TIN TỨC
  • Truyện
  • Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo

Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-14 00:21:31
mail facebook google pos stwis
215 lượt xem

Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.

Ổng kể mình nghe. Đúng sai sao ai biết. Giờ tui hỏi mấy bà biết Châu Long Sa ở đâu không? Nhưng, ông khách lạ tóc bạc ngọn heo may đời mình thì biết.

Nhà văn Tống Phước Bảo

Mười bốn tuổi, Ấu làm thằng vé số. Mười sáu tuổi nó kiêm thêm thằng ve chai. Chạy bán chỗ nào cũng vác theo cái bao nho nhỏ lượm đồ bỏ đi. Ai cho gì lấy nấy. Năm nó mười tám tuổi, người ta mở cái chợ theo đề án xây dựng khu phố ẩm thực đêm, khôi phục lại cái chợ đèn dầu của thời xa xưa. Bữa lang thang lượm ve chai trong chợ, nó gặp cái sạp đờn ca tài tử phục vụ khách đến chợ ăn chơi. Vậy là nó đâm ra ghiền coi hát, cuối tuần nào cũng ngồi bên dưới hóng mỏ lên đớp từng lời ca. Tan hát nó lầm lũi vác cái bao đi lượm ve chai rồi đi sâu về cuối chợ, leo lên chiếc ghe nhỏ nổ máy lạch bạch chạy về rạch Mông Lung. Khúc rạch nằm sâu trong vàm sông đầy củ co, với một xóm quê nghèo nàn.

Mấy bận như vậy trôi qua, cho đến hôm có đám xăm mình từ đâu kéo đến chợ trong cơn say chạy lên chiếu hát, giật cái mi-cờ-rô đòi hát. Thì mấy ông thầy đờn, mấy người nghệ sĩ quýnh quáng chạy, thiên hạ cũng chạy. Mỗi thằng Ấu ngồi yên, giương mắt ngó. Đám say rượu được thể đá loa, đập đàn. Chợ đêm lộn xộn tiếng chửi, tiếng la. Trong hỗn độn thanh âm đó, bất giác có tiếng gào to “chạy đi công an tới kìa”. Thân ảnh cao to của Ấu nhảy vào đám say rượu nắm tay kéo chạy. Chạy trối chết.

Quãng tiếng sau thấy nó ướt nhem quay về sạp đờn ca tài tử. Thiên hạ chợ đêm bu quanh nó, hỏi thằng ve chai, công an hồi nào mậy. Tự dưng la làng tán loạn lên à! Thằng Ấu cười khùng khục. Ủa rồi hổng giả bộ la vậy sao dụ đám say rượu phá chợ bỏ chạy. Tui lôi tụi nó chạy về mé rạch. Tụi nó vừa say lại vừa sợ. Tui nhảy xuống kêu bơi qua rạch trốn. Tui nó nhảy theo đùng đùng. Bơi nửa đường tui bơi ngược về. Núp bên này nghe ngóng coi tụi nó bỏ đi hết chưa. Chừng êm tui chạy về đây nè. Rồi nãy giờ ai thấy bịch ve chai của tui đâu hông? Chủ sạp được phen cười rân trời. Ai nói thằng ve chai khùng đâu trời. Nó khôn thí mồ. Dụ đám giang hồ đi còn nhớ quay lại tìm bịch ve chai. Nhưng, ngó tới ngó lui không thấy bịch ve chai đâu.

Thiên hạ tản ra lo dọn dẹp sạp hàng, chỉ mỗi thằng Ấu lang thang kiếm bao ve chai. Lạ lùng, không một dấu vết cái bao của nó. Hệt như xứ này luôn có những chuyện mà Ấu chẳng tài nào hiểu đặng.

Đã bảy giờ tối rồi, sao cha già Cái Rơn chưa tới. Chả mê cải lương muốn chết, chả thèm vọng cổ hơn thèm gái. Ngay cái lúc mong chờ ổng nhất thì ổng không xuất hiện. Mấy bận chiều mưa dầm dề, vậy mà ổng cũng ráng xuôi ghe từ Cái Rơn qua đây để chờ nghe. Ổng là khách mối lạ lùng nhất chợ. Ai đời từ Sa Đéc lại bỏ cả buổi trời chạy ghe qua Cao Lãnh để nghe hát chợ. Nghe đêm thứ bảy xong, ổng bỏ ghe lại rạch, đi về phía ngã tư sương đêm rồi mất hút. Chừng chiều tối chủ nhật lại thấy ổng ngồi ngay ngắn bên dưới ngó lên chiếu hát đến vãn tuồng mới lót tót đi về rạch Mông Lung, nổ máy ghe ngược lại Cái Rơn.

Thiên hạ chợ đêm túm tụm lại xì xào ổng ghé nhà bà chấm mắt ghe. Con mẹ nổi tiếng treo đèn trước cửa. Chấm mắt ghe là phụ, dụ đàn ông mới là chính. Cũng đâu ai biết cha út Trong. Thiên hạ đồn bả cặp thằng cha nào đó làm bên nhà đèn hồi năm bảy lăm. Sau bảy lăm thì chả bị đi cải tạo. Rồi mất hút. Cũng có người nói bả lấy Mỹ, thằng lính phi công bỏ bả bay từ sân bay Cần Thơ ra thẳng chiến hạm ở Biển Đông. Năm đó bả mười tám, đẹp nhất xứ này. Rồi ai đó nói bậy bạ hết sức. Bả làm giao liên mấy mẹ ơi. Sau bị tụi giặc phát hiện nó bắt, đày ra tận Côn Đảo. Ngày bả về xác xơ như tàu lá chuối. Bả cũng có chồng. Mà tại thời tù tội tra tấn đến nỗi con bả đẻ ra èo uột chết trẻ hết ba đứa. Chồng bả mới bỏ đi. Bả đẻ thằng út Trong lúc đã đi qua bốn mươi tuổi đời. Nghe đâu với ông thương lái người Phúc Kiến từ Sa Đéc qua đặt chấm mắt ghe. Ngặt nỗi ổng còn bà vợ lớn, nên bà chấm mắt ghe lủi thủi nuôi con. Thằng út Trong lai người Hoa nên da trắng, mũi cao, mắt một mí thấy không? Ai đó hỏi nhưng như câu khẳng định chắc nịch.

Chẳng biết đúng hay sai, nhưng lời đồn luôn khiến thiên hạ tin sái cổ.

***

Thằng Ấu gặp ông khách lạ ngay cầu Đúc, ổng đứng nhìn dòng Cao Lãnh chia hai bờ nam bắc. Ổng biểu nó theo ổng xuống ngay chân cầu, lòn vô dạ cầu ngồi quán nước mía, ổng chỉ phía thành phố khăng khăng nhà ổng ở đó. Chỉ là giờ người ta xây cái trường học to đùng. Ổng kể chuyện lữ quán. Ổng gọi ba chữ Châu Long Sa. Ổng khóc cho cái bà nào phía bến Tầm Dương, ổng kêu tui biết rượu Hoàng Hoa bán đâu không? Hồi đó chỉ có Kiến An Cung mới ủ được rượu Hoàng Hoa. Thứ rượu được ủ bằng hoa vàng hứng nắng của sân Thiên Tỉnh nằm giữa chính cung mới cho ra vị thơm nồng nàn quyến dụ. Rượu say nhưng đầu mình tỉnh rụi. Ngủ một giấc dậy là cơ thể khỏe mạnh phi thường. Trái gió trở trời người yếu nhấp ba hớp rượu là ấm bụng dạ, xương khớp cứng cáp. Thứ rượu mà hồi đó trước khi cha ổng đi thuyền lớn nhấp bảy ngụm. Nhấp vậy mà cha ổng đi biền biệt không về. Chỉ duy nhất lần đó, rượu Hoàng Hoa không còn linh nghiệm như lời thiên hạ đồn thổi.

Tranh của họa sĩ Quỳnh Thơm

Nhưng, hồi ổng nhảy thuyền rời xứ ổng cũng nhấp bảy ly rượu Hoàng Hoa, dẫu chẳng biết đường về của mình sẽ ra sao. Hơn bốn chục năm rồi. Những ngày giá buốt ổng luôn nhẩm tính còn bao nhiêu ngày nữa đâu là mùa sum vầy ở cố hương. Thường mấy lúc lòng tao tác, ổng thức trọn đêm. Ra mảnh vườn nhà trồng mấy cây khế, pha ly cà phê, ngó về hướng tây mà thon thót lòng.

Bận đó, thằng Ấu hẹn ổng tối nay tới đây, ngay cái chiếu hát này, chắc chắn có người biết biết chuyện xứ Châu Long Sa kể ổng nghe. Nhưng nay mưa dầm dề hổng ai tới chợ. Xứ này quá trời chuyện, biết đâu mà lần. Biết ai kể rồi ai nghe cho đặng, cho thấu lòng người.

***

Bây giờ đã sắp xuân, nắng mai non theo chướng dặt dìu lên khắp miệt đồng bưng. Kiến An Cung cúng tạ lễ khởi công trùng tu bến Tầm Dương. Thiên hạ nô nức đến từ sớm. Đám đông bu đen nghịt ngay chỗ bà chấm mắt ghe làm lễ tế ghe tống quái. Lòng ghe đựng toàn lễ vật muối gạo, cùng sớ cầu của bà con thôn xóm nguyện ước xui rủi năm này theo ghe mà trôi ra biển cả. Bà chấm mắt ghe đúng giờ hoàng đạo bày mười hai cây cọ ra rồi khấn thần sông rửa cọ. Cọ được nhúng xuống dòng Cái Rơn cho ngậm nước nở lông. Đoạn bà pha màu rồi bắt đầu những nét vẽ. Mắt ghe dần hiện lên. Viền mắt xanh đậm. Lòng mắt đỏ au. Chấm mắt đen tuyền. Mười hai nét vẽ là ra một con mắt. Dù đã bảy mươi tuổi nhưng đôi tay bà vẫn lả lướt. Hai cặp mắt ghe xong là tới phần điểm nhãn cho ghe thuận nước mà tới. Trong khói hương trầm bay bổng. Câu khấn lầm rầm chẳng ai nghe thấy. Nhưng nét mặt ai cũng nghiêm trang thành kính. Nhưng, lời khấn của bà chấm mắt ghe có khi như hát, có lúc như khóc. Thiên hạ nói khắp Cửu Long mỗi ghe của bả chấm mắt là sau bài khấn nhìn lại mắt ghe bỗng như mắt người. Lung linh. Sinh động. Ghe cũng có hồn. Hồn ghe như hồn người. Nhìn vào mắt là biết. Chỉ cần bả chấm mắt ghe, là chủ làm ăn phát đạt, buôn may bán đắt. Gặp sóng to gió lớn ghe vẫn không chìm. Gặp bọn gian thương trộm cướp ghe sẽ hất mũi ba cái. Gặp người thiện lành đức độ ghe sẽ cúi đầu ba cái. Chẳng biết đúng sai, nhưng lời đồn nhanh hơn gió, mạnh hơn bão, và dễ khiến người ta tin hơn bất cứ lời nói chân thật nào trên đời này. Dân thương hồ cứ thế mà tìm đến. Bà chấm mắt ghe dứt câu khấn, tung mười hai cây cọ xuống dòng Cái Rơn. Bả khom mình khỏa tay xuống nước. Rồi đưa lên úp vào mặt. Chiếc ghe cuối bả chấm mắt. Cái tên cô Tẻ chấm mắt ghe từ nay chỉ còn nằm trong ký ức của dân Cửu Long.

Trời đã bắt ngọn nắng vàng phủ lên Kiến An Cung một màu vàng tươi. Xứ này ai cũng biết ngôi chùa trăm tuổi được người Phúc Kiến chạy giặc từ Chợ Lớn xuống tới đây gá thân những năm hai mươi của thế kỷ trước. Từ đó họ sống quần tụ trên dòng Cái Rơn và lập nên một bến thuyền ghe mua bán tấp nập. Họ cho xây chùa theo tập quán của người mình để cầu mưa thuận gió hòa, để công việc làm ăn buôn bán phát đạt. Kiến An Cung tạo hình theo chữ Công, với ba gian nhà, không có kèo chỉ những đòn tay ráp mộng với nhau, chịu lực trên những cột gỗ tròn. Mái ngói ba lớp được lợp gợn lên như vảy rồng theo kiểu ngũ hành với mỗi đỉnh chớp là sáu cung điện chạm trổ tỉ mỉ. Nhà chính là Điện Kiến An với sân chầu lấy khí trời từ một vòm tròn rộng lớn mang tên Cửu Thiên Đài. Nắng gió từ trời dội xuống sân Thiên Tỉnh như một cách mà người xứ này cầu nguyện lẫn gột rửa những hư hao xui rủi hoặc tội lỗi đời mình. Lễ chính bái cũng được làm ở sân Thiên Tỉnh.

Lễ chính tạ theo nhịp trống giục giã vang rền. Người dân lại lao xao từ bến Tầm Dương chạy về sân Thiên Tỉnh.

***

Sẩm tối, dòng Cái Rơn lặng con nước. Bến Tầm Dương có bốn người ngồi. Má út Trong nhẩm tính, từ ngày ông tóc bạc bỏ xứ theo chiếc thuyền nhỏ cùng gia đình cũng hơn nửa đời người. Giờ quay lại mọi thứ đã thay đổi. Ông thấy không, giờ Châu Long Sa đâu còn nữa, người ta gom nam bắc Cao Lãnh về chung một tỉnh gọi là Đồng Tháp. Hồi cha ông tập kết rồi hy sinh, cho đến lúc giải phóng thì lữ quán An Thành cũng dẹp luôn. Cái chợ đèn dầu cũng mới khôi phục lại sau quãng năm chín mươi. Ông à, đời con người ta khôn dại đôi khi chỉ một lần. Hồi đó anh em đồng đội khuyên ông biết bao nhiêu. Ông lại chọn cách ra đi. Giờ ông về cũng chỉ là mớ ký ức xưa cũ chắp nối trên những đổi thay. Con người ta luôn nhìn ngày mai mà sống.

Tỷ như cái chân của ông sáu Chàm, ngoại thằng Ấu cũng mất đi trong lần địch chống cự hồi mùa chướng bảy tư, làm sao lấy lại. Có chăng con người ta phải sống bằng chính sự chấp nhận cả vui buồn của phận số mình. Ổng cũng chiến đấu, cũng thương binh, cũng nghèo nhưng đâu bao giờ bỏ xứ. Tụi mình có đứa chiến đấu, có đứa nằm trong lòng địch để đưa tin, có đứa núp bóng Kiến An Cung để che giấu bộ đội để làm gì? Tất cả cũng chỉ cầu mong cho xứ mình không còn bom đạn. Người ta đợi cả đời để được sống thanh bình, ông đợi có vài năm lại nản chí. Nhưng, tụi mình giờ già rồi, nhắc mấy cái đó đâu để làm gì. Còn gặp lại, còn thấy đủ đầy những đứa đã từng núp trong cái sân Thiên Tỉnh mà ngửa mặt cầu trời cho qua trận bố ráp ngày đó, nói thiệt đã là phước ân tổ tiên.

Ông tóc bạc, người anh cả của nhóm giao liên ngày ấy, bỗng gục đầu khóc nức nở. Sân Thiên Tỉnh của những năm bảy tư đã như một chỗ ẩn náu an toàn nhất của bộ đội mình. Kiến An Cung của hội Phúc Kiến chí ít cũng khiến đám quân ác ôn của khu bốn kiêng dè. Chúng nể cái sự giao thương làm chủ kinh tế vùng của người Hoa xứ này mà né ra. Hồi đó tía của cha già Cái Rơn đào hầm dưới cái sân Thiên Tỉnh để giấu cán bộ. Ổng nói đất này phong thủy. Tụi nó có tới cũng bị trời che mắt, đất ôm cán bộ vào lòng. Tin ổng đi.

Ai cũng tin. Nhưng đám giặc không tin. Chúng lùng nát Kiến An Cung nhưng tuyệt nhiên không dám đập phá. Chí ít chúng còn sợ chốn tôn nghiêm này. Cứ vậy Kiến An Cung như một nơi tuyệt đối an toàn cho quân ta.

Câu chuyện nối dài câu chuyện. Ký ức nối liền ký ức. Có tiếc nuối của người ra đi. Có lòng bằng an của người ở lại. Nhưng, tất thảy cũng đã là xưa xa. Gần năm mươi năm đất này thôi bom đạn, mắc gì mình giày xéo lòng nhau để thêm mòn mỏi những tháng ngày cuối đời của mình. Thôi uống cái đi. Rượu Hoàng Hoa uống trên bến Tầm Dương. Trời ơi nhớ cái thời tụi mình còn trẻ quá mấy ông bà ơi. Giọng ông Cái Rơn ấm cả sương đêm.

Gió luồn câu chuyện châu thổ những ngày cuối năm mơn man vào tận sân Thiên Tỉnh. Thằng Ấu với út Trong sau một buổi dọn dẹp nằm ngả người giữa sân ngó lên Cửu Thiên Đài. Hai thằng con trai thở dài theo câu chuyện của năm mươi năm đất này. Châu thổ vẫn ôm vào lòng những phù sa bạt ngàn nỗi thương. Vậy nên mỗi bận Tết nhứt, những câu chuyện xưa cũ xứ này cứ như hoa, trổ đóa rực rỡ để người ta biết đường mà tìm về với nhau. Như xuân tìm xứ, như người tìm đất.

Tống Phước Bảo/TNO

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bản giao hưởng của đại ngàn
Có những buổi sớm mai, khi dải sương mù còn lười biếng cuộn mình trên những triền đồi lượn sóng của Pleiku, tôi đứng giữa ranh giới của đất và trời, lắng nghe hơi thở của cao nguyên. Đó không phải là một âm thanh đơn điệu, mà là một bản giao hưởng hùng tráng và miên man, được viết nên từ nhựa sống của đất đỏ bazan, từ tiếng gió hú qua kẽ lá và từ những nhịp tim nồng hậu của con người nơi phố núi. Trong bản nhạc ấy, có tiếng reo vui của những cánh rừng cà phê bạt ngàn, có sự thâm trầm của những gốc cổ thụ, và có cả những thanh âm trong trẻo, ngây thơ của những tâm hồn trẻ thơ nơi đại ngàn nắng gió.
Xem thêm
Nghĩa tình người dưng – Truyện ngắn Phùng Chí Cường
Cái Cẩm kể xong câu chuyện lúc nào Xoảng cũng không hay, không gian thì vẫn im lặng như tờ. Quay sang Cẩm, Xoảng thấy nó gục mặt vào hai lòng bàn tay, nó cứ nấc lên nghẹn ngào mà khóe mắt không thấy rỉ ra giọt nước mắt nào. Cũng chả biết nữa, có lẽ nước mắt của cái Cẩm đã lận hết vào bên trong rồi. Còn với Cẩm, tự nhiên nó cảm thấy người đàn ông ngồi cạnh nó lúc này sao mà gần gũi thế. Nhưng dù sao anh ta cũng chi là người dưng thôi!...
Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm