TIN TỨC

Nguyễn Vỹ không muốn gánh kho vàng mơ mộng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-12-25 15:10:58
mail facebook google pos stwis
1080 lượt xem

Nhà thơ Nguyễn Vỹ (1912-1971) với tôi như một hiện tượng nóng bỏng tâm trạng thế sự. Ông là một nghệ sĩ cuối cùng luôn gieo vần khó ở chân câu.

Nhà thơ Nguyễn Vỹ tại Sài Gòn, năm 1965.

Bên cạnh những dòng thơ say đến chát chúa mang tên Nguyễn Vỹ tôi lại hình dung ông như một chiến binh hai tay hai súng cưỡi ngựa hí vang trời. Ông luôn hát bài ca của mình giữa cuộc đời đầy gai góc, đòi lại sự công bằng và tình yêu thương cho con người.

Ngạo nghễ bất chấp tù đày

Không mấy ai làm báo đến liều mạng như Nguyễn Vỹ. Ông lập báo riêng với những cái tên như Tổ Quốc, Dân Chủ, Dân Ta, Bông Lúa, Thằng Bờm trước mũi súng của thực dân Pháp và giặc Nhật. Ngay từ năm đầu lập báo Le Cygne (Bạch Nga) vào năm 1937, Nguyễn Vỹ đã bị chính quyền Pháp bắt và kết tội chỉ vì đã viết loạt bài phê phán đường lối cai trị của thực dân Pháp. Không những tờ báo vì cấm vĩnh viễn mà chủ bút Nguyễn Vỹ còn bị phạt 3.000 quan và 6 tháng tù giam.

Thân ở trong tù nhưng chí lớn vẫn chờ đợi và âm ỷ làm thơ: “Trăng với chó tự do ngoài sân ngục / Tôi bị giam sau bốn bức tường cao”. Hai năm sau chiến sự đất nước thay đổi khi Nhật đánh Pháp và chiếm đóng nước ta, Nguyễn Vỹ ròng rã đêm hôm viết luôn hai cuốn sách chống quân Nhật (1940). Hai phát súng của ông bắn chính diện vào giặc Nhật vang lên lời tuyên cáo: Kẻ thù là Nhật Bản và Cái họa Nhật Bản. Thế là Nguyễn Vỹ bị giặc Nhật bắt đi đày ở Trà Khê (Phú Yên – 1942). Thậm chí ông còn bị giam vào hầm kín. Phải nói là ông liều chết bởi giặc Nhật rất tàn ác.

Bị cầm tù nhưng ông vẫn kiên cường với những dòng thơ chửi rủa: “Thằng tôi chờ chết nằm co ró / Làm thơ âm thầm lấy vần – Chó / Bỗng một con chó Nhật vừa đi qua / Đứng ngoài song sắt trố mắt ngó”. Nguyễn Vỹ luôn tự giễu nhại ngay chính cuộc đời mình và chấp nhận tai họa ập đến. Trong thời gian này ông luôn đọc sách và nghĩ đến sự cách tân thơ trong sự hy vọng đổi mới. Vì thế Nguyễn Vỹ từng viết những câu thơ 12 chữ để diễn tả tình cảm trước nỗi đau đất nước: “Đến ngày này non sông đã phủ mấy lớp sương mù / Mà còn rên dưới rễ có những vết hận lòng lai láng”.

Mãi đến khi Cách mạng tháng 8.1945 thành công, chân ướt chân ráo vừa ra tù, Nguyễn Vỹ vào Sài Gòn lập ngay tờ báo Tổ Quốc. Nhưng với cá tính gân bướng và ý chí quật khởi, qua giọng văn chửi vỗ mặt chế độ thực dân của Nguyễn Vỹ, tờ báo ngay sau đó bị sập tiệm (Rút giấy phép). Nhưng đất đâu có chịu giời, ý chí bạt mạng của Nguyễn Vỹ đã mách bảo về một hành trình mới. Ông lên Đà Lạt (1948) xin chính quyền ra mắt tờ báo Dân Chủ.

Được cấp giấy phép thế là ông lại vung bút phê phán chế độ Bảo hoàng. Tất nhiên ngọn bút ông bị bẻ gẫy vì tội xúc phạm “Vua” và tờ báo bị rút giấy phép. Không chấp nhận, Nguyễn Vỹ phẫn chí trở lại Sài Gòn mấy năm sau lập luôn tờ nhật báo Dân Ta (1952). Ngỡ như cái tên Dân Ta có vẻ khiêm nhường nhưng vẫn xuất hiện những bài báo với giọng văn mỉa mai thâm nho trong con mắt nhìn soi mói chế độ thực dân. Kéo dài được một năm, Dân Ta bị tạm đình bản (1953). Thời thế xã hội kéo dài mười năm với bao sự đổi thay. Không ngờ báo Dân Ta được phục hồi (1963). Nhưng cái tật ngông ngạo và bới rác xã hội tỉ mỉ của Nguyễn Vỹ làm chính quyền ngày càng tỏ ra khó chịu. Hai năm sau tờ báo bị cấm hẳn.

Nhưng thực ra trong những khoảng trống năm tháng chờ phục hồi tờ báo Nguyễn Vỹ đã cho ra đời những tập san như Phổ Thông (chuyên đề về văn hóa nghệ thuật) và hai tuần báo Thằng Bờm và Bông Lúa. Riêng tờ Thằng Bờm chuyên viết cho trẻ con nên được bạn đọc ủng hộ nhiệt liệt. Bởi lẽ tờ báo có tính giáo dục cao và khích lệ tâm hồn con trẻ sống trong tình thân ái và yêu đất nước quê hương.

Phải nói cuộc chơi đầy mạo hiểm của Nguyễn Vỹ với báo chí không hề vơi cạn niềm say mê. Ông có lý tưởng đấu tranh và yêu nước nồng nàn. Chấp nhận mọi rủi ro trong sự nghiệp văn chương báo chí. Đặc biệt với sự sắc sảo và cao ngạo của Nguyễn Vỹ, thực dân đã từng mua chuộc mời ông làm cố vấn nhưng không thành.

Ngay cả khi được chính quyền thực dân trao giải thưởng văn chương cho tập tiểu thuyết của Nguyễn Vỹ với mức tiền 6.000 đồng (rất lớn) nhưng ông cũng từ chối nhận. Cho dù khi đó làm báo rất vất vả, cuộc sống đầy khó khăn nhưng ông không hạ mình. Ông cho đó là miếng ăn nhục khi được chính quyền thực dân ban cho. Ông cần mẫn sống và sáng tác trong sự nghèo đói và trong sạch.

Cuộc chơi với con chữ tượng hình

Riêng với thơ, Nguyễn Vỹ luôn miệt mài đổi mới với sự khát khao cháy bỏng. Không ít người cho ông là sự ồn ào gây náo loạn trong thi đàn tiền chiến khi cho ra đời cuốn Tập thơ đầu (Premières Poésies) bằng hai thứ tiếng Pháp-Việt (1934). Hầu như ai cũng biết ông là một tú tài văn chương với trình độ tiếng Pháp thượng thừa. Ông rời Quảng Ngãi ra Hà Nội học và có thực tài văn chương. Ấy vậy mà sự vận dụng và làm mới lạ thi ca Nguyễn Vỹ lại gây ra nhiều tranh cãi. Thậm chí nhà thơ Thế Lữ với bút danh Lê Ta đã từng viết bài mạt sát thơ ông.

Đến cả Hoài Thanh – Hoài Chân cũng mỉa mai rằng: “Nguyễn Vỹ đến giữa làng thơ với chiêng, trống, xập xoèng inh cả tai…” chỉ bởi Nguyễn Vỹ hô hào: “Ta hãy truyền một thi hứng mới cho thế kỷ hai mươi/ Ta hãy ký thác trong vần thơ những tình sâu ý hiểm” (thể loại thơ 12 chữ một câu do Nguyễn Vỹ nghĩ ra).

Nhưng rồi thú vị thay chính hai ông Hoài Thanh – Hoài Chân cũng đã phải công nhận tài thơ Nguyễn Vỹ khi khẳng định sau đó: Gửi Trương Tửu – mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ”. Các ông cho rằng bài thơ Gửi Trương Tửu của Nguyễn Vỹ đã thể hiện đúng mình khi làm thơ trong lúc say rượu. Rung động và chân thực. Tình cảm trở về với truyền thống và đã quên đi những hình thức sắp xếp những câu chữ thơ thành hình ảnh chim, cò, mưa, sương… như một bức vẽ.

Cuộc đời thi ca của Nguyễn Vỹ gói gọn chỉ trong bốn tập thơ. Với thể loại văn và báo thì ông “lướt ga” tới hàng chục cuốn nhưng với thơ thì lại rụt rè hơn. Có lẽ bởi ông bị choáng váng ngay từ dư luận “đánh cho dập mặt” của ngôi sao đầu bảng thơ mới là Thế Lữ. Nên mãi đến 18 năm sau Nguyễn Vỹ mới cho ra mắt tập thơ thứ hai Hoang vu (1962).

Và tám năm kế tiếp tập thơ Buồn muốn khóc (1970) cùng tập thơ trào phúng Thơ lên ruột phát hành trước khi ông mất vì tai nạn giao thông tại Sài Gòn (1971). Tuy vậy thơ Nguyễn Vỹ lại tỏ rõ thái độ sống tiếp cận sớm với hiện thực và thể hiện đúng với phẩm chất công dân thi ca.

Cùng thời mở đầu cho phong trào thơ mới, hầu như ai cũng mượn gió trăng, mây mưa trầm mình vào tình yêu và sự cầu kỳ loang lổ trong khổ đau thì Nguyễn Vỹ đã tìm đến sự sống trần ai cần lao: “Tôi không muốn gánh kho vàng thơ mộng / Đem chợ đời đổi lấy món cân đai / Đừng nhử tôi ngựa, xe, tán, võng, lọng / Ai công hầu khanh tướng mặc ai”.

Với bài Gửi Trương Tửu ông làm sống động thi đàn vào thập niên 40 với những câu thơ nảy lửa: “Bây giờ thời thế vẫn thấy khó / Nhà văn An Nam khổ như chó / Mỗi lần cầm bút viết văn chương / Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương”. Một nhân cách Quảng Ngãi bùng nổ trong thơ ông: “Bao giờ chúng mình gạch một chữ / Làm cho đảo điên pho Lịch sử? / Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa / Hất mồ nhỏm dậy cười say sưa”.

Tuy trong cơn say, thái độ công dân trong thi ca Nguyễn Vỹ vẫn trỗi dậy: “Để xem hai chàng trai quắc thước / Quét sạch quân thù trên đất nước? / Để cho toàn thể dân Việt Nam / Đều được tự do muôn muôn năm”. Sự bừng thức về dân tộc trong thơ Nguyễn Vỹ trong dòng thi ca tiền chiến trở thành duy nhất. Thơ ông tiệm cận với văn chương cách mạng khá sớm.

Vỹ thanh

Nguyễn Vỹ là một tính cách khác biệt độc đáo. Trong làng báo ông thật sự táo bạo với văn phong hoạt náo cùng tài kể chuyện hấp dẫn. Ông in tới 25 cuốn sách cả văn lẫn thơ. Tài năng ông nổi bật trong bộ tự truyện Tuấn, chàng trai nước Việt (2 tập-1970) và cuốn Văn Thi sĩ Tiền chiến (1970).

Điều thú vị khi ông không ít dịp đối đáp với các văn sĩ luôn thể hiện sự hóm hỉnh và dồi dào năng lượng. Có lần nhà thơ Tản Đà trách Nguyễn Vỹ: “Sao ông lại bảo Nhà văn An Nam khổ như chó? Ông so sánh nhà văn chúng ta với kiếp chó, mà ông không hổ thẹn à?”.

Ngay lập tức, cho dù bất ngờ, nhà thơ trẻ Nguyễn Vỹ trả lời: “Thưa cụ, nếu cháu so sánh nhà văn với chó, thì chó nó thẹn, chớ sao nhà văn lại thẹn?”. Ông Tản Đà làm thinh nốc hết ly rượu rồi rưng rưng nước mắt.

VƯƠNG TÂM

Báo An Ninh Thế Giới

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm