TIN TỨC

Đọc KIẾM THƠ TRONG THIỀN của nhà thơ Lê Viết Hòa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-04-15 17:57:16
mail facebook google pos stwis
2155 lượt xem

 XUÂN TRƯỜNG


Nhà thơ Xuân Trường tại buổi ra mắt "Kiếm thơ trong thiền" (ảnh: NH)

​​​​"An nhiên kiếm chữ trong thiền
Gởi vào đời nụ cười hiền trẻ thơ"

Thiền là hình thức nghệ thuật có tính tâm linh cao nhất; con người phải tĩnh lặng, vô ngôn, định tâm, và thoát ra khỏi những đa đoan của đời thường làm nhiễu loạn tâm trí chúng ta. Thiền được gọi tắt là Thiền na theo ngôn ngữ Ấn Độ là Dhyana. Tịch lự (lặng suy) nghĩa là trầm tư về một chân lý đạt đến ngộ và in sâu vào tâm thức chúng ta. Cũng có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng tựu trung là xem xét mối quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động, như một tiếng chuông thức tỉnh con người.

Cùng với sự phát triển của Phật Giáo, thiền đã ảnh hưởng sâu rộng vào văn học phương Đông, thấm đậm vào trong cuộc sống, cũng như văn học nghệ thuật, đời sống xã hội của người Á Đông. Đặc biệt là trong thơ Đường Trung Hoa, thơ Haiku của Nhật và thơ thời Lý, Trần của Việt Nam. Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Thiền Sư Huyền Quang đã để lại nhiều áng thơ tuyệt tác cho nền văn học dân tộc.

Thiền giúp cho tâm thức chúng ta được giải thoát mà trở nên thanh tịnh; có như thế mới tập trung vào cảm xúc, trải nghiệm và sự tinh tế trong sử dụng ngôn ngữ để phát hiện những mới lạ trong cuộc sống vô thường mà trong lúc khác chúng ta không nhìn thấy được.

Thiền và thơ đều tập trung cao độ vào khả năng nhận xét sâu sắc của con người. Trong khi thiền giúp cho con người thanh tịnh, thì thơ sẽ xuất hiện qua cảm xúc và trải nghiệm của mình bằng ngôn ngữ. Cả hai đều đòi hỏi sự tuyệt đối và tinh tế trong việc xử dụng ngôn từ.

Đã từ lâu nhiều nhà thơ đã thực hành thiền để tìm kiếm cảm hứng, hình thành ý tưởng, khơi gợi hình tượng đẹp trong những phát hiện của mình. Vậy thì thiền sẽ giúp cho thơ bình tĩnh hơn, tập trung hơn, có nhiều khả năng đưa ra những cảm xúc sâu sắc hơn từ đó tác phẩm thơ của họ sắc nét hơn và tinh tế hơn. Nhiều Thiền Sư đã viết thơ để truyền đạt thông điệp của mình, sử dụng ngôn ngữ để truyền tải những ý tưởng tâm linh, khơi gợi cảm hứng cho người đọc. Thiền để làm thơ là phương pháp tu tập chứ không phải tu hành, nhưng nó hướng thiện. Dùng thiện tâm để hóa giải các mối quan hệ giữa con người với con người; với thiên nhiên và vũ trụ quanh ta. Mục đích là tìm kiếm cảm xúc, ngôn ngữ rồi nhập thế phát hiện những tồn tại trong cõi đời gây ra phiền toái đau thương cho con người, nhằm điều chỉnh, hướng con người trở về với nguồn cội yêu thương và lòng biết ơn trong sinh hoạt cộng đồng, cũng như hòa mình vào với thiên nhiên mà tồn tại trong cả sắc sắc, không không và sống thật đẹp trong cái quán trọ trần gian này.

Tôi nghĩ thiền và thơ có liên quan mật thiết trong việc xây dựng đạo đức con người, nó như là một thứ pháp chế được giấu bên trong tâm hồn để cho con người tự điều chỉnh mình trước mọi năng lực hành vi trong cuộc sống, ứng xử hài hòa với thiên nhiên. Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã dùng phương pháp tu hành để tiếp nhận cuộc sống, tiếp nhận những hiện thực tinh thế rồi giải mã để giúp xã hội tốt đẹp hơn, con người thoát ra được những khổ đau để được an yên hơn.

Thực hành Thiền có thể ở trạng thái ngồi, đi hoặc đứng; nhưng khi có ý tưởng, ngôn ngữ xuất hiện ta lập tức phải lưu lại không thì nó qua đi để cái mới xuất hiện. Do vậy thiền ở một số trường hợp là như ta đang làm thơ vậy!

Ở miền Nam trước năm 1975, đã có các dòng thơ Thiền trữ tình và triết lý của các thi sĩ: Quách Tấn, Phạm Thiên Thư,v.v… Nói thực ra thiền được đã là khó, mà thiền để có thơ hay lại càng khó hơn; do vậy mà phải công phu tu tập, tịnh tâm, tịnh lòng, khổ luyện, và bên cạnh đó cũng cần có cơ duyên, tinh khiết tâm hồn nữa.

​​​Chúng ta hãy nghe nhà thơ Lê Viết Hòa kiếm thơ trong thiền:

“...Bãi bồi lở bóng thời gian

La đà khóm trúc che ngang mặt ngày...”

Lâu nay tôi thường gặp các nhà thơ chạm được thời gian bằng cách đối thoại, thương lượng với thời gian, màu sắc của thời gian. Nhưng nay Lê Viết Hòa đã có một phát hiện mới đó là cái bóng của thời gian. Tôi nghĩ cái bóng thời gian đang bay trong cõi tâm thức của anh trong khi hành thiền và lưu lại bằng ngôn từ, giúp cho anh sở hữu một phát hiện mới đó là cái bóng của thời gian. Ở “Khóm trúc che ngang mặt ngày” anh đã diễn đạt được cái vô hạn của thời gian, chứ nếu dùng "che ngang mặt người" thì bình thường.

Trong không gian thiền của anh có cánh võng mây, có nhịp sóng đời lênh đênh, có mưa đan sợi nhớ, có tóc cài hoàng hôn, có sự tụ tan vô thường... đã đưa anh về cõi tâm thức nguyên sơ, mà an yên với nụ cười trẻ thơ nơi bắt đầu của sự sống. Tất cả anh đều hướng tới cái cội nguồn, cái chi sơ và bổn thiện để khơi gợi sự yêu thương, chân thành với nhau, trong cái nhịp điệu hối hả của đời này: “An nhiên kiếm chữ trong thiền / Gởi vào đời nụ cười hiền trẻ thơ” (trong bài Kiếm chữ trong thiền).

Hai biểu tượng được xuất hiện rất nhiều trong hành trình thơ anh là Dòng Sông và Hoa Sen:

Dòng sông nhân gian của anh đã chảy: “...Sự háo hức mạnh mẽ ban đầu của niềm đam mê vươn tới những chiêm nghiệm khám phá. Sự hồ hởi của buổi nguyên sơ cuốn trôi đi tất cả những rào cản, những định kiến cắm sâu vào gốc rễ để đưa phù sa đắp bồi yêu thương và lòng biết ơn nguồn cội vào con đường mà dòng sông đã chọn. Nhưng em ơi! cuộc đời không phải lúc nào cũng như ý mình mong muốn...”. Người em ở đây không phải là một đối tượng cụ thể nào; anh đã đưa ra để đối thoại với chính mình, mở ra cái vô hạn của thiên nhiên, nâng đỡ nuôi dưỡng cái hữu hạn đời người; cứ chảy hết mình những yêu thương, lòng thanh bạch và dâng hiến cho đời những hương thơm, những nguồn lực sống.

Người ta bảo hoa sen là loài hoa quân tử, nó thánh thiện thanh tao, sang trọng, thường xuất hiện ở nơi trang nghiêm, cung kính như chùa chiền, cung đình; tòa sen là nơi ngự trị của Đức Phật. Sen cũng là loài hoa thủy chung biết ơn bùn đất đã chuyển đổi trạng thái mà hiến dâng cho sen thơm ngát. Trong thơ, Lê Viết Hòa mê đắm sen, ngưỡng mộ sen, cũng có nghĩa là tâm hồn anh hướng đến tu tập phật pháp, hướng lòng đến thiền để tìm về cái tinh khiết, cái nguyên sơ, cái thủy chung, cái yêu thương nhau của con người và anh đã ngộ được nhiều điều ở hoa Sen:

Nhìn đóa Sen Hồng tôi cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng và thanh thản đến lạ...

Đóa Sen hồng tinh khôi trên bầu trời huyền ảo...

Tôi lạc hồn vào cõi mênh mông trời đất

Ở đó không có sự tị hiềm nhỏ nhen đố kỵ

Ở đó không có sự bon chen tranh giành vị lợi

Ở đó không có hận thù ganh ghét dối lừa

Ở đó không có khổ đau day dứt dằn xé..." (Đóa sen hồng).

Những cụm từ như: hư vô, hóa thân, trần ai, thoát thai, tinh khiết, thánh thiện, hiện sinh, lụn tàn, hồi sinh, khổ đau, day dứt, cam lồ, buồn đau, thánh thiện, luân hồi, ngã, vô ngã, vô cùng, kiếp này, cõi người, cõi mê, vô thường, lở bóng thời gian, tụ tan, trong thiền, nguyên sơ, phù du, cội xưa, phù vân, ba sinh, vô vi, vô ngôn, v.v… đã thể hiện trọn vẹn chất thiền trong thơ anh.

Tôi rất tâm đắc và trân trọng Lê Viết Hòa khi anh dùng cụm từ “Mẹ thiên nhiên”; hiện đại lắm vì ngày nay chúng ta đang đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về sinh thái để hướng văn chương nghệ thuật góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ sự sống của nhân loại mà từ lâu con người đã nhẫn tâm tàn phá, đem đến không biết bao nhiêu khổ đau, hệ lụy cho con người.

Kiếm thơ trong Thiền, Lê Viết Hòa đã nhìn thấy bao nhiêu những oan trái, những khổ đau, những sân si, những bạo lực, tranh giành đang đày đọa con người. Bằng thơ anh đã mở lòng nguyện cầu con người hãy nối kết yêu thương, hãy tiếp nhận, kết nối lòng vị tha, để mọi tâm hồn được an yên, bớt nặng lòng trong cõi sắc không này.

“...Đi qua mấy cuộc thăng trầm

Câu thơ trầy xước lặng thầm mà thương

Còn đây bồi lở tấc lòng

Đục trong dòng chảy cuối đường rỗng không” (Lặng thầm mà thương).

Có thể nói Sen hồng đã ngự trị trong cái tĩnh lặng trâm hồn anh, chạm đến những cảm xúc lạ vừa mang tính trữ tình, vừa triết lý nhân sinh:

“...Mây

mây

mây

trắng ngút ngàn

Từ em miên viễn tụ tan vô thường

Ta về lưu ký mùi hương

Tịnh tâm kiếm chữ dọc đường nhân sinh”. (Sen hồng tịnh tâm).

Những câu thơ nhẹ nhàng, sương khói, bảng lảng, nhưng lại đưa ta vào một cõi mơ hồ đầy ám ảnh của thiên nhiên:

“...Giọt thu rớt nhẹ bên đời

Cuốn theo chiều muộn về nơi ngút ngàn

Gõ vào tĩnh lặng thời gian

Nhịp tim rất khẽ ngỡ ngàng thẳm sâu

hoặc là

“...Phố xưa sương khói miệt mài

Cuộn vào chiếc lá một mai hư gầy

Sắc thu vương vít bàn tay

Hương sen ươm nụ ngủ say giấc hồng” (Sắc Thu).

​​​Tôi xin dẫn hai bài thơ "Mái chèo" của Lê Viết Hòa và Thiền sư Thích Nhất Hạnh để ta chiêm nghiệm thêm chất thiền trong thơ hiện đại:

"Mái chèo" của Lê Viết Hòa:

“Ta chèo giữa bến bao la

Xuôi bao vạn nẻo đi qua cuộc người

Khi đáy sông lúc đỉnh trời

Thương tình vỡ giấc nữa đời mơ tan …

...Ta chèo mấy đoạn thăng trầm

Lăn tăn sóng gợi rì rầm cội sông

Hồ xưa nở đóa sen Hồng

Người đi xa buổi sầu đông rụng đầy…

...Người chừ mây trắng phiêu diêu

Ta gom câu chữ chắt chiu trong Thiền”.

Dòng Sông đời chứa cả bầu trời hay mái chèo của anh khua động đến trời, khua động đến cội nguồn của sông, làm cho sông thức tỉnh, chảy với trách nhiệm hòa quyện với thiên nhiên của mình. Chảy trong tình thương yêu, bồi đắp, nuôi dưỡng con người và sau cùng trong cõi yêu thương này, anh đã tìm được chữ cho thơ.

Và đây là "Mái chèo" của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh:

“Sáu chiếc chèo tay mang nhịp sóng

Đưa thuyền tách khỏi bến mê mờ

Qua ngàn lớp sóng trần xô đẩy

Hướng thẳng về nơi bản thể xưa” .

Mái chèo này cũng khua động cội nguồn thức tỉnh bản thể xưa, trong cõi tỉnh lặng ấy, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cũng đã nhắc nhở con người hướng thiện, thoát ra khỏi mọi sân si để thương nhau. yêu lấy nhau.

Cả hai "Mái chèo" đều mang xu hướng nhập thế để nâng niu, yêu thương con người và cuộc sống.

Lê Viết Hòa đã dùng thể thơ lục bát truyền thống để chuyển tải cảm xúc và thông điệp của mình, do vậy đã làm xao xuyến người đọc, dễ tạo sự đồng cảm với mọi người. Âm thanh, nhịp điệu trong từng câu chữ như tạo ra không gian mời gọi tha thiết, gợi mở tâm hồn mọi người tìm cái chân thật trong cõi thiền.

Đúng vậy từ thế kỷ 15 những câu ca dao lục bát đã ru cuộc đời vất vả của dân tộc ta đến nay và qua thời hiện đại hãy còn nguyên giá trị của nó. Có thể nói, thơ lục bát là nơi lưu giữ tâm hồn dân tộc hiểu theo ý nghĩa nó là một phần của của bản sắc văn hóa dân tộc.

Cá nhân tôi phát hiện nhiều nhà thơ viết theo thể loại tự do hay thì bao giờ họ cũng có những câu lục bát tài tình. Bảo tồn và phát triển lục bát là trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Thật ra nhập thiền để có thơ là không dễ chút nào, còn phải có cơ duyên, sự chiêm nghiệm, học hỏi và cả sự tinh khiết của tâm hồn. Chắc có lẽ cái thâm trầm của Cố Đô Huế, cái mùi hương sen quá khứ bên hồ TịnhTâm, cái êm dịu của Sông Hương, cộng với thuyết ngũ hành trong đông y và những bước chân trải nghiệm đã giúp anh tĩnh tại và tìm kiếm thơ trong cõi thiền.

Thiền trong thơ là vấn đề lớn của nhân loại, nó thiên lý bao la và vô cùng, tôi xin chia sẻ một số cảm nhận về tập “Kiếm thơ trong Thiền” của Lê Viết Hòa, chứ không thể nào đi hết cái chiều sâu của thơ và cõi lòng anh được.

Xin chúc nhà thơ Lê Viết Hòa an nhiên trong sáng tạo.

​​​​​​​​Sài Gòn, tháng 3 năm 2023.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm