TIN TỨC

Nhớ thương, khâm phục và biết ơn Ba

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-24 09:14:11
mail facebook google pos stwis
3033 lượt xem

  CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

KIỀU QUỐC TÚY

Tôi tên Kiều Quốc Túy, sinh năm 1945, là con gái của liệt sĩ Kiều Tấn Lập. Tôi xin bày tỏ lòng nhớ thương, kính phục và biết ơn Ba qua ký ức được nghe kể lại. Tất cả đều là sự thật, không có hư cấu.

Ba tôi là liệt sĩ Kiều Tấn Lập, sinh năm 1917 tại xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Ông sinh ra trong gia đình tiểu tư sản trí thức, nhưng có tinh thần luôn hướng về trào lưu dân tộc, độc lập cho Tổ quốc. Từ nhỏ, ông đã có tình thần hiếu học. Năm 1936 (18 tuổi), ông đã thi đậu tú tài II trường Pétrus Ký Sài Gòn. Và sau đó, ông về quê nhà mở trường tư dạy cho con em của đồng bào nghèo tại địa phương.

Từ thuở thiếu niên, ông đã chịu ảnh hưởng truyền thống gia giáo, nề nếp của gia đình. Một trong những động lực thôi thúc ông sớm tham gia cách mạng chống ngoại xâm là nguyện thực hiện lời dạy bảo quý báu của người cha sinh thành là ông Kiều Ngọc Lầu. Cha ông thường căn dặn và dạy bảo các con:

“Các con cố gắng học để biết đạo lý ở đời. Học trường Tây nhưng đừng làm việc cho Tây”.

Đó có thể là một trong những dấu ấn sâu sắc nhất trong thời niên thiếu của ông.

Vào năm 1940, đất nước ta bị bọn thực dân, quân phiệt xâm lược. Hàng ngày, ông chứng kiến đồng bào bị ngoại xâm ức hiếp, đánh đập, đã thúc giục ông có ý thức căm thù giặc ngoại xâm. Do có kiến thức ngoại ngữ, ông đã phản kháng với bọn lính Tây, lính Nhật, bênh vực đồng bào.

Sau đó, cũng vào năm 1940 (22 tuổi), ông đã tham gia phong trào Thanh niên tiền phong. Ông đã hăng hái, tích cực đi diễn thuyết ở nhiều nơi, nhằm tuyên truyền cho phong trào Thanh niên tham gia kháng chiến, vận động đồng bào nổi dậy, khởi nghĩa cướp chính quyền tháng 8/1945. Trên mọi lĩnh vực công tác được giao, ông đều thể hiện sự cố gắng, năng nổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ. nên ông được bầu làm Quận ủy viên quận Cần Giuộc tháng 3/1945 và là Ủy viên Ban Khởi nghĩa quận. Tiếp theo là giữ chức Phó Giám đốc Quốc gia tự vệ cuộc Nam bộ, rồi giữ chức Giám đốc Sở Công an Nam bộ. Ông đã đắc cử đại biểu Quốc hội Khóa I - Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, thuộc địa bàn Chợ Lớn (cũ).

Một điều đặc biệt trong phẩm chất chính trị và đạo đức của ông là: Năm 1940, khi tham gia cách mạng, ông nói với người yêu (đã đính hôn) nên suy nghĩ kỹ trước khi thành hôn vì lấy người cách mạng là khổ lắm. Khi kháng chiến bùng nổ, tuy có 6 căn nhà cổ mặt tiền, ruộng đất mênh mông, ông không màng tới và khuyên gia đình bỏ hết. Rồi ông đưa cả gia đình theo ông vào chiến khu Đồng Tháp Mười, Bạc Liêu, Cà Mau… Cả mẹ, vợ con và các em đều vào chiến khu tham gia kháng chiến. Mẹ là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Vàng, em trai là liệt sĩ Kiều Công Nghiệp.

Từ ngày thoát ly tham gia cách mạng đến ngày hy sinh, ông không trở về quê hương Cần Giuộc lần nào.

Trong lá thư cuối cùng gửi về cho gia đình, ông đã tâm sự:

“Anh không ham muốn địa vị, danh vọng gì hết. Chỉ mong nước nhà mau độc lập để về với mẹ già kính yêu, về với vợ con và các em yêu quý…”.

Đó là lời trăn trối của Ba lần cuối với gia đình. Từ đó, ông đã đi mãi, không bao giờ trở về với gia đình nữa.

Lúc hy sinh, ông chưa tròn 30 tuổi. Chị tôi, người con gái lớn của Ba mới lên 5 tuổi, mà Ba tôi thường gọi chị là “Nữ trạng sư của Ba”. Còn tôi, con gái thứ hai của Ba cũng chưa tròn 3 tuổi. Một điều khá đặc biệt mà mọi người đều thấy là lạ là hai chị em tôi là con gái mà Ba tôi đặt tên là Quốc Lệ và Quốc Túy. Chị tôi sinh năm 1942, lúc đất nước đầy gian khổ chống thực dân Pháp nên Ba tôi đặt tên cho chị tôi là Quốc Lệ. “Quốc” là nước, là Tổ quốc, “Lệ” là nước mắt, là đau thương, tang tóc vì chiến tranh. Còn tôi, Ba đặt tên là Quốc Túy, “Quốc” cũng là Tổ quốc, đất nước, “Túy” là sự tinh túy, trong sáng của đất nước Việt Nam. Người ta hay nói: Quốc hồn, Quốc túy. Ba đặt tên cho hai chị em tôi ý nghĩa tốt đẹp làm sao!

Sau khi Ba hy sinh, Xứ ủy Nam bộ tổ chức cho Má tôi đi bước nữa với một nhà cách mạng là chiến sĩ 1930.

Đến năm 1952, Nhà nước cho hai chị em tôi vào học trường Thiếu sinh quân Trần Quốc Toản, Huỳnh Phan Hộ của Quân khu 9. Chúng tôi giống như chú bộ đội tí hon nhưng chỉ biết trốn giặc chứ không biết đánh giặc. Khi hòa bình lập lại năm 1955, Nhà nước cho hai chị em tập kết ra Bắc học Trường Học sinh miền Nam Hải Phòng. Chúng tôi được học, được giáo dục đến nơi đến chốn. Hai chị em đều là kỹ sư, đều là đảng viên, đều được tặng Huân, Huy chương kháng chiến.

Sự hy sinh của Ba đã đem lại cho chúng con một tương lai tươi sáng. Nếu Ba không đưa gia đình vào chiến khu tham gia kháng chiến thì giờ đây chúng con có thể đã rẽ sang con đường khác mà Tổ quốc không cần. Chúng con rất khâm phục, kính yêu và biết ơn Ba. Rất tiếc là Ba đã không cùng chúng con đi một quãng đường dài, dài theo đất nước để Ba được hưởng, được thấy sự hy sinh cống hiến cho cách mạng của mình đã đem lại cho đất nước Việt Nam tươi đẹp, tự hào như ngày hôm nay.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, ông là Giám đốc Sở Công an Nam bộ, đã có nhiều đóng góp vào thành tích tổ chức chiến đấu đánh địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng cách mạng, bảo vệ nhân dân, xây dựng lực lượng Công an Nam bộ lúc bấy giờ ngày một trưởng thành.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân ta vô cùng gian khổ, gay go và ác liệt, ông đã có công đóng góp thành tích xứng đáng của mình vào thắng lợi chung của dân tộc. Ông được cấp bằng Tổ quốc ghi công, công nhận liệt sĩ. Được công nhận là cán bộ cách mạng lão thành, tham gia cách mạng trước ngày 1/1/1945. Được truy tặng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng 3 và được truy tặng Huân chương Độc lập hạng 3.

Tôi xin mượn hai câu thơ của nhà thơ Lưu Trùng Dương để kính tặng Ba, vì ông đáng được tự hào:

“Buồm Tổ quốc có hồn ta làm gió.

Sự nghiệp anh hùng ta vinh dự góp bàn tay”.

Về phần gia đình, đã cùng với thời gian và không gian dài biền biệt, trong cõi tâm can sâu kín đã biết mình mất đi một người ruột thịt. Đó là người chồng đầy tâm huyết, thân thương; đó là người Cha kính yêu dẫn đường, chỉ lối cho từng bước chập chững khi trưởng thành đối với hai con. Là người ông trong cõi ước mơ của các cháu ngoại. Sâu lắng hơn cả: Đó là người ruột thịt hiền từ, hiếu thảo, trọn vẹn nghĩa tình và vô cùng quý mến nhất.

Chúng tôi nghĩ: Cuộc sống này còn đầy duyên may đã dẫn dắt chúng tôi đến những điều tốt đẹp nhất. Suốt hành trình đi tìm kiếm tư liệu về Ba, chúng tôi luôn gặp nhiều may mắn. Nói theo dân gian là luôn có quý nhân giúp đỡ. Các bác, các chú, các anh, các cháu thế hệ sau đã hết lòng giúp đỡ. Đây là nguồn động lực rất lớn cho gia đình chúng tôi.

Điều mang lại cho gia đình chúng tôi và hai con gái của Ba tạm yên lòng, dù có hơi muộn. Sau 50 năm Ba hy sinh (1948 - 1998), hài cốt của Ba được tìm thấy và được Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Long An tổ chức lễ tưởng niệm và cải táng hài cốt của ông tại khu Tiêu biểu Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 26/7/1998.

Trong những điều may mắn cũng có xen lẫn nỗi buồn: Sau gần một thế kỷ Ba hy sinh (1948 - 2021), Ba không để lại kỷ niệm gì với con cháu, ngay tấm di ảnh của Ba để con cháu biết mặt cũng không có. Tuy rằng, chúng tôi đã tìm kiếm khắp nơi, ra Hà Nội và hỏi thăm các bác, các chú cùng hoạt động với Ba như bác Phạm Hùng, bác Cao Đăng Chiếm, bác Trần Văn Giàu, bác Mai Chí Thọ… cũng không có ai còn lưu giữ tấm hình của Ba. Mỗi lần con cháu lên viếng thăm mộ Ba ở Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố, nhìn tấm bia mà không có hình, con cháu thấy ngậm ngùi thương nhớ. Tuy rằng con cháu chưa được một lần biết mặt Ba và Ông, là các con, chúng tôi thấy thật có lỗi với Ba của mình.

Noi theo gương nhiệt tình cách mạng của Ba, con cháu của Ba mãi mãi trung thành với sự nghiệp cách mạng. Cố gắng học tập, trưởng thành để xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng phồn vinh, giàu đẹp.

Ba tôi cũng chỉ là một liệt sĩ trong hàng triệu liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Chúng ta hãy nghiêng mình khâm phục, tôn vinh và tri ân họ. Sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả đó.

Đáng buồn hơn, hiện nay đã gần một thế kỷ mà rất nhiều liệt sĩ còn nằm sâu trong lòng đất chưa được về với đất mẹ và gia đình. Họ đã nghe theo lời kêu gọi của Tổ quốc, sẵn sàng lên đường nhập ngũ và đã hy sinh đang trong tuổi thanh xuân vừa rời ghế nhà trường, chưa có gia đình, vợ con, để lại cha mẹ già neo đơn và mỏi mòn trông chờ con về cả mấy chục năm nay.

Đây là đau thương, mất mát song cũng là niềm tự hào của dân tộc ta. Vì sự hy sinh cao cả của họ mà chúng ta được sống yên bình, hạnh phúc. Chúng ta hãy tri ân các anh hùng liệt sĩ và tiếp tục xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng tốt đẹp và phồn vinh mãi mãi.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm