TIN TỨC

Đọc KIẾM THƠ TRONG THIỀN của nhà thơ Lê Viết Hòa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-04-15 17:57:16
mail facebook google pos stwis
1842 lượt xem

 XUÂN TRƯỜNG


Nhà thơ Xuân Trường tại buổi ra mắt "Kiếm thơ trong thiền" (ảnh: NH)

​​​​"An nhiên kiếm chữ trong thiền
Gởi vào đời nụ cười hiền trẻ thơ"

Thiền là hình thức nghệ thuật có tính tâm linh cao nhất; con người phải tĩnh lặng, vô ngôn, định tâm, và thoát ra khỏi những đa đoan của đời thường làm nhiễu loạn tâm trí chúng ta. Thiền được gọi tắt là Thiền na theo ngôn ngữ Ấn Độ là Dhyana. Tịch lự (lặng suy) nghĩa là trầm tư về một chân lý đạt đến ngộ và in sâu vào tâm thức chúng ta. Cũng có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng tựu trung là xem xét mối quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động, như một tiếng chuông thức tỉnh con người.

Cùng với sự phát triển của Phật Giáo, thiền đã ảnh hưởng sâu rộng vào văn học phương Đông, thấm đậm vào trong cuộc sống, cũng như văn học nghệ thuật, đời sống xã hội của người Á Đông. Đặc biệt là trong thơ Đường Trung Hoa, thơ Haiku của Nhật và thơ thời Lý, Trần của Việt Nam. Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Thiền Sư Huyền Quang đã để lại nhiều áng thơ tuyệt tác cho nền văn học dân tộc.

Thiền giúp cho tâm thức chúng ta được giải thoát mà trở nên thanh tịnh; có như thế mới tập trung vào cảm xúc, trải nghiệm và sự tinh tế trong sử dụng ngôn ngữ để phát hiện những mới lạ trong cuộc sống vô thường mà trong lúc khác chúng ta không nhìn thấy được.

Thiền và thơ đều tập trung cao độ vào khả năng nhận xét sâu sắc của con người. Trong khi thiền giúp cho con người thanh tịnh, thì thơ sẽ xuất hiện qua cảm xúc và trải nghiệm của mình bằng ngôn ngữ. Cả hai đều đòi hỏi sự tuyệt đối và tinh tế trong việc xử dụng ngôn từ.

Đã từ lâu nhiều nhà thơ đã thực hành thiền để tìm kiếm cảm hứng, hình thành ý tưởng, khơi gợi hình tượng đẹp trong những phát hiện của mình. Vậy thì thiền sẽ giúp cho thơ bình tĩnh hơn, tập trung hơn, có nhiều khả năng đưa ra những cảm xúc sâu sắc hơn từ đó tác phẩm thơ của họ sắc nét hơn và tinh tế hơn. Nhiều Thiền Sư đã viết thơ để truyền đạt thông điệp của mình, sử dụng ngôn ngữ để truyền tải những ý tưởng tâm linh, khơi gợi cảm hứng cho người đọc. Thiền để làm thơ là phương pháp tu tập chứ không phải tu hành, nhưng nó hướng thiện. Dùng thiện tâm để hóa giải các mối quan hệ giữa con người với con người; với thiên nhiên và vũ trụ quanh ta. Mục đích là tìm kiếm cảm xúc, ngôn ngữ rồi nhập thế phát hiện những tồn tại trong cõi đời gây ra phiền toái đau thương cho con người, nhằm điều chỉnh, hướng con người trở về với nguồn cội yêu thương và lòng biết ơn trong sinh hoạt cộng đồng, cũng như hòa mình vào với thiên nhiên mà tồn tại trong cả sắc sắc, không không và sống thật đẹp trong cái quán trọ trần gian này.

Tôi nghĩ thiền và thơ có liên quan mật thiết trong việc xây dựng đạo đức con người, nó như là một thứ pháp chế được giấu bên trong tâm hồn để cho con người tự điều chỉnh mình trước mọi năng lực hành vi trong cuộc sống, ứng xử hài hòa với thiên nhiên. Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã dùng phương pháp tu hành để tiếp nhận cuộc sống, tiếp nhận những hiện thực tinh thế rồi giải mã để giúp xã hội tốt đẹp hơn, con người thoát ra được những khổ đau để được an yên hơn.

Thực hành Thiền có thể ở trạng thái ngồi, đi hoặc đứng; nhưng khi có ý tưởng, ngôn ngữ xuất hiện ta lập tức phải lưu lại không thì nó qua đi để cái mới xuất hiện. Do vậy thiền ở một số trường hợp là như ta đang làm thơ vậy!

Ở miền Nam trước năm 1975, đã có các dòng thơ Thiền trữ tình và triết lý của các thi sĩ: Quách Tấn, Phạm Thiên Thư,v.v… Nói thực ra thiền được đã là khó, mà thiền để có thơ hay lại càng khó hơn; do vậy mà phải công phu tu tập, tịnh tâm, tịnh lòng, khổ luyện, và bên cạnh đó cũng cần có cơ duyên, tinh khiết tâm hồn nữa.

​​​Chúng ta hãy nghe nhà thơ Lê Viết Hòa kiếm thơ trong thiền:

“...Bãi bồi lở bóng thời gian

La đà khóm trúc che ngang mặt ngày...”

Lâu nay tôi thường gặp các nhà thơ chạm được thời gian bằng cách đối thoại, thương lượng với thời gian, màu sắc của thời gian. Nhưng nay Lê Viết Hòa đã có một phát hiện mới đó là cái bóng của thời gian. Tôi nghĩ cái bóng thời gian đang bay trong cõi tâm thức của anh trong khi hành thiền và lưu lại bằng ngôn từ, giúp cho anh sở hữu một phát hiện mới đó là cái bóng của thời gian. Ở “Khóm trúc che ngang mặt ngày” anh đã diễn đạt được cái vô hạn của thời gian, chứ nếu dùng "che ngang mặt người" thì bình thường.

Trong không gian thiền của anh có cánh võng mây, có nhịp sóng đời lênh đênh, có mưa đan sợi nhớ, có tóc cài hoàng hôn, có sự tụ tan vô thường... đã đưa anh về cõi tâm thức nguyên sơ, mà an yên với nụ cười trẻ thơ nơi bắt đầu của sự sống. Tất cả anh đều hướng tới cái cội nguồn, cái chi sơ và bổn thiện để khơi gợi sự yêu thương, chân thành với nhau, trong cái nhịp điệu hối hả của đời này: “An nhiên kiếm chữ trong thiền / Gởi vào đời nụ cười hiền trẻ thơ” (trong bài Kiếm chữ trong thiền).

Hai biểu tượng được xuất hiện rất nhiều trong hành trình thơ anh là Dòng Sông và Hoa Sen:

Dòng sông nhân gian của anh đã chảy: “...Sự háo hức mạnh mẽ ban đầu của niềm đam mê vươn tới những chiêm nghiệm khám phá. Sự hồ hởi của buổi nguyên sơ cuốn trôi đi tất cả những rào cản, những định kiến cắm sâu vào gốc rễ để đưa phù sa đắp bồi yêu thương và lòng biết ơn nguồn cội vào con đường mà dòng sông đã chọn. Nhưng em ơi! cuộc đời không phải lúc nào cũng như ý mình mong muốn...”. Người em ở đây không phải là một đối tượng cụ thể nào; anh đã đưa ra để đối thoại với chính mình, mở ra cái vô hạn của thiên nhiên, nâng đỡ nuôi dưỡng cái hữu hạn đời người; cứ chảy hết mình những yêu thương, lòng thanh bạch và dâng hiến cho đời những hương thơm, những nguồn lực sống.

Người ta bảo hoa sen là loài hoa quân tử, nó thánh thiện thanh tao, sang trọng, thường xuất hiện ở nơi trang nghiêm, cung kính như chùa chiền, cung đình; tòa sen là nơi ngự trị của Đức Phật. Sen cũng là loài hoa thủy chung biết ơn bùn đất đã chuyển đổi trạng thái mà hiến dâng cho sen thơm ngát. Trong thơ, Lê Viết Hòa mê đắm sen, ngưỡng mộ sen, cũng có nghĩa là tâm hồn anh hướng đến tu tập phật pháp, hướng lòng đến thiền để tìm về cái tinh khiết, cái nguyên sơ, cái thủy chung, cái yêu thương nhau của con người và anh đã ngộ được nhiều điều ở hoa Sen:

Nhìn đóa Sen Hồng tôi cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng và thanh thản đến lạ...

Đóa Sen hồng tinh khôi trên bầu trời huyền ảo...

Tôi lạc hồn vào cõi mênh mông trời đất

Ở đó không có sự tị hiềm nhỏ nhen đố kỵ

Ở đó không có sự bon chen tranh giành vị lợi

Ở đó không có hận thù ganh ghét dối lừa

Ở đó không có khổ đau day dứt dằn xé..." (Đóa sen hồng).

Những cụm từ như: hư vô, hóa thân, trần ai, thoát thai, tinh khiết, thánh thiện, hiện sinh, lụn tàn, hồi sinh, khổ đau, day dứt, cam lồ, buồn đau, thánh thiện, luân hồi, ngã, vô ngã, vô cùng, kiếp này, cõi người, cõi mê, vô thường, lở bóng thời gian, tụ tan, trong thiền, nguyên sơ, phù du, cội xưa, phù vân, ba sinh, vô vi, vô ngôn, v.v… đã thể hiện trọn vẹn chất thiền trong thơ anh.

Tôi rất tâm đắc và trân trọng Lê Viết Hòa khi anh dùng cụm từ “Mẹ thiên nhiên”; hiện đại lắm vì ngày nay chúng ta đang đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về sinh thái để hướng văn chương nghệ thuật góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ sự sống của nhân loại mà từ lâu con người đã nhẫn tâm tàn phá, đem đến không biết bao nhiêu khổ đau, hệ lụy cho con người.

Kiếm thơ trong Thiền, Lê Viết Hòa đã nhìn thấy bao nhiêu những oan trái, những khổ đau, những sân si, những bạo lực, tranh giành đang đày đọa con người. Bằng thơ anh đã mở lòng nguyện cầu con người hãy nối kết yêu thương, hãy tiếp nhận, kết nối lòng vị tha, để mọi tâm hồn được an yên, bớt nặng lòng trong cõi sắc không này.

“...Đi qua mấy cuộc thăng trầm

Câu thơ trầy xước lặng thầm mà thương

Còn đây bồi lở tấc lòng

Đục trong dòng chảy cuối đường rỗng không” (Lặng thầm mà thương).

Có thể nói Sen hồng đã ngự trị trong cái tĩnh lặng trâm hồn anh, chạm đến những cảm xúc lạ vừa mang tính trữ tình, vừa triết lý nhân sinh:

“...Mây

mây

mây

trắng ngút ngàn

Từ em miên viễn tụ tan vô thường

Ta về lưu ký mùi hương

Tịnh tâm kiếm chữ dọc đường nhân sinh”. (Sen hồng tịnh tâm).

Những câu thơ nhẹ nhàng, sương khói, bảng lảng, nhưng lại đưa ta vào một cõi mơ hồ đầy ám ảnh của thiên nhiên:

“...Giọt thu rớt nhẹ bên đời

Cuốn theo chiều muộn về nơi ngút ngàn

Gõ vào tĩnh lặng thời gian

Nhịp tim rất khẽ ngỡ ngàng thẳm sâu

hoặc là

“...Phố xưa sương khói miệt mài

Cuộn vào chiếc lá một mai hư gầy

Sắc thu vương vít bàn tay

Hương sen ươm nụ ngủ say giấc hồng” (Sắc Thu).

​​​Tôi xin dẫn hai bài thơ "Mái chèo" của Lê Viết Hòa và Thiền sư Thích Nhất Hạnh để ta chiêm nghiệm thêm chất thiền trong thơ hiện đại:

"Mái chèo" của Lê Viết Hòa:

“Ta chèo giữa bến bao la

Xuôi bao vạn nẻo đi qua cuộc người

Khi đáy sông lúc đỉnh trời

Thương tình vỡ giấc nữa đời mơ tan …

...Ta chèo mấy đoạn thăng trầm

Lăn tăn sóng gợi rì rầm cội sông

Hồ xưa nở đóa sen Hồng

Người đi xa buổi sầu đông rụng đầy…

...Người chừ mây trắng phiêu diêu

Ta gom câu chữ chắt chiu trong Thiền”.

Dòng Sông đời chứa cả bầu trời hay mái chèo của anh khua động đến trời, khua động đến cội nguồn của sông, làm cho sông thức tỉnh, chảy với trách nhiệm hòa quyện với thiên nhiên của mình. Chảy trong tình thương yêu, bồi đắp, nuôi dưỡng con người và sau cùng trong cõi yêu thương này, anh đã tìm được chữ cho thơ.

Và đây là "Mái chèo" của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh:

“Sáu chiếc chèo tay mang nhịp sóng

Đưa thuyền tách khỏi bến mê mờ

Qua ngàn lớp sóng trần xô đẩy

Hướng thẳng về nơi bản thể xưa” .

Mái chèo này cũng khua động cội nguồn thức tỉnh bản thể xưa, trong cõi tỉnh lặng ấy, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cũng đã nhắc nhở con người hướng thiện, thoát ra khỏi mọi sân si để thương nhau. yêu lấy nhau.

Cả hai "Mái chèo" đều mang xu hướng nhập thế để nâng niu, yêu thương con người và cuộc sống.

Lê Viết Hòa đã dùng thể thơ lục bát truyền thống để chuyển tải cảm xúc và thông điệp của mình, do vậy đã làm xao xuyến người đọc, dễ tạo sự đồng cảm với mọi người. Âm thanh, nhịp điệu trong từng câu chữ như tạo ra không gian mời gọi tha thiết, gợi mở tâm hồn mọi người tìm cái chân thật trong cõi thiền.

Đúng vậy từ thế kỷ 15 những câu ca dao lục bát đã ru cuộc đời vất vả của dân tộc ta đến nay và qua thời hiện đại hãy còn nguyên giá trị của nó. Có thể nói, thơ lục bát là nơi lưu giữ tâm hồn dân tộc hiểu theo ý nghĩa nó là một phần của của bản sắc văn hóa dân tộc.

Cá nhân tôi phát hiện nhiều nhà thơ viết theo thể loại tự do hay thì bao giờ họ cũng có những câu lục bát tài tình. Bảo tồn và phát triển lục bát là trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Thật ra nhập thiền để có thơ là không dễ chút nào, còn phải có cơ duyên, sự chiêm nghiệm, học hỏi và cả sự tinh khiết của tâm hồn. Chắc có lẽ cái thâm trầm của Cố Đô Huế, cái mùi hương sen quá khứ bên hồ TịnhTâm, cái êm dịu của Sông Hương, cộng với thuyết ngũ hành trong đông y và những bước chân trải nghiệm đã giúp anh tĩnh tại và tìm kiếm thơ trong cõi thiền.

Thiền trong thơ là vấn đề lớn của nhân loại, nó thiên lý bao la và vô cùng, tôi xin chia sẻ một số cảm nhận về tập “Kiếm thơ trong Thiền” của Lê Viết Hòa, chứ không thể nào đi hết cái chiều sâu của thơ và cõi lòng anh được.

Xin chúc nhà thơ Lê Viết Hòa an nhiên trong sáng tạo.

​​​​​​​​Sài Gòn, tháng 3 năm 2023.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc việt nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm