TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Mỗi bài thơ nhằm để “xác lập tôi”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-15 00:18:24
mail facebook google pos stwis
3041 lượt xem

Mỗi nghệ sĩ là một thế giới, một tự trị, nói theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, là một lãnh thổ độc lập và tự do, một nền độc lập của riêng mình. Theo đó, nhà thơ triển khai một ý khác, rằng chính vì thế mà tôi (cái tôi thi sĩ) là duy nhất tồn tại bình đẳng với những cái tôi khác…

Cũng nhân đó, tôi, người viết bài này muốn nói thêm một ý, rằng đến lượt người đọc, kể cả những người làm phê bình – kiểu người đọc chuyên nghiệp, mỗi khi đứng trước các tác phẩm thơ, dù là một câu/bài/tập thơ/tác giả thơ cũng đều tồn tại như một người đọc độc lập, khác biệt, duy nhất, bình đẳng với các cách đọc khác.

Nói thế, để thấy cùng kỳ lý, việc làm thơ, đọc hay phê bình thơ đều là công việc của sự sáng tạo, không thay thế, cô độc, vừa nhọc nhằn vừa mê đắm…

Lâu lâu rồi mới thấy nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có tập thơ mới mang tên Nhật ký người xem đồng hồ vừa ra mắt bạn đọc vào dịp đầu thu năm nay. Nếu tính thời gian, tập thơ này cách tập cuối cùng gần nhất Dưới ánh trăng và một bậc cửa (2020) cũng đã ngót 3 năm.

Tôi cho rằng, với ai không biết, riêng ở nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, người đọc không khó nhận ra một điều: Ngay từ tập thơ đầu tiên Sự mất ngủ của lửa (1992), rồi lần lượt 9 tập thơ sau đó, cho đến tập thơ này, Nguyễn Quang Thiều không chỉ xác lập tư cách thi sĩ vững chãi của mình mà còn kiên định tồn tại trong một tư thế LÀ MÌNH, để làm nên một cá tính thơ khác biệt, không lẫn.

Nguyễn Quang Thiều thi triển một không gian thi ca tràn ngập khí quyển làng Chùa, nơi ông được sinh ra, lớn lên, gắn bó, chịu ơn. Làng quê ấy, từ thực tại đi vào thơ của Nguyễn Quang Thiều trở thành một không gian nghệ thuật, hiểu theo nghĩa như một nỗi tha thiết thường trực, một hình ảnh tập trung, nhất quán, xuyên suốt và ám ảnh. Một nhà thơ nếu không tạo ra được một tiêu điểm nghệ thuật nào đó, rất dễ đưa lại cho người đọc cái cảm giác về một tổng thể thơ của họ hơi chênh vênh, luễnh loãng, không thấy có cái neo chắc chắn để con thuyền thi ca bám đậu. Nguyễn Quang Thiều vượt lên thử thách này. Thơ ông luôn khép mở đi về giữa làng Chùa và thiên hạ, rộng ra là thế giới, từ xa nhìn về làng và từ làng nhìn ra thế giới với bao nỗi nông sâu… Có được cái chân ngã căn bản này, cho dù nhà thơ đẩy thơ của mình đi xa đến đâu, nhiều khi rất xa vào chân trời cách tân nào đó vẫn thấy thân thuộc hồn cốt dân tộc.

Thơ Nguyễn Quang Thiều tràn ngập một hệ thống thi ảnh có sự hòa trộn đa đạng, biến hóa, bất ngờ giữa cái thực tại và cái huyền ảo, cái hữu lý và phi lý, cái hiện hữu và siêu thực. Kinh nghiệm thơ ca Việt Nam và thế giới đã được nhà thơ phát huy trong việc kiến tạo thế giới nghệ thuật của riêng mình. Hiển nhiên, nhà thơ nào khi làm thơ cũng băn khoăn về việc dụng chữ. Nhưng dụng chữ đến mức coi chữ là yếu tính thứ nhất, nghĩa là cái tùy thuộc, thậm chí không quan trọng như một số nhà thơ đàn anh Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng thực hành thì không phải là lựa chọn của Nguyễn Quang Thiều. Tôi cho rằng, thơ Nguyễn Quang Thiều chủ yếu dụng hình, thi hình, thi ảnh để hướng tới biểu nghĩa.

Thơ ông có một bảng thi hình, thi ảnh đa dạng, độc đáo, liên quan đến không gian như đám mây, bầu trời, dòng sông, bến nước, nghĩa địa, cánh đồng, con đường; liên quan đến loài vật: con cá, con chim, con bò, con chó, con giun, con chuột; liên quan đến thảo mộc: tàng cây, cành nhánh, bộ rễ, chiếc lá, bông hoa, chùm quả; liên quan đến đồ vật: mái nhà, chiếc đồng hồ, bình gốm, ấm pha trà, cây sáo trúc, tấm thảm, chiếc khăn, cái áo… Một thế giới hữu thể thậm phồn, phì đại, chồng chất, phối trộn hư hư thực thực những thi hình, thi ảnh của đất, của trời, của người, của ma, của xưa của nay, của làng quê và đô thị, của Việt Nam và thế giới. Trong rừng rậm chập chờn đứt nối của các tín hiệu hình ảnh, nhiều tín hiệu gây sửng sốt, thậm chí đụng độ với cảm quan thẩm mỹ quen thuộc của độc giả.

Nguyễn Quang Thiều được xem là một trong những nhà thơ có ý thức cách tân thơ mạnh mẽ, liên tục, không để dấp dính người khác và không chịu lặp lại chính mình. Đến tập thơ này vẫn nhất quán một tinh thần như vậy, nhưng có vẻ như ráo riết hơn, sắc sói hơn. Với nhiều chủ đề, nhưng nhà thơ lấy khoảnh khắc thời gian làm hệ quy chiếu, với ý niệm mỗi phút giây sống là mỗi khác, khác với những cái tôi khác trong cùng thời điểm ở những không gian khác, khác với khoảnh khắc trước đó và sau đó của chính mình; mỗi phút giây sống vừa là hiện tại, vừa là lịch sử. Điều này đã hóa thân vào nhiều mạch nguồn cảm hứng khác nhau về làng quê, cha mẹ, người tình, về người khác, về thế giới đồ vật làm nên những cái chớp sáng của ý nghĩa…

Lại thấy, Nguyễn Quang Thiều lâu nay rất mạnh về thơ tự do, mà là tự do không vần. Đến tập thơ này vẫn vậy. Nhưng tôi có cảm giác, cái ý niệm về thể thơ ở tập thơ này đối với nhà thơ dường như không còn quan trọng nữa. Nhà thơ rất thoải mái thơ tự do, thơ có vần, thơ không vần, thơ 5/6/7/8 chữ; thoải mái co duỗi chữ/dòng/khổ; thoải mái “ghi chép” khoảnh khắc tâm trạng theo từng giây phút; thoải mái chen các lời thoại của nhân vật trữ tình. Thêm nữa, Nguyễn Quang Thiều từ lâu, đến tập thơ này càng cho thấy ý thức quyết liệt đoạn tuyệt với điệu thơ thuần giãi bày cảm xúc để thực hành một điệu thơ của suy nghiệm, của chất nghĩ trong một sự hòa phối nhuần nhị với cảm xúc. Một điệu thơ riêng mang tên Nguyễn Quang Thiều là kết quả tổng hòa từ những điều có vẻ li ti như thế…

Một tập thơ không quá dày, tổng số 85 bài (chia làm hai phần) trong đó có nhiều bài thơ hay, quyến rũ. Giả định một cuộc chơi: nếu chỉ được chọn 5 bài tâm đắc nhất trong tập thơ này, tôi xin chọn (với nhiều tiếc nuối): Đau lúc gần sáng, Tang lễ, Những hạt cây, Thư gửi Mẹ, Đồ chơi của cháu nội. Bạn hãy thử chọn/chơi theo cách của mình?…

Theo Văn Giá/ Van.vn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm