TIN TỨC

Nhớ thương, khâm phục và biết ơn Ba

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-24 09:14:11
mail facebook google pos stwis
2765 lượt xem

  CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

KIỀU QUỐC TÚY

Tôi tên Kiều Quốc Túy, sinh năm 1945, là con gái của liệt sĩ Kiều Tấn Lập. Tôi xin bày tỏ lòng nhớ thương, kính phục và biết ơn Ba qua ký ức được nghe kể lại. Tất cả đều là sự thật, không có hư cấu.

Ba tôi là liệt sĩ Kiều Tấn Lập, sinh năm 1917 tại xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Ông sinh ra trong gia đình tiểu tư sản trí thức, nhưng có tinh thần luôn hướng về trào lưu dân tộc, độc lập cho Tổ quốc. Từ nhỏ, ông đã có tình thần hiếu học. Năm 1936 (18 tuổi), ông đã thi đậu tú tài II trường Pétrus Ký Sài Gòn. Và sau đó, ông về quê nhà mở trường tư dạy cho con em của đồng bào nghèo tại địa phương.

Từ thuở thiếu niên, ông đã chịu ảnh hưởng truyền thống gia giáo, nề nếp của gia đình. Một trong những động lực thôi thúc ông sớm tham gia cách mạng chống ngoại xâm là nguyện thực hiện lời dạy bảo quý báu của người cha sinh thành là ông Kiều Ngọc Lầu. Cha ông thường căn dặn và dạy bảo các con:

“Các con cố gắng học để biết đạo lý ở đời. Học trường Tây nhưng đừng làm việc cho Tây”.

Đó có thể là một trong những dấu ấn sâu sắc nhất trong thời niên thiếu của ông.

Vào năm 1940, đất nước ta bị bọn thực dân, quân phiệt xâm lược. Hàng ngày, ông chứng kiến đồng bào bị ngoại xâm ức hiếp, đánh đập, đã thúc giục ông có ý thức căm thù giặc ngoại xâm. Do có kiến thức ngoại ngữ, ông đã phản kháng với bọn lính Tây, lính Nhật, bênh vực đồng bào.

Sau đó, cũng vào năm 1940 (22 tuổi), ông đã tham gia phong trào Thanh niên tiền phong. Ông đã hăng hái, tích cực đi diễn thuyết ở nhiều nơi, nhằm tuyên truyền cho phong trào Thanh niên tham gia kháng chiến, vận động đồng bào nổi dậy, khởi nghĩa cướp chính quyền tháng 8/1945. Trên mọi lĩnh vực công tác được giao, ông đều thể hiện sự cố gắng, năng nổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ. nên ông được bầu làm Quận ủy viên quận Cần Giuộc tháng 3/1945 và là Ủy viên Ban Khởi nghĩa quận. Tiếp theo là giữ chức Phó Giám đốc Quốc gia tự vệ cuộc Nam bộ, rồi giữ chức Giám đốc Sở Công an Nam bộ. Ông đã đắc cử đại biểu Quốc hội Khóa I - Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, thuộc địa bàn Chợ Lớn (cũ).

Một điều đặc biệt trong phẩm chất chính trị và đạo đức của ông là: Năm 1940, khi tham gia cách mạng, ông nói với người yêu (đã đính hôn) nên suy nghĩ kỹ trước khi thành hôn vì lấy người cách mạng là khổ lắm. Khi kháng chiến bùng nổ, tuy có 6 căn nhà cổ mặt tiền, ruộng đất mênh mông, ông không màng tới và khuyên gia đình bỏ hết. Rồi ông đưa cả gia đình theo ông vào chiến khu Đồng Tháp Mười, Bạc Liêu, Cà Mau… Cả mẹ, vợ con và các em đều vào chiến khu tham gia kháng chiến. Mẹ là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Vàng, em trai là liệt sĩ Kiều Công Nghiệp.

Từ ngày thoát ly tham gia cách mạng đến ngày hy sinh, ông không trở về quê hương Cần Giuộc lần nào.

Trong lá thư cuối cùng gửi về cho gia đình, ông đã tâm sự:

“Anh không ham muốn địa vị, danh vọng gì hết. Chỉ mong nước nhà mau độc lập để về với mẹ già kính yêu, về với vợ con và các em yêu quý…”.

Đó là lời trăn trối của Ba lần cuối với gia đình. Từ đó, ông đã đi mãi, không bao giờ trở về với gia đình nữa.

Lúc hy sinh, ông chưa tròn 30 tuổi. Chị tôi, người con gái lớn của Ba mới lên 5 tuổi, mà Ba tôi thường gọi chị là “Nữ trạng sư của Ba”. Còn tôi, con gái thứ hai của Ba cũng chưa tròn 3 tuổi. Một điều khá đặc biệt mà mọi người đều thấy là lạ là hai chị em tôi là con gái mà Ba tôi đặt tên là Quốc Lệ và Quốc Túy. Chị tôi sinh năm 1942, lúc đất nước đầy gian khổ chống thực dân Pháp nên Ba tôi đặt tên cho chị tôi là Quốc Lệ. “Quốc” là nước, là Tổ quốc, “Lệ” là nước mắt, là đau thương, tang tóc vì chiến tranh. Còn tôi, Ba đặt tên là Quốc Túy, “Quốc” cũng là Tổ quốc, đất nước, “Túy” là sự tinh túy, trong sáng của đất nước Việt Nam. Người ta hay nói: Quốc hồn, Quốc túy. Ba đặt tên cho hai chị em tôi ý nghĩa tốt đẹp làm sao!

Sau khi Ba hy sinh, Xứ ủy Nam bộ tổ chức cho Má tôi đi bước nữa với một nhà cách mạng là chiến sĩ 1930.

Đến năm 1952, Nhà nước cho hai chị em tôi vào học trường Thiếu sinh quân Trần Quốc Toản, Huỳnh Phan Hộ của Quân khu 9. Chúng tôi giống như chú bộ đội tí hon nhưng chỉ biết trốn giặc chứ không biết đánh giặc. Khi hòa bình lập lại năm 1955, Nhà nước cho hai chị em tập kết ra Bắc học Trường Học sinh miền Nam Hải Phòng. Chúng tôi được học, được giáo dục đến nơi đến chốn. Hai chị em đều là kỹ sư, đều là đảng viên, đều được tặng Huân, Huy chương kháng chiến.

Sự hy sinh của Ba đã đem lại cho chúng con một tương lai tươi sáng. Nếu Ba không đưa gia đình vào chiến khu tham gia kháng chiến thì giờ đây chúng con có thể đã rẽ sang con đường khác mà Tổ quốc không cần. Chúng con rất khâm phục, kính yêu và biết ơn Ba. Rất tiếc là Ba đã không cùng chúng con đi một quãng đường dài, dài theo đất nước để Ba được hưởng, được thấy sự hy sinh cống hiến cho cách mạng của mình đã đem lại cho đất nước Việt Nam tươi đẹp, tự hào như ngày hôm nay.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, ông là Giám đốc Sở Công an Nam bộ, đã có nhiều đóng góp vào thành tích tổ chức chiến đấu đánh địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng cách mạng, bảo vệ nhân dân, xây dựng lực lượng Công an Nam bộ lúc bấy giờ ngày một trưởng thành.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân ta vô cùng gian khổ, gay go và ác liệt, ông đã có công đóng góp thành tích xứng đáng của mình vào thắng lợi chung của dân tộc. Ông được cấp bằng Tổ quốc ghi công, công nhận liệt sĩ. Được công nhận là cán bộ cách mạng lão thành, tham gia cách mạng trước ngày 1/1/1945. Được truy tặng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng 3 và được truy tặng Huân chương Độc lập hạng 3.

Tôi xin mượn hai câu thơ của nhà thơ Lưu Trùng Dương để kính tặng Ba, vì ông đáng được tự hào:

“Buồm Tổ quốc có hồn ta làm gió.

Sự nghiệp anh hùng ta vinh dự góp bàn tay”.

Về phần gia đình, đã cùng với thời gian và không gian dài biền biệt, trong cõi tâm can sâu kín đã biết mình mất đi một người ruột thịt. Đó là người chồng đầy tâm huyết, thân thương; đó là người Cha kính yêu dẫn đường, chỉ lối cho từng bước chập chững khi trưởng thành đối với hai con. Là người ông trong cõi ước mơ của các cháu ngoại. Sâu lắng hơn cả: Đó là người ruột thịt hiền từ, hiếu thảo, trọn vẹn nghĩa tình và vô cùng quý mến nhất.

Chúng tôi nghĩ: Cuộc sống này còn đầy duyên may đã dẫn dắt chúng tôi đến những điều tốt đẹp nhất. Suốt hành trình đi tìm kiếm tư liệu về Ba, chúng tôi luôn gặp nhiều may mắn. Nói theo dân gian là luôn có quý nhân giúp đỡ. Các bác, các chú, các anh, các cháu thế hệ sau đã hết lòng giúp đỡ. Đây là nguồn động lực rất lớn cho gia đình chúng tôi.

Điều mang lại cho gia đình chúng tôi và hai con gái của Ba tạm yên lòng, dù có hơi muộn. Sau 50 năm Ba hy sinh (1948 - 1998), hài cốt của Ba được tìm thấy và được Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Long An tổ chức lễ tưởng niệm và cải táng hài cốt của ông tại khu Tiêu biểu Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 26/7/1998.

Trong những điều may mắn cũng có xen lẫn nỗi buồn: Sau gần một thế kỷ Ba hy sinh (1948 - 2021), Ba không để lại kỷ niệm gì với con cháu, ngay tấm di ảnh của Ba để con cháu biết mặt cũng không có. Tuy rằng, chúng tôi đã tìm kiếm khắp nơi, ra Hà Nội và hỏi thăm các bác, các chú cùng hoạt động với Ba như bác Phạm Hùng, bác Cao Đăng Chiếm, bác Trần Văn Giàu, bác Mai Chí Thọ… cũng không có ai còn lưu giữ tấm hình của Ba. Mỗi lần con cháu lên viếng thăm mộ Ba ở Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố, nhìn tấm bia mà không có hình, con cháu thấy ngậm ngùi thương nhớ. Tuy rằng con cháu chưa được một lần biết mặt Ba và Ông, là các con, chúng tôi thấy thật có lỗi với Ba của mình.

Noi theo gương nhiệt tình cách mạng của Ba, con cháu của Ba mãi mãi trung thành với sự nghiệp cách mạng. Cố gắng học tập, trưởng thành để xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng phồn vinh, giàu đẹp.

Ba tôi cũng chỉ là một liệt sĩ trong hàng triệu liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Chúng ta hãy nghiêng mình khâm phục, tôn vinh và tri ân họ. Sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả đó.

Đáng buồn hơn, hiện nay đã gần một thế kỷ mà rất nhiều liệt sĩ còn nằm sâu trong lòng đất chưa được về với đất mẹ và gia đình. Họ đã nghe theo lời kêu gọi của Tổ quốc, sẵn sàng lên đường nhập ngũ và đã hy sinh đang trong tuổi thanh xuân vừa rời ghế nhà trường, chưa có gia đình, vợ con, để lại cha mẹ già neo đơn và mỏi mòn trông chờ con về cả mấy chục năm nay.

Đây là đau thương, mất mát song cũng là niềm tự hào của dân tộc ta. Vì sự hy sinh cao cả của họ mà chúng ta được sống yên bình, hạnh phúc. Chúng ta hãy tri ân các anh hùng liệt sĩ và tiếp tục xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng tốt đẹp và phồn vinh mãi mãi.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm