TIN TỨC

Nhà thơ Trương Nam Hương - trong trẻo những miền xanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-04 14:53:41
mail facebook google pos stwis
5467 lượt xem

ĐOÀN TUẤN

Đọng mãi trong tôi là hình ảnh Trương Nam Hương, tay cầm bản thảo, gí sát mắt (anh bị cận nặng), đi từ tầng 2 xuống, rủ tôi ra cái quán đêm gần nhà ăn trứng vịt lộn. Lúc đó đã gần 4 giờ sáng. Dạo đó, anh đang phụ trách biên tập Tạp chí Văn nghệ công an ở phía Nam. Thức đêm thế mà giọng vẫn trong.

Hai đứa lang thang ra chợ. Vừa đi, Hương vừa sôi nổi kể mấy chuyện vui về những người bạn thân chung như Lê Minh Quốc, Vũ Xuân Hương... Ngồi đến lúc thấy người thành phố nhộn nhịp đi lại trên đường cũng là lúc Hương chuẩn bị đến tòa soạn. Trong dáng hình hơi gầy của Hương, dường như chứa đựng sức mạnh vô hình.
 

Nhà thơ Trương Nam Hương.

Nhớ lần đầu tôi gặp Trương Nam Hương, lúc ấy anh đang rạng rỡ với ánh hào quang của tập thơ “Khúc hát người xa xứ” với giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, năm anh 28 tuổi. Ngày ấy, những giải thưởng còn được dư luận chú ý. Tôi ngỡ ngàng vì giọng thơ sâu đằm, mê đắm, trong trẻo của Hương. Anh tìm ra con đường của mình. Con đường này không mới nhưng anh vẫn tự tin bước vào và cất lên tiếng hát bằng nỗi buồn riêng. Một nỗi buồn chân thành khiến người đọc cảm động.

Ước mang một chút nắng về/ Thường khi cứ Tết là quê mưa dầm/ Mệt nhoài cơm áo quanh năm/ Hiếm hoi có một đêm nằm với quê/ Gối đầu sóng nước tôi nghe/ Sông côi cút tiếng hò khuya buồn buồn/ Mẹ theo hương khói lên nguồn/ Sau ta thăm thẳm cánh buồm lẻ loi/ Ruổi rong khắp bốn phương trời/ Câu thơ hành khất theo người hành hương/ Ta gom nhặt giữa đời thường/ Nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của cha...” (Trích “Câu thơ ngày về”).

Thời thơ ấu và tuổi trẻ của Trương Nam Hương là những ngày phiêu dạt. Quê cha ở Huế. Quê mẹ miền Kinh Bắc. Tuổi thơ ở Hà Nội. Hơn mười tuổi, Hương theo cha mẹ vào Nam. Định cư ở Biên Hòa. Rồi lại về thành phố Hồ Chí Minh. Con người như đám mây, trôi hết miền này đến miền khác. Nhưng, vẫn nhớ về miền thơ ấu của mình. Thơ của anh mang tâm trạng tâm hồn anh. Nó càng bất định, càng nhớ về một miền yên bình. Nhớ về nơi đó, nơi có ánh sáng cội nguồn: “Trăng thắp nến đợi ngày sông trở dạ/ Con chào đời cùng lúc với phù sa/ Con nhận nước sông Hồng là máu đỏ/ Cát ôm con từ hơi mẹ ấp òa/ Con mượn cỏ bờ đê làm chỏm tóc/ Mắc vành nôi lên dợn sóng la đà/ Khi bập bẹ âm đầu, con gọi mẹ/ Chạm mảng trời run biếc của bèo hoa”. (“Nhớ sông Mẹ”). Để từ ánh sáng đó, chiêm nghiệm về số phận con người.

Trương Nam Hương có lối sống quảng giao nên được nhiều người yêu quý. Nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuổi, như Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khải, Sơn Nam, Đoàn Minh Tuấn, Mai Văn Tạo, Trần Mạnh Hảo... thường ghé tòa soạn Tạp chí Văn nghệ công an chuyện trò, trao đổi công việc với anh. Anh quý đồng nghiệp và hết lòng với bạn bè. Nhớ lần nhà báo Đinh Trọng Tuấn và tôi vào thành phố Hồ Chí Minh tìm nhà in cho Tạp chí Thế giới điện ảnh phát hành ở phía Nam, Trương Nam Hương là người rất nhiệt tình. Anh mua giúp chúng tôi từ bộ ấm chén pha trà. Biết anh Đinh Trọng Tuấn là người nghiện thuốc lào, Hương kiếm bằng được cái điếu cày, mang đến tòa soạn giữa cơn mưa, người ướt sũng với nụ cười thật tươi.

Các nhà thơ Lê Minh Quốc, Vũ Xuân Hương, Đoàn Tuấn và Trương Nam Hương.

Trương Nam Hương có tình bạn, tình thơ lâu bền với Lê Minh Quốc. Hai nhà thơ này có chung “điểm xuất phát” - cả hai cùng học chung một lớp ở Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, cùng được chọn là 2 trong số 60 sinh viên tiêu biểu nhân kỷ niệm 60 năm thành lập trường (1957-2017). Có một chi tiết độc đáo về thời sinh viên của hai anh chàng này. Đó là ngày thi ra trường, cả hai toát mồ hôi hột vì biết khó có thể vượt qua môn tiếng Nga. Môn này, cả hai lờ mờ chỉ biết chữ đực chữ cái. Cuối cùng, họ bàn với nhau là khi thi vấn đáp, thay vì trả lời vào câu hỏi của cô giáo thì chỉ còn cách này... Cách gì? Họ đọc luôn bản dịch thơ Puskin mà mỗi người đã dịch ra thể thơ lục bát - sau khi đã nắm, đã hiểu nghĩa của bài thơ. Thật bất ngờ, sự “phá cách” này đã được cán bộ giảng dạy là cô Thu Dung cho điểm cao nhất. Chuyện có thật này đã trở thành “giai thoại” trong Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh từ ngày đó.

Ngoài thơ, Lê Minh Quốc còn viết sách khảo cứu lịch sử, địa phương chí... Đặc biệt, Quốc còn là một người say đắm đến tận cùng tiếng Việt. Anh nâng niu, tìm về ngọn nguồn từng chữ, từng câu, từng cách nói. Biết được nỗi đắm say của bạn thơ, nhất là từ khi cơn sốt truyền thông dội lên bao lớp sóng giới thiệu 3 tập sách “Văn hóa Việt nhìn từ tiếng Việt”, Trương Nam Hương đã viết bài thơ tặng Lê Minh Quốc: “Như suối nguồn trong vắt/ Tiếng chim trời đa âm/ Tiếng Việt ơi, tiếng Việt/ Bốn nghìn năm bổng trầm/ Tiếng mặn mòi vị biển/ Tiếng ngọt lành hương sông/ Tiếng Việt ơi, tiếng Việt/ Thảo thơm như lúa đồng!/ Tiếng vững bền như núi/ Dọc thời gian đắp bồi/ Tiếng Việt ơi, tiếng Việt/ Lớn lên như cánh nôi/ Thanh âm hình chữ S/ Từ ngàn xưa ông bà/ Tiếng Việt ơi, tiếng Việt/ Nuôi nhau bằng dân ca!”.

Nhìn đôi bạn thơ Hương - Quốc sau gần bốn mươi năm qua, tóc giờ đốm bạc, tôi lại nhớ một bài thơ nữa của Hương tặng Quốc đầy linh cảm về thời gian, anh viết từ những năm 90: “Bạn bè thương khó bên nhau/ Nỗi đau của bạn thành đau của mình/ Chiếu đây, ta trải thâm tình/ Rượu đây, hai cốc thủy tinh rót tràn...”. Bạn ngồi tóc bạc lan man/ Ới a ta hát giữa ngàn nhớ quên (“Thơ tặng bạn thơ”).

Một người bạn thơ nữa mà Trương Nam Hương tận tình quan tâm, đó là nhà thơ Vũ Xuân Hương. Trương Nam Hương ân tình với Vũ Xuân Hương như một người em với một người anh. Trương Nam Hương tìm nhiều cách để giới thiệu Vũ Xuân Hương, đưa thơ Vũ Xuân Hương đến với công chúng. Tập thơ “Sông trưa” của Vũ Xuân Hương xuất bản vào những năm 90 có công sức rất nhiều của Trương Nam Hương và những người bạn. Khi Vũ Xuân Hương sang Nga học, giữa thời khủng hoảng, Trương Nam Hương cảm nhận bạn mình sẽ gặp nhiều khó khăn. Anh viết bài “Gửi rừng Nga” để tặng Vũ Xuân Hương: “Những câu thơ không nhà/ Cô đơn chờ bạc tóc/ Thương một chiều rừng Nga/ Bạn ta ngồi lặng khóc/ Bạn ngồi như tiền kiếp/ Thi ca quên chải đầu /Giữa rừng phong trắng tuyết/ Độc thoại từng nỗi đau/ Đàn sếu trôi về đâu/ Mới hay mình lưu lạc/ Chao, thương quá cánh cò/ Rét run dòng lục bát/ Thơ Puskin từng hát/ Tự do cho tình yêu/ Dịch làm sao hạnh phúc/ Hoàng hôn hay máu chiều?...’’.

Những năm trước, việc đi lại giữa hai miền bằng đường hàng không còn khó khăn, Trương Nam Hương thường gửi quà cho bà ngoại và người dì ở phố Chùa Bộc (Hà Nội), nhờ tôi mang đến. Bà ngoại Hương đã gần 90 tuổi. Bà thường gọi Hương bằng tên gọi ở nhà của anh: ” Thằng Ân có khỏe không cháu? Vợ con nó thế nào? Bé Bi, bé Bo lớn chưa? Có ngoan không?’’ v.v... Có lẽ bà ở trong nhà quá lâu nên mỗi khi tôi về, bà lại căn dặn: “Cẩn thận đấy cháu. Giờ ông ba bị và mẹ mìn nhiều lắm! Họ bắt đấy!”. Trong thơ Trương Nam Hương thường có bóng hình những chân trời xa xanh. Đó là những ký ức về tuổi thơ đẹp và buồn, về những miền quê bình yên thẳm xanh trong tâm thức. “Củ khoai gầy trơ ngón mút/ Tuổi thơ mót gió trên đồng/ Giấc mơ vun vùi trấu bếp/ Tha hồ hoa gạo mà đong” (“Hoa gạo”).

Anh viết về bà với nhiều chi tiết và hình ảnh thơ thật đẹp: “Nắng trong mắt những ngày thơ bé/ Cũng xanh mơn như thể lá trầu/ Bà bổ cau thành tám chiếc thuyền cau/ Chở sớm chiều tóm tém/ Hoàng hôn đọng trên môi bà quạch thẫm/ Nắng xiên khoai qua liếp vách không cài/ Bóng bà đổ xuống đất đai/ Rủ châu chấu cào cào về cháu bắt/ Rủ rau má rau sam/ Vào bát canh ngọt mát/ Tôi chan lên suốt dọc tuổi thơ mình/ Bà tựa lưng vào nguồn cội lặng thinh/ Gầy như khói trên trang thờ Tiên tổ/ Da mặt ngoại như vỏ cây tróc lở/ Mắt nheo nhìn tươi mưởi những chồi non/ Tôi là mầm lá lon ton/ Nảy trong lòng mẹ vuông tròn bà mang/ Run trên gốc rễ cũ càng/ Tôi trong dáng ngoại, bóng làng chở che... Tôi như thể chú mèo dim dím mắt/ Trong lòng bà tro trấu thật bình yên/ Mây ngơ ngóng dưới vòm trời cổ tích/ Dưới vòm trời tóc ngoại - một bà tiên...” (“Thời nắng xanh”).

Một hôm, Hương gửi tôi bài thơ nhan đề “Cà phê ban mai”. Tôi không thích cà phê bằng trà. Với lại có quá nhiều bài thơ viết về chủ đề cà phê. Bài nào cũng giống nhau về tâm trạng buồn, cô đơn. Ít ngày sau tôi mới đọc. Bỗng giật mình. Bài thơ không viết về cà phê mà viết về một cảm xúc đặc biệt, rất đáng trân trọng.

Buổi sáng tiếng con reo trong nắng nõn/ Nắng ngọt ngào thời ba hai mươi /Cà phê nhé ba, có cả bạn trai con nữa/ Gió theo ba mát rượi đến nơi mời/ Ba gặp mẹ trong con ngày rất trẻ/ Hoa cúc ơi, hoa cúc dịu dàng/ Tay con khuấy hương cà phê ngát nhẹ/ Ba lặng ngồi nghe ký ức ngân vang/ Ba mươi năm sau/ Lại có một chàng trai mang lòng ba sớm ấy/ Đặt những câu thơ lên môi/ Đặt cả đất trời lên ngực/ Hoa cúc ơi, hoa cúc thật vàng/ Khi mắt lá xanh đằm mắt lá/ Nắng khẽ dìu cho những ngón tay đan/ Những giọt ban mai hẹn hò trong đáy cốc/ Ba chứng nhân hai ánh mắt thiên thần!”.

Bài thơ này thật khó viết. Nhưng, Trương Nam Hương đã thể hiện rất thành công. Bởi anh luôn sống bằng trái tim nhân hậu, tinh thần lạc quan, sẻ chia tình cảm, một niềm tin vào cuộc đời rộng mở.

Hương lúc nào cũng tha thiết và đau đáu với thơ. Nhiều năm nay đã có thói quen mỗi sáng dậy thật sớm, lên sân thượng tưới giàn hoa lan và vườn cây kiểng. Mọi việc đâu vào đó, cũng là lúc anh thư thả một mình với ly trà thật ngon, quyển sổ cùng cây bút trên tay để ghi những cảm xúc thơ tươi ròng chợt đến. Nhiều bài thơ trong tập Thời nắng xanh và những bài thơ khác đã ra đời trong hoàn cảnh này. Nếu chú ý, ta sẽ thấy ở đó có nhiều bài thơ tứ tuyệt chắt lọc từng chữ, từng câu chỉn chu, nhất là những bài thơ viết về danh nhân văn hóa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu... Anh tâm tình: “Một bài thơ viết xong, có lúc cũng câu đó nhưng mình đưa ra nhiều “phương án” khác nhau, để cuối cùng chọn lấy câu, chữ nào đắc ý nhất”. Qua đó, chúng ta thêm hiểu nỗi nhọc nhằn của lao động nghệ thuật thơ là vậy.

Trải qua thời gian cùng những biến thiên đời sống, anh vẫn giữ tâm hồn thơ mê đắm, tài hoa như thuở ban đầu. Anh cũng luôn giữ tâm thế nhẹ nhàng, không màng danh lợi phù du. Vì tất cả những thứ đó là vật ngoại thân. Không cần thiết. “Đứng ngoài các cuộc bon chen/ Lắng trong nước mắt muộn phiền nhân gian/ Chẳng quen khoanh dạ mặt bàn/ Về thưa ghế đẩu cơ hàn mẹ cho!” (“Dặn lòng”).

Nguồn: https://cand.com.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm