận khi đến với hành trình sáng tạo thơ của Hoàng Thân. Và một trong những điều làm nên cái đẹp trong thơ Hoàng Thân đó là sự kết tinh từ những mỹ cảm hoài niệm mang tâm thức hiện sinh mà anh đã trải nghiệm qua những tháng năm hiện hữu của đời mình, trong tư cách của một nhà khoa học làm thơ (hiện anh là Bác sĩ CKII tim mạch, đang hằng ngày cứu sống sinh mệnh biết bao người bệnh). Vì vậy, không phải ngẫu nhiên từ tập thơ đầu tay Nguyên màu thời gian (Nxb. Hội Nhà văn, 2016) đến các tập thơ sau nầy như: Miên khúc (Nxb. Hội Nhà văn, 2018), Dòng lữ thứ (Nxb. Hội Nhà văn, 2019), Trầm tích (Nxb. Hội Nhà văn, 2020) đều mang một nỗi ám ảnh khôn nguôi về những hoài niệm, mà ở đó những nuối tiếc, những nhớ thương dĩ vãng luôn hiện hữu trong tâm hồn thi nhân để làm nên những “trầm tích” thơ như một “dấu lặng” riêng mang mà những câu thơ đầy mỹ cảm hoài niệm hiện hữu trong thơ Hoàng Thân là một minh chứng: “Nuối gì qua mấy bão giông/ Mấy mùa nước lũ lòng sông vẫn hoài/ Thời gian nào thể ngược xoay/ Đành trầm tích lại tháng ngày riêng mang” (Trầm tích)

     Đi vào thi giới Hoàng Thân là đi vào khám phá những mỹ cảm hoài niệm kết tinh từ tâm thức hiện sinh như một vẻ đẹp của thơ Hoàng Thân trong hành trình sống của mình như anh đã dự cảm: “Lãng du giữa chốn trần gian / Bao nhiêu danh vọng bấy làn phù du” (Lãng du).

    2. Trong cõi đời đầy những bất an và bất toàn này, không có cái gì là vĩnh cửu, bởi ngay cả sự hiện hữu của của xác thân con người cũng là kiếp phù du, trong lẽ biến dịch vô thường mà Mãn Giác Thiền sư đã suy niệm: “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô/ Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô/ Nhậm vận thịnh suy vô bố úy/ Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”. Song, có một điều không dễ mất, thậm chí luôn làm cho ta trở trăn, day dứt với nó như một sự ám ảnh của vô thức và tâm linh trong hành trình sống, đó chính là hoài niệm. Hoài niệm không chỉ đơn thuần là chuyện của quá khứ, của những gì đã qua như lâu nay ta thường nghĩ mà nó luôn hiện hữu trong tâm cảm con người qua từng “sát na” của cuộc sống giữa chốn nhân sinh. Vì thế, khi ta bắt gặp ở đâu đó một khoảnh khắc, một khung cảnh gắn với những “ảnh hình” mình đã từng sống, gặp gỡ, yêu thương thì “ảnh hình” đó lại hiện về nguyên vẹn trong tâm tưởng. Bởi, theo cảm quan của tư duy triết học “hiện tượng luận”, sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan chỉ hiện hữu khi ta nghĩ đến/ về nó, còn nếu ta không chủ ý nghĩ đến nó, thì nó không bao giờ hiện hữu trong ta. Điều này ta cũng tìm thấy trong thơ Hoàng Thân qua những mỹ cảm hoài niệm luôn ám ảnh trong tâm cảm thi nhân : “Giọt hoài niệm rót đầy ly nhung nhớ/ Duyên tơ hồng còn nợ chén quỳnh tương” (Lời trần tình). Thế nên hoài niệm đã trở thành một không – thời gian tâm tưởng có sức ám gợi mỗi con người như thi nhân đã chia sẻ: “Con thuyền chở một người viễn xứ/ Chở cả lòng lữ thứ về em/ Những con sóng lăn về quá khứ/ Biển dập dềnh nỗi nhớ xanh rêu” (Giữa đôi bờ). Rồi, nhà thơ tự vấn một cách thành thực khi đứng trước những chọn lựa hiện sinh: “Ta đứng giữa đôi bờ nỗi nhớ/ Lằn ranh nào ngăn cuộc bể dâu/ Con thuyền nhỏ tròng trành những sóng/ Lòng hỏi lòng biết ngã về đâu” (Giữa đôi bờ). Và, đây là nguồn thi hứng thường trực trong thơ Hoàng Thân. Hoài niệm ấy như một dòng sông tâm tưởng trôi trong tâm thức thi nhân mà điều dễ nhận thấy trước tiên trong thơ Hoàng Thân là nỗi nhớ về dòng sông quê gắn với bao kỷ niệm tuổi thơ: “Có một dòng sông quê/ chảy trong từng nỗi nhớ/ Có cuộc tình dang dở/ Trôi lặng giữa đôi bờ/ Xưa một thời tuổi thơ/ Tắm đời ta nước mát/ Dòng sông xanh dào dạt/ Soi bóng lũy tre làng”. (Dòng sông quê). Chính những kỷ niệm sâu sắc nầy đã kết tinh thành nỗi nhớ quê tha thiết, mặn nồng, nên dù “lang thang” trên mọi nẻo đường đời, thi nhân vẫn mang theo  nỗi chờ mong, thương nhớ hình ảnh sông quê: “Sông quê từ đấy hoài mong/ Quan sang giục giã ruổi rong đường đời/ Dòng xưa bến cũ bời bời/ Yêu thương vẫn chảy bên lời hẹn xưa” (Vệ Giang); Tình cảm ấy không bao giờ là xưa cũ mà nó luôn hiện hữu trong tâm thức thi nhân: “Dòng trôi còn đọng bóng dừa/ Sông xưa thương nhớ như vừa đấy thôi” (Sông xưa) Và sông quê không chỉ là dòng sông mà chính là hình ảnh quê hương với cảnh vật, con người mà thi nhân đã từng gắn bó, yêu thương : “Biết là sông luôn đôi bờ, hai lối / Buổi sóng nhiều, thuyền phải vội sang ngang/ Gió có về rồi gió lại đi hoang/ Bờ lau cũ thêm võ vàng hiu hắt (…) Chuông Thiên Ấn nao lòng xô sắp ngã/ Chặng đường qua trăng có lạ khuya về/ Bến Tam Thương nước còn mãi vân vê/ Bờ lau cũ giữa bộn bề nỗi nhớ.” (Bờ lau cũ). Bởi, theo nhạc sĩ Hoàng Hiệp: “Trong tim ai cũng có một dòng sông riêng mình/ Tim tôi luôn gắn bó với dòng sông tuổi thơ/ Con sông tôi tắm mát/ Con sông tôi đã hát/ Con sông cho tôi đậm một tình yêu nước non quê nhà”. (Trở về dòng sông). Những mỹ cảm hoài niệm về hình ảnh dòng sông còn hiện hữu trong nhiều bài thơ của Hoàng Thân như “Dòng xưa đò cũ” “Sông xưa” “Với dòng sông Trà”; “Mưa bên bến sông” (tập thơ Miên khúc); “Sông nguyện”; “Sông Tương” “Lòng sông” (tập thơ Dòng Lữ thứ); “Sông Trà mùa cỏ lau”; “Sông trăng” (tập thơ Trầm tích) . Và có thể nói, hình ảnh dòng sông đã trở thành một tín hiệu thẫm mỹ hiện sinh trong thơ Hoàng Thân luôn đong đầy hoài niệm với hành trình sống của thi nhân mà những hoài niệm nầy có sức sống mãnh liệt trong tâm hồn thi nhân và tạo nên những mỹ cảm mang tính dự phóng trong thơ.

   3. Song, những mỹ cảm hoài niệm trong thơ Hoàng Thân không chỉ gắn với hình ảnh  sông quê mà chính dòng sông là chiếc cầu nối trong tâm thức anh, đưa anh trở về với những hoài niệm tuổi thơ trong trắng, hồn nhiên, không nhuốm màu ưu lo, muộn phiền mà khi đã trở thành dĩ vãng, không ai, không khỏi tiếc nuối. Ta hãy lắng lòng nghe nhà thơ chia sẻ về những hoài niệm tuổi thơ của đời mình: “Trưa hè kẻo kẹt bờ tre/ Xa xa vọng lại tiếng ve ngân buồn/ ru lòng về tuổi thơ nguồn/ Lưng trâu đuổi bướm bắt chuồn chuồn bay (…) Tuổi thơ mát những bóng dừa/ Mát từng lóng mía ngọt vừa cho nhau” (Tuổi thơ).  Có lẽ, gắn liền với dòng sông quê, cùng những hoài niệm tuổi thơ là hình ảnh người mẹ qua những bài thơ: “Tình mẹ”, “Lòng mẹ”.  Và đây là những hoài niệm có sức ám ảnh nhất trong thơ Hoàng Thân đã kết tinh thành nỗi nhớ khôn nguôi vừa cụ thể lại vừa khái quát về những hy sinh của Người Mẹ trong cuộc đời: “Mẹ tôi kiệm tiếng thưa lời/ Câu ca dao khẽ ru hời vừa nghe/ Lưng còng lặng lẽ chõng tre/ Chiều đông trông nắng, trưa hè đợi mưa” (Tình mẹ). Đó là sự hy sinh của bao bà mẹ Việt Nam chịu thương chịu khó và khi lưng mẹ càng “còng” thì con càng lớn khôn hơn: “Sương chiều đọng tiếng chuông ngân/ Bâng khuâng bóng mẹ tảo tần sớm hôm” (Tuổi thơ). Đó còn là hình ảnh người chị qua bài thơ “Tiễn chị”, trong đó có những câu thơ đầy xúc cảm mà khi đọc lên ta không khỏi thấy nhói lòng: “Bến chiều/ Rơi một cánh hoa/ Thế là chị đã đi xa/ cuối trời/ Tâm can bỗng chốc rụng rời/ Mây buồn đứng lặng, đất trời xót xa/ Ngày buồn/ Tiễn chị đi xa/ Mắt rươm rướm lệ/ Cả nhà chơ vơ/ Còn đây mấy đứa em thơ/ Lớn rồi vẫn cứ dại khờ/ Chị ơi (…) Buồng cau ôm trái bồi hồi/ Nhớ thương tàu lá, mồ côi bên đời” (Tiễn Chị). Nhưng có lẽ bài thơ kết tinh nỗi nhớ đong đầy những hoài niệm về Mẹ, về Chị trong thơ Hoàng Thân làm thổn thức tâm cảm người đọc đó là bài thơ “Bửa cơm quê”, trong đó, có nhiều câu thơ ẩn chứa những mỹ cảm hoài niệm buồn đến “nghẹn lòng” về tình cảm mẹ con, chị em, một nét văn hóa đẹp trong gia đình truyền thống Việt Nan đang có nguy cơ mất dần trong đời sống gia đình hiện đại. Tôi quý những câu thơ lục bát giản dị chân mộc nhưng chứa một sức nặng tình cảm vô bờ: “Giản đơn soạn bửa chiều nay/ Hai người, ba chén, mẹ bày mâm cơm/ Đồng ngoài đã cuốn rạ rơm/ Chị ơi về nhé! Thảo thơm cùng Người/ Dẫu rằng vắng chị bên đời/ Nơi quê, lòng mẹ vẫn cơi thật đầy/ Chị ơi! Hãy mượn thuyền mây/ Mau về bên mẹ kẻo gầy thân sương/ Còn đây trong cõi vô thường/ Tóc mây bạc trắng vì thương chị à/ Bửa cơm quê thật đậm đà/ Cá đồng, cơm mắm, dưa cà với nhau”. (Bữa cơm quê)

      4. Một điều không thể không nói đến khi khám phá những mỹ cảm hoài niệm trong hành trình sáng tạo thơ Hoàng Thân, đó là, bên cạnh những hoài niệm về dòng sông, về quê hương, về tuổi thơ về gia đình với hình ảnh Mẹ và Chị, còn có những hoài niệm về tình yêu học trò đầy mộng mơ và thánh thiện mà ai đã từng đi qua cái tuổi “ngọc ngà” ấy lại có thể lãng quên. Đó là các thi phẩm: “Nắng tháng năm”; “Mưa tháng sáu”; “Phượng vàng”; “Áo trắng trường xưa”; “Khúc tình thơ”, trong đó, có những câu thơ hay đến nao lòng, bởi khi đọc lên, chúng ta sẽ tìm thấy tâm cảm mình trong đó: “Chiều vơi/ Vơi cánh hoa vàng/ Gió liêu xiêu cuộn ngỡ ngàng phượng rơi/ Cuối ngày hạ, nắng hanh phơi/ Hư hao mấy sợi tơ trời vàng phai/ Ngập ngừng / Bóng đổ dấu hài/ Hạ đi/ Phượng cũng một mai sắc màu/ Kể từ độ ấy nhớ nhau/ Sầu hun hút bóng lòng đau đáu chờ” (Phượng vàng). Nhưng tình yêu thánh thiện và tinh khôi của tuổi học trò rồi cũng qua đi như một “ánh chớp” trong hành trình sống của con người giữa vũ trụ nhân sinh, để rồi trong những bước chân lữ thứ của kẻ “lãng du” mà Hoàng Thân đã tự thú: “Lãng du giữa một phận đời/ Nắng mưa trút xuống bời bời niềm đong/ Sông dù lúc đục lúc trong/ Đêm ngày vẫn chảy một dòng về xuôi” (Lãng du), chúng ta không thể nào nguôi nhớ, mỗi khi ký ức vọng về thì hoài niệm trỗi dậy trong ta. Tuy nhiên, giữa dòng chảy “trong, đục” của cuộc đời, thi nhân cũng đã “trôi” trong biển tình mênh mông với nhiều kỷ niệm vui, buồn nhưng không phải là những kỷ niệm ngây thơ của tình yêu học trò “khờ dại” thuở nào mà còn có cả những “được mất” đến đớn đau trong cõi “ta bà”. Vì vậy, nếu “Phượng vàng” là những hoài niệm về tình yêu đầu đời “thánh thiện” đến “trong ngần” thì bài thơ “Phía sau kỷ niệm” là hồi ức về những hoài niệm của một tình yêu đã đi vào biển đời “mưa gió” ở chốn “tình trường”, để đón nhận những mất mát, thương đau, vỡ tan như một tất yếu sẽ đến trong tình yêu: “Nhiều, nhiều lắm, phía sau từng kỷ niệm/ Vết thương lòng chằng chịt quấn tim đau/ Hồn trĩu nặng níu chân về quá khứ/ Buổi yêu thương vụng dại thuở ban đầu” (Phía sau kỷ niệm). Và, từ đây thi nhân đã sống trong một bầu khí quyển mới của tình yêu mà khí hậu của nó không chỉ có những ngày xuân ấm áp mà còn có cả ngững ngày thu úa tàn và mùa đông lạnh giá. Rồi điều gì đến, tất phải đến, thi nhân chấp nhận điều ấy như một định mệnh của tình yêu mà nỗi cô đơn trong phận đời còn lại của mỗi người cũng là những hoài niệm khó quên: “Ta cạn nốt chung rượu nầy em nhé/ Mai xa rồi cánh nhạn sẽ cô đơn/ Biển vắng em sóng nặng những dỗi hờn/ Đêm ảo hoặc lạc loài nghe quá vãng” (Sau cuối). Nhưng tất cả hoài niệm nhớ nhung, rồi cũng chỉ là hoài niệm bởi lẽ, “Chiều nay con sáo chẳng về/ Ta thành cô lữ bên lề đời em” (Tương Tư) Cho nên: “Ta về nhặt nhạnh lời thương/ Góp gom kỷ niệm cho hường môi xa/ Ta về tìm lại chính ta/ Ngỡ quên lại nhớ, ngỡ xa lại gần” (Tương Tư). Và cảm thức “Ngỡ quên lại nhớ, ngỡ xa lại gần” trong thơ Hoàng Thân, gợi ta nhớ đến lời nhạc trong “Tình nhớ”, một trong những bản tình ca “bất tử” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Tình ngỡ đã phôi pha/ nhưng tình vẫn còn đầy/ Người ngỡ đã đi xa/ nhưng người vẫn quanh đây/ Những bước chân mềm mại/ đã đi vào đời người/ Như từng viên đá cuôị/ rớt vào lòng biển khơi”. Hay nỗi nhớ đầy ám gợi ở bài thơ “Hà Nội vắng em” của Tế Hanh “Phố này anh đến tìm em/ Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây/ Anh theo các phố đó đây/ Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em”… Và, có lẽ đây là mẫu số chung trong mỹ cảm hoài niệm về tình yêu mà người nghệ sĩ nào khi viết về tình yêu cũng phải chạm đến!?

    Có thể nói, mỹ cảm hoài niệm tình yêu trong thơ Hoàng Thân không chỉ có nỗi nhớ về hình ảnh cô nữ sinh thuở học trò đầy mộng mơ, hay cô thiếu nữ hiện đại chốn thị thành mà còn có dấu ấn “hương đồng gió nội” khó mờ phai của cô thôn nữ mà thi nhân hy vọng sẽ không bị mất đi trong bối cảnh đô thị hóa “xô bồ” đang “bức tử” dần những vẻ đẹp của hương thôn ngày nào. Ta hãy nghe thi nhân than thở thật xót xa: “Xin người một chút chân quê/ Hương chanh hương bưởi tóc thề hồn nhiên (…) Xin người một chút thật thà/ Yêu là chỉ để yêu… Và thế thôi” (Yêu là chỉ để yêu). Và trong trường cảm xúc nầy ta thấy có sự gặp gỡ giữa Hoàng Thân và Nguyễn Bính trong bài thơ Chân quê, khi Nguyễn Bính van nài: “Nói ra sợ mất lòng em/ Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa/ Như hôm em đi lễ chùa/ Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh/ Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê./ Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Có thể nói, “Tương Tư”; “Yêu là chỉ để yêu” là những bài thơ tình có thể “sống” được trong tâm cảm của những ai đã/ đang và sẽ yêu. Thế nên, dù đau, dù nhớ, dù xa xót, thi nhân vẫn cứ mãi tìm về những hoài niệm của tình yêu như một thứ “dưỡng khí” tinh thần để khơi “động niềm thơ”: “Kỷ niệm mình như mũi tên trên ngực/ Đã rất đau/ nhưng vẫn khát khao tìm/ Xưa hẫng nhịp/ nằm im trong hốc vắng/ Bỗng dưng về khua gót động niềm thơ” (Mũi tên trên ngực). Và nguồn sống trong cõi thơ Hoàng Thân, có lẽ cũng khởi lên từ những kỷ niệm ngọt ngào và đau thương ấy!?. Vì thế, mỹ cảm hoài niệm về những ký ức tình yêu của tuổi trẻ mãi mãi là dự phóng, tạo nên thi hứng vang vọng mãi trong tâm cảm thi nhân với những câu thơ đầy nỗi niềm: “Câu thơ yêu người đọng lại/ Chỉ là /khoảng lặng ngày xưa/ Đêm đêm / gối từng kỷ niệm/ Lắng nghe những mộng mơ thừa” (Chợt nhiên). Vì thế: “Nắng vàng đi không nói/ Bỏ lại con đường quen/ Cỏ hàng đêm câm nín/ Phố nhớ ai chong đèn” (Lời cỏ khát) và “Niềm vui / theo cuộn gió xa/ luyến hương ngày cũ/ theo tà áo bay/ Đã vàng lên khắp nỗi đau/ Sương khuya đậu lại bờ lau bời bời” (Phiến rêu). Không những thế, thi hứng này còn tạo nên nhiều thi phẩm với các dạng thức khác nhau về mỹ cảm hoài niệm của tình yêu trong thơ Hoàng Thân. Đó là bài thơ: “Hoài niệm tháng tư”, một sự đối thoại với chính mình : “Tháng tư đến tiếng tơ hường độc thoại/ Hoang hoải về gót nhỏ bước chông chênh/ Mùa gọi mùa bên nỗi nhớ không tên/ Miền hoài niệm có đau lòng lữ thứ” (Hoài niệm tháng tư); là “Gọi tên ký ức”, mở cánh của đi vào những hoài niệm tình yêu  dẫu lòng thi nhân muốn khép lại: “Em trở về gọi tên ký ức/ Nhớ nhung có tuổi lớn theo ngày/ Trăng nghiêng đã xuống hồ thu động/ Sương quyện lời đêm thao thiết say” (Gọi tên ký ức). Để rồi, trong sâu thẳm tâm hồn, thi nhân luôn cảm thấy: “Chênh chao ngày nắng gọi mưa/ Chênh chao hoài niệm như vừa vân vê” (Chênh chao) và chỉ còn biết: “Nhặt ký ức thắp tình đà xưa cũ/ Vực lòng đau thăm thẳm một linh hồn” (Điều đã tưởng), vì: “Người mang nắng vàng đi mãi/ Đông về vời vợi phương xa/ Lá xanh trên cành rám đỏ/ Chờ ai thuở nọ ngọc ngà” (Cây bàng lá đỏ).

     Ký ức hiện hữu trong tâm cảm thi nhân qua những hoài niệm giàu chất mỹ cảm nên trong thơ Hoàng Thân có rất nhiều bài thơ thể hiện cảm hứng nhớ về ngày xưa như: “Bên thềm cỏ xưa” mà sự nuối tiếc luôn là điều ám ảnh: “Bây giờ còn nuối hôm qua/ Câu thề đánh rớt mặm mà nào quên/ Mộng thêu ngược gió gập ghềnh/ Bờ đê lặng lẽ con kênh u hoài” (Bên thềm cỏ xưa); Hoặc “Con đường xưa” với những câu thơ đong đày nỗi nhớ: “Em còn nhớ con đường xưa không nhỉ/ Những lá chiều thủ thỉ đón hoàng hôn/ Hương bồ kết và mùi rơm rạ mới/ Đồng gặt xong đôi lứa thắm tâm hồn” (Con đường xưa) ; Hay “Biết là sẽ chẳng như mong/ Mà sao mắt lá sầu đong giãi giề/ Lòng trong xao xuyến bộn bề/ Người ơi xin hãy quay về chốn xưa” (Quay về chốn xưa), và một lời trách nhẹ nhàng nhưng thấm đẫm nỗi đau “Ta và em/ giữa bộn bề/ Giữa đời phố thị/ câu thề bỏ quên/ Như thuyền bỏ bến chênh vênh/ Bỏ ngày xưa / với/ chông chênh đường trần” (Câu thề bỏ quên), để rồi thi nhân chấp nhận một sự thật đắng chát: “Độc hành/ giữa thực giữa hư/ Thôi đành / cất lại cánh thư muộn màng” (Cánh thư muộn màng) vì: “Cuối đường lối rẽ thành hai/ Ngả đau bến mộng, ngả hoài hoài trông” (Mây chiều xuống phố). Và dẫu rằng thi nhân có “về bến cũ” thì người xưa cũng không còn, chỉ còn lại những hoài niệm đang “trầm tích” cùng năm tháng mà thôi: “Ta về bến cũ nào đâu thấy/ Hình bóng người em của một thời/ Hoa gạo rụng đầy trên lối nhỏ/ Biết đá rêu xanh có nhớ lời” (Bến cũ). Mặc dù vậy, thi nhân vẫn luôn nhớ về “người tình” thuở xưa với những vần thơ thấm đẫm yêu thương: “Này em mai mốt có về/ Bến xưa có lỡ câu thề chỏng chơ/ Vẫn còn ta, nửa bài thơ/ Có là lạc vận, vẫn chờ… trăng lên.” (Bài thơ lạc vận). Bởi: “Tàn phai vấp những thiết tha/ Bờ nhân sinh ấy còn ta đợi người” (Về đây). Phải chăng, những mỹ cảm hoài niệm trong thơ Hoàng Thân cũng bắt nguồn từ những cảm xúc đầy tính nhân bản đó nên thuyết phục được người đọc, nhất là những người yêu thơ.

    5. Nhà thơ Lê Đạt, một gương mặt tiêu biểu của thi ca Việt hiện đại, ông không chỉ là nhà thơ mà một còn là một nhà lý luận - phê bình về thơ, khi ông gọi người làm thơ là một “phu chữ” đã xác quyết: “Thơ là một cố gắng về mỹ học cũng là một cố gắng về đạo đức học” (2). Bởi, theo Lê Đạt: “Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy lên đường hướng thiện những vùng trời đẹp hơn, nhân tính hơn…” (3) Và điều này, ta có thể tìm thấy ở những mỹ cảm hoài niệm trong hành trình sáng tạo thơ của Hoàng Thân, như một biểu hiện của tâm thức hiện sinh. Có thể nói những mỹ cảm hoài niệm này là những đóa hoa đẹp kết tinh từ những kỷ niệm, những ký ức mà thi nhân đã nghiệm sinh trong cuộc đời khi “ngộ” ra: “Trong tình yêu chắp cánh/ Có hư vô đi về” (Trong). Bởi, trong cảm thức của thi nhân tình yêu cũng trôi trong cõi hư vô của chốn phù sinh “Có hay trong cõi phù sinh/ Thuyền tình bồng bềnh trôi dạt/ Có hay bên trời ngược gió/ Thu tàn lá rụng điêu linh” (Con thuyền mắc cạn). Phải chăng, điều làm nên giá trị nhân văn của mỹ cảm hoài niệm trong thơ Hoàng Thân đều trôi trong cảm thức vô thường, khi anh đã nhận ra chân giá trị của lẽ biến dịch ở đời, để từ đó sống bao dung hơn, vị tha hơn, nhân ái hơn trong cuộc đời như chính sứ mệnh mà Hoàng Thân đã chọn lựa: Thầy thuốc – Thi nhân…

                                              Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp, 8/10/2022

T.H.A

 

 

   Chú thích: 

* Thơ trích trong bài viết đều lấy trong các tập thơ đã xuất bản của Hoàng Thân.

  1. Đoàn Thêm, (trích dịch) Quan niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế, 1962, tr.21.
  2. Lê Đạt, Đường chữ, Nxb. Hội Nhà văn, H, 2009, tr.573.
  3. Lê Đạt, Đối thoại với thơ và đời, Nxb. Trẻ, 2008, tr.115.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm