TIN TỨC

Nhớ thương, khâm phục và biết ơn Ba

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-24 09:14:11
mail facebook google pos stwis
2886 lượt xem

  CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

KIỀU QUỐC TÚY

Tôi tên Kiều Quốc Túy, sinh năm 1945, là con gái của liệt sĩ Kiều Tấn Lập. Tôi xin bày tỏ lòng nhớ thương, kính phục và biết ơn Ba qua ký ức được nghe kể lại. Tất cả đều là sự thật, không có hư cấu.

Ba tôi là liệt sĩ Kiều Tấn Lập, sinh năm 1917 tại xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Ông sinh ra trong gia đình tiểu tư sản trí thức, nhưng có tinh thần luôn hướng về trào lưu dân tộc, độc lập cho Tổ quốc. Từ nhỏ, ông đã có tình thần hiếu học. Năm 1936 (18 tuổi), ông đã thi đậu tú tài II trường Pétrus Ký Sài Gòn. Và sau đó, ông về quê nhà mở trường tư dạy cho con em của đồng bào nghèo tại địa phương.

Từ thuở thiếu niên, ông đã chịu ảnh hưởng truyền thống gia giáo, nề nếp của gia đình. Một trong những động lực thôi thúc ông sớm tham gia cách mạng chống ngoại xâm là nguyện thực hiện lời dạy bảo quý báu của người cha sinh thành là ông Kiều Ngọc Lầu. Cha ông thường căn dặn và dạy bảo các con:

“Các con cố gắng học để biết đạo lý ở đời. Học trường Tây nhưng đừng làm việc cho Tây”.

Đó có thể là một trong những dấu ấn sâu sắc nhất trong thời niên thiếu của ông.

Vào năm 1940, đất nước ta bị bọn thực dân, quân phiệt xâm lược. Hàng ngày, ông chứng kiến đồng bào bị ngoại xâm ức hiếp, đánh đập, đã thúc giục ông có ý thức căm thù giặc ngoại xâm. Do có kiến thức ngoại ngữ, ông đã phản kháng với bọn lính Tây, lính Nhật, bênh vực đồng bào.

Sau đó, cũng vào năm 1940 (22 tuổi), ông đã tham gia phong trào Thanh niên tiền phong. Ông đã hăng hái, tích cực đi diễn thuyết ở nhiều nơi, nhằm tuyên truyền cho phong trào Thanh niên tham gia kháng chiến, vận động đồng bào nổi dậy, khởi nghĩa cướp chính quyền tháng 8/1945. Trên mọi lĩnh vực công tác được giao, ông đều thể hiện sự cố gắng, năng nổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ. nên ông được bầu làm Quận ủy viên quận Cần Giuộc tháng 3/1945 và là Ủy viên Ban Khởi nghĩa quận. Tiếp theo là giữ chức Phó Giám đốc Quốc gia tự vệ cuộc Nam bộ, rồi giữ chức Giám đốc Sở Công an Nam bộ. Ông đã đắc cử đại biểu Quốc hội Khóa I - Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, thuộc địa bàn Chợ Lớn (cũ).

Một điều đặc biệt trong phẩm chất chính trị và đạo đức của ông là: Năm 1940, khi tham gia cách mạng, ông nói với người yêu (đã đính hôn) nên suy nghĩ kỹ trước khi thành hôn vì lấy người cách mạng là khổ lắm. Khi kháng chiến bùng nổ, tuy có 6 căn nhà cổ mặt tiền, ruộng đất mênh mông, ông không màng tới và khuyên gia đình bỏ hết. Rồi ông đưa cả gia đình theo ông vào chiến khu Đồng Tháp Mười, Bạc Liêu, Cà Mau… Cả mẹ, vợ con và các em đều vào chiến khu tham gia kháng chiến. Mẹ là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Vàng, em trai là liệt sĩ Kiều Công Nghiệp.

Từ ngày thoát ly tham gia cách mạng đến ngày hy sinh, ông không trở về quê hương Cần Giuộc lần nào.

Trong lá thư cuối cùng gửi về cho gia đình, ông đã tâm sự:

“Anh không ham muốn địa vị, danh vọng gì hết. Chỉ mong nước nhà mau độc lập để về với mẹ già kính yêu, về với vợ con và các em yêu quý…”.

Đó là lời trăn trối của Ba lần cuối với gia đình. Từ đó, ông đã đi mãi, không bao giờ trở về với gia đình nữa.

Lúc hy sinh, ông chưa tròn 30 tuổi. Chị tôi, người con gái lớn của Ba mới lên 5 tuổi, mà Ba tôi thường gọi chị là “Nữ trạng sư của Ba”. Còn tôi, con gái thứ hai của Ba cũng chưa tròn 3 tuổi. Một điều khá đặc biệt mà mọi người đều thấy là lạ là hai chị em tôi là con gái mà Ba tôi đặt tên là Quốc Lệ và Quốc Túy. Chị tôi sinh năm 1942, lúc đất nước đầy gian khổ chống thực dân Pháp nên Ba tôi đặt tên cho chị tôi là Quốc Lệ. “Quốc” là nước, là Tổ quốc, “Lệ” là nước mắt, là đau thương, tang tóc vì chiến tranh. Còn tôi, Ba đặt tên là Quốc Túy, “Quốc” cũng là Tổ quốc, đất nước, “Túy” là sự tinh túy, trong sáng của đất nước Việt Nam. Người ta hay nói: Quốc hồn, Quốc túy. Ba đặt tên cho hai chị em tôi ý nghĩa tốt đẹp làm sao!

Sau khi Ba hy sinh, Xứ ủy Nam bộ tổ chức cho Má tôi đi bước nữa với một nhà cách mạng là chiến sĩ 1930.

Đến năm 1952, Nhà nước cho hai chị em tôi vào học trường Thiếu sinh quân Trần Quốc Toản, Huỳnh Phan Hộ của Quân khu 9. Chúng tôi giống như chú bộ đội tí hon nhưng chỉ biết trốn giặc chứ không biết đánh giặc. Khi hòa bình lập lại năm 1955, Nhà nước cho hai chị em tập kết ra Bắc học Trường Học sinh miền Nam Hải Phòng. Chúng tôi được học, được giáo dục đến nơi đến chốn. Hai chị em đều là kỹ sư, đều là đảng viên, đều được tặng Huân, Huy chương kháng chiến.

Sự hy sinh của Ba đã đem lại cho chúng con một tương lai tươi sáng. Nếu Ba không đưa gia đình vào chiến khu tham gia kháng chiến thì giờ đây chúng con có thể đã rẽ sang con đường khác mà Tổ quốc không cần. Chúng con rất khâm phục, kính yêu và biết ơn Ba. Rất tiếc là Ba đã không cùng chúng con đi một quãng đường dài, dài theo đất nước để Ba được hưởng, được thấy sự hy sinh cống hiến cho cách mạng của mình đã đem lại cho đất nước Việt Nam tươi đẹp, tự hào như ngày hôm nay.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, ông là Giám đốc Sở Công an Nam bộ, đã có nhiều đóng góp vào thành tích tổ chức chiến đấu đánh địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng cách mạng, bảo vệ nhân dân, xây dựng lực lượng Công an Nam bộ lúc bấy giờ ngày một trưởng thành.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân ta vô cùng gian khổ, gay go và ác liệt, ông đã có công đóng góp thành tích xứng đáng của mình vào thắng lợi chung của dân tộc. Ông được cấp bằng Tổ quốc ghi công, công nhận liệt sĩ. Được công nhận là cán bộ cách mạng lão thành, tham gia cách mạng trước ngày 1/1/1945. Được truy tặng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng 3 và được truy tặng Huân chương Độc lập hạng 3.

Tôi xin mượn hai câu thơ của nhà thơ Lưu Trùng Dương để kính tặng Ba, vì ông đáng được tự hào:

“Buồm Tổ quốc có hồn ta làm gió.

Sự nghiệp anh hùng ta vinh dự góp bàn tay”.

Về phần gia đình, đã cùng với thời gian và không gian dài biền biệt, trong cõi tâm can sâu kín đã biết mình mất đi một người ruột thịt. Đó là người chồng đầy tâm huyết, thân thương; đó là người Cha kính yêu dẫn đường, chỉ lối cho từng bước chập chững khi trưởng thành đối với hai con. Là người ông trong cõi ước mơ của các cháu ngoại. Sâu lắng hơn cả: Đó là người ruột thịt hiền từ, hiếu thảo, trọn vẹn nghĩa tình và vô cùng quý mến nhất.

Chúng tôi nghĩ: Cuộc sống này còn đầy duyên may đã dẫn dắt chúng tôi đến những điều tốt đẹp nhất. Suốt hành trình đi tìm kiếm tư liệu về Ba, chúng tôi luôn gặp nhiều may mắn. Nói theo dân gian là luôn có quý nhân giúp đỡ. Các bác, các chú, các anh, các cháu thế hệ sau đã hết lòng giúp đỡ. Đây là nguồn động lực rất lớn cho gia đình chúng tôi.

Điều mang lại cho gia đình chúng tôi và hai con gái của Ba tạm yên lòng, dù có hơi muộn. Sau 50 năm Ba hy sinh (1948 - 1998), hài cốt của Ba được tìm thấy và được Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Long An tổ chức lễ tưởng niệm và cải táng hài cốt của ông tại khu Tiêu biểu Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 26/7/1998.

Trong những điều may mắn cũng có xen lẫn nỗi buồn: Sau gần một thế kỷ Ba hy sinh (1948 - 2021), Ba không để lại kỷ niệm gì với con cháu, ngay tấm di ảnh của Ba để con cháu biết mặt cũng không có. Tuy rằng, chúng tôi đã tìm kiếm khắp nơi, ra Hà Nội và hỏi thăm các bác, các chú cùng hoạt động với Ba như bác Phạm Hùng, bác Cao Đăng Chiếm, bác Trần Văn Giàu, bác Mai Chí Thọ… cũng không có ai còn lưu giữ tấm hình của Ba. Mỗi lần con cháu lên viếng thăm mộ Ba ở Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố, nhìn tấm bia mà không có hình, con cháu thấy ngậm ngùi thương nhớ. Tuy rằng con cháu chưa được một lần biết mặt Ba và Ông, là các con, chúng tôi thấy thật có lỗi với Ba của mình.

Noi theo gương nhiệt tình cách mạng của Ba, con cháu của Ba mãi mãi trung thành với sự nghiệp cách mạng. Cố gắng học tập, trưởng thành để xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng phồn vinh, giàu đẹp.

Ba tôi cũng chỉ là một liệt sĩ trong hàng triệu liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Chúng ta hãy nghiêng mình khâm phục, tôn vinh và tri ân họ. Sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả đó.

Đáng buồn hơn, hiện nay đã gần một thế kỷ mà rất nhiều liệt sĩ còn nằm sâu trong lòng đất chưa được về với đất mẹ và gia đình. Họ đã nghe theo lời kêu gọi của Tổ quốc, sẵn sàng lên đường nhập ngũ và đã hy sinh đang trong tuổi thanh xuân vừa rời ghế nhà trường, chưa có gia đình, vợ con, để lại cha mẹ già neo đơn và mỏi mòn trông chờ con về cả mấy chục năm nay.

Đây là đau thương, mất mát song cũng là niềm tự hào của dân tộc ta. Vì sự hy sinh cao cả của họ mà chúng ta được sống yên bình, hạnh phúc. Chúng ta hãy tri ân các anh hùng liệt sĩ và tiếp tục xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng tốt đẹp và phồn vinh mãi mãi.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm