TIN TỨC

Những vần thơ nẩy mầm đơm hoa theo dấu chân nhà thơ khoát áo lính

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-09-11 17:22:11
mail facebook google pos stwis
1987 lượt xem

       Việt Thắng

Tôi cầm trong tay tập thơ “Quang Chuyền thơ và đời” và điện thoại hỏi anh: “Đây có phải là tuyển tập thơ không anh”?  Anh cười: “Cũng là gom các bài thơ viết cả đời lại thành một tập, vì mình nay cũng đã tới ngưỡng tuổi 80 rồi”. Cắm cúi đọc hết tập thơ,tôi mới hiểu ra đây gần như là tập nhật ký bằng thơ của nhà thơ Quang Chuyền.

Tôi biết nhà thơ Quang Chuyền cũng hơn mười năm; Anh sinh ra tại một làng quê tỉnh Vĩnh Phúc, nên những vần thơ của anh mang dấu ấn làng quê:

           Phía sau bờ tre là làng

           Là cha, là mẹ, họ hàng anh em

             (Phía sau bờ tre)

 

Dù sau này do cuộc sống mà anh phải ly hương nhưng nỗi lòng nhớ quê vẫn đau đáu:

          Quê nhà mỗi lúc khác quê

           Chờ con vuông đất, bờ tre, xóm giềng.

              ( Nhà mẹ có con đi xa)

 

        Đất mẹ đôi bờ nghèo ngô lúa

       Ước làm con sóng chở phù sa

              ( Đêm ngủ ven sông)

 

 Và chính nhà thơ cũng tự khắc họa mình:

        Ta là một gã nhà quê

        Bước đời không định lạc về phố đông

        Bữa ăn thường thích cua đồng

        Dưa chua, tương mặn, cải ngồng bãi Soi.

                    ( Tự họa)

 

  Vì chiến tranh mà nhà thơ phải rời bục giảng khoác áo lính ngành thông tin; và từ đây mỗi chặng đường đi qua trong chiến tranh anh đều có những bài thơ:

           Sương như khói vạt cỏ tranh đẫm ướt

          Lạnh đi ra từ ruột đất A So...

              ( Buổi sáng ở A So)

 

          Con đường mòn dốc ngược

         Ấy con đường hành quân.

            ( Điệp khúc hành quân đường núi)

 

    Đời lính trong chiến tranh thì gian nan vất vả, đói khát, sốt rét rừng… Nhưng Quang Chuyền vẫn có những vần thơ lạc quan:

            Ở hang sốt rét rụng tóc đầu

            Da xanh mà chả xanh xao nụ cười.

                     (Thơ viết ở rừng).

 

  Không ít những bài thơ anh nói về ngành thông tin:

          Lối mòn vào tổng đài

          Em khuất vào trong đá.

            ( Hoa trên vách đá).

 

          Đường dây vi vu về nơi đâu

         Vọng tiếng dây đi có tiếng gà nao nức

               (Tiếng gà trên trọng điểm)

 

   Dẫu trong gian khổ, chết chóc thơ anh vẫn lóe lên tình yêu mơ mộng:

          Cái khoảng xa kỳ diệu

          Cho chúng mình gặp nhau...

          Sao bàn tay lặng thinh

          Khi chúng mình giáp mặt?

              ( Tiếng nói bàn tay)

 

  Khi đất nước đã im tiếng súng, Quang Chuyền không ít lần đi tìm đồng đội đã hy sinh:

           Ở đây chôn dấu tháng ngày

           Chân dầm trong nước, mây bay trắng đầu

           Ở đây vùi lấp niềm đau

           Xác người, xác đất trong nhau ngập chìm.

               ( Tìm trong rừng đước)

 

     Trong cuộc sống vì công việc, mỗi lần anh tới đâu đều để lại những bài thơ:

                    Đi qua hai phía lở bồi

                 Tôi về tìm lại bóng người bên sông.

                    ( Bóng người bên sông)

 

      Vốn dĩ được sinh ra từ vùng quê Bắc Bộ; nên ngay từ thuở còn nằm trong nôi Quang Chuyền đã được nghe bà, hoặc mẹ... hát ru, phần nhiều những bài hát ru đều mang thể loại dân ca bằng vần điệu lục bát. Có lẽ vì vậy mà những vần thơ lục bát đã ngấm sâu vào tiềm thức của Quang Chuyền, vì vậy trong tập thơ này có nhiều bài thơ thể lục bát đã đi vào lòng người đọc:

   Viết về người mẹ của liệt sĩ, Quang Chuyền có những vần thơ như cháy lòng:

                    Mẹ ngừng nhai nửa miếng trầu

                   Lặng nhìn tấm ảnh nửa màu phôi phai

                   Thương con lòng mẹ chia hai

                    Nửa sau khung cửa, nửa ngoài mái hiên...

                    Nửa đêm nghe gió trở mùa

                   Nhớ, thương hai nửa lạnh lùa vào tim...

                              ( Nửa trời trăng khuyết)

 

        Trong hoàn cảnh nào những vần thơ lục của anh cũng vẫn mềm mại:

                  Con tàu vẫn chạy vòng quanh

                  Vòng quanh vẫn thấy viền xanh chân trời...

                         (Từ ô cửa sổ tàu đang chạy)

 

                  Xa kia có cánh đồng vàng/

                 Con cò vỗ cánh bay ngang chân trời...

                            ( Phía sau bờ tre)

 

                Nhà ta nửa lệch, nửa bằng

                Nắng chếch nửa sáng, sương giăng nửa chiều

                Cây nhang cháy nửa liêu xiêu

               Tóc em nửa bạc bởi nhiều buồn đau...

                         ( Nửa vầng trăng khuyết)

 

   Bước sang tuổi đã lên hàng ông bà, nhà thơ đã không khỏi ngỡ ngàng khi nhớ về người yêu cũ:

              Thuyền ai đậu ở bến này

              Người xưa chèo lái đưa ngày qua sông...

              Tôi tìm bến cũ người không

               Chỉ nghe sóng vỗ phập phồng bãi xa.

                          ( Bến xưa)

 

                Nụ hôn một nửa lên tàu

                Nửa rơi xuống chỗ bắt đầu chia xa...

                Hôm nay nơi ấy có người

                Qua ga bất chợt để rơi bóng mình.

                             ( Sân ga cuối)

 

   Nhưng người đọc phải ngỡ ngàng khi đọc bài lục bát bốn câu của nhà thơ Quang Chuyền đã ngoại lục tuần, về tính lãng mạn và si mê:

            Thà rằng lụt biển, lũ sông

            Sa chân lỡ bước...chết trong nổi chìm

            Ơ hay cái lúm đồng tiền

            Bé tí bé tẹo cũng dìm chết nhau.

               (Cái lúm đồng tiền - 2009)

 

  Khi tuổi đã xé chiếu nhà thơ vẫn mượn những vần lục bát tâm sự của riêng mình; nhưng câu thơ ít nhiều cũng vương vất trong tâm người đọc:

              Tìm vui trong nỗi thiệt thòi

               Học trăng năm tháng lẻ loi chẳng buồn...

               Sống đời người sợ điều chi

               Sợ ngày sợ tháng trôi đi nhạt nhòa...

 

    Con người không làm sao tránh khỏi quy luật: Sinh - lão - bệnh - tử, nhà thơ đã nhắc nhở mình và người đời:

                Người về đâu? Ta về đâu?

                Rồi ra chung một sắc màu cỏ xanh.

 

      Nhìn chung thơ Quang Chuyền phong phú về đề tài; những bước chân anh đi qua đều để lại dấu ấn bằng thơ. Tập thơ này gần như là cuốn nhật ký về thơ của một nhà thơ khoác áo lính. Từ ngữ trong thơ cũng dung dị, tinh tế, đằm thắm như tấm lòng của anh;  mang nhiều hoài niệm cảm xúc về quê hương, cha mẹ, đồng đội… ngôn từ không gồ ghề, gai góc. Hy vọng rằng dù ít nhiều cũng sẽ có những vần thơ còn lưu lại trong lòng người đọc.

                                         Sài Gòn cuối thu 2023.

V.T

         

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm