TIN TỨC

“Biển về bên sông” - Tập tuyện ký nhiều ám ảnh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-09 22:34:59
mail facebook google pos stwis
2396 lượt xem

  (Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cao Thanh Mai - nguyên Thượng tá, giáo viên Văn trường Quân sự QK9, đã nghỉ hưu, hội viên Hội Nhà văn Cần Thơ, rất đam mê văn chương, đã có nhiều truyện, ký đăng báo, tạp chí Trung ương và địa phương. Chị đã đoạt giải Tư với tác phẩm đầu tay “Trầu không xanh lá” (Giải thưởng viết về Nông nghiệp, Nông thôn, Nông dân Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2015). Năm 2018 chị cho ra mắt tiếp hai tập truyện ký: “Chim cánh cụt biết bay” (NXB Văn học, 2018) và tập “Biển về bên sông” (NXB Hội nhà văn - 2018). Năm 2021 lại xuất bản tiếp tập truyện ngắn “Về miền xa lắc” (NXB Quân đội nhân dân). Có thể nói trong 5 năm mà xuất bản được 4 tập truyện như vậy quả là bút lực rất dồi dao. Tập nào cũng chững chạc và để lại được dấu ấn trong lòng bạn đọc.

Nhà văn Cao Thanh Mai

       Với sáu truyện ngắn và hai mươi lăm bài ký, Cao Thanh Mai đã đề cập đến nhiều đề tài xoay quanh số phận những con người trong cuộc sống đời thường. Nhân vật đa phần là những phụ nữ, những em bé bất hạnh ở nhiều miền quê hay phố thị. Con người, cảnh vật trong truyện được hiển hiện dưới ngòi bút rất sống động qua cách kể, cách tả, cách phân tích tâm lý nhân vật và cách dẫn truyện rất tự nhiên như cuộc sống vốn có nhưng được chon lọc và nâng lên tầm khái quát.

      Truyện “Biển về bên sông” có thể xem là tiêu biểu cho bút pháp của tác giả. Chị đã khéo vận dụng các thủ pháp nghệ thuật, như: cách đặt tên truyện, tên nhân vật mang tính biểu trưng. Biển là tên nhân vật và Biển cũng là đại dương. Biển về bên Sông. Sông là nguồn cội là quê hương để nước chảy ra biển. Mẹ của Biển tên là Giang (sông), Ba của Biển là Hải (biển). Nhà văn Ilia Eren bua (người Nga) đã viết: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vài đại trường giang Vonga. Con sông Vonga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Từ lòng yêu sông yêu biển tác giả nâng lên tình yêu quê hương đất nước, tình yêu con người. Các nhân vật trẻ con của miền sông nước như: thằng Te, thằng Xe, thằng Tèo, thằng Biển nô đùa, nhảy nhót, bơi lội trên dòng sông thật hồn nhiên, đáng yêu. Cuộc sống buộc Biển phải xa bà, xa bạn để ra phố chợ sống với mẹ trong gian nhà trọ chặt hẹp tăm tối. Tác giả đã vẽ nên bức tranh tình người nơi phố thị thật đáng cảnh giác và nhạt nhẽo với nạn trộm cắp, lừa lọc, gái điếm… Và cuối cùng Biển đã gặp được ba nó là Hải, sau mười mấy năm xa cách mà lâu nay chịu tiếng “không cha’. Nhưng mẹ Giang có chập nhận ba hay không, câu chuyện còn bỏ lững: “Xin lỗi, anh nhầm rồi. Tôi chưa từng quen anh”. Còn Hải thì vẽ ra một cảnh đẹp có hậu: “Biển ơi, con sẽ là bờ vai cho mẹ con tựa vào. Lức nào nhớ con sông que con hãy chạy về tắm gội cho sạch bụi trần. Ở đó con sẽ thấy yên ả, thanh bình, khi những kỷ niệm của tuổi thơ ùa về, con sẽ hiểu mỗi người đều có cội nguồn., nếu ta không chê nó thì nó sẽ là bến bờ neo đậu hồn ta…Ngày nào đó ba sẽ đưa con thăm lại nơi con được sinh ra bên bờ biển xanh thẳm trải dài cát trắng. Từ sông quê ra biển lớn là cả một quá trình dài phải đánh đổi nhiều thứ”. Và kết thúc truyện theo lối bỏ ngõ (bỏ lửng) để người đọc tiếp tục “đồng sáng tạo” tìm ra ẩn số cho cuộc tình này giữa Giang và Hải.

     Cao Thanh Mai rất chú ý đến cách bố cục truyện mang tính hiện đại, khác với bố cục truyền thống có các sự kiện, sự việc bố trí theo trật tự thời gian, theo tuyến nhân vật đối lập: thiện-ác, đẹp-xấu, cao-thấp… Truyện đi từ lung khởi, dẫn dắt đến đỉnh điểm, xung đột và thường kết thúc có hậu. Thi pháp hiện đại mở rộng biên độ cho người sáng tác tự do lựa chọn thời gian, tuyến nhân vật, có thể đảo lộn nhưng phải theo một tư duy logic hợp lý. Với cách miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tác giả luôn tạo được những tình huống bất ngờ, có xung đột, kịch tính, miêu tả khi trực tiếp, khi gián tiếp dùng ngoại cảnh, hoặc nhân vật khác nhận xét để nói hộ, điều này chị tỏ ra rất vững vàng trong bút pháp.

      Những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống hôm nay đều có mặt trong truyện như: viết về sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ trong cuộc chiến mà ít người biết đến, những vết thương lòng khó giám định. Chỉ có những người trong hoàn cảnh ấy mới cảm thấy hết sự hy sinh cao đẹp và thầm lặng của người phụ nữ, nhất là những phụ nữ nông thôn chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh.

       Ở phần “Ký” mà chị gọi là “Tạp bút”, tôi rất ấn tượng với bài“Đi tìm quê cho ba”. Tác giả để lại trong lòng người đọc nhiều xúc động. Chị là người con hiếu thảo, và có một quyết tâm cao là phải tìm bằng được quê cha đất tổ ở Nam Định mà người cha già đã gần 80 tuổi vẫn chưa biết quê. Ba chị là một chiến sĩ cách mạng tù Côn Đảo, còn má mất sớm. Con tìm về quê nội của ba với quảng đường hàng ngàn cây số, bao vất vả, gian lao, dò tìm tung tích, đường xá như người mò kim đáy biển. Và ý nguyện của con như có sự linh ứng, sự mách bảo của tổ tiên, của những người cùng dòng họ trợ giúp. Và ước mơ ấy đã biến thành hiện thực. Chị ngậm ngùi kể lại: “Ba tôi là đứa con Cha Bắc mẹ Nam, lại mồ côi mẹ từ bé thiếu thốn tình cảm của người thân, nên mọi yêu thương ba dồn hết cho con, cho cháu. Ba là một chiến sĩ cách mạng từng là người tù giữa địa ngục trần gian nơi Côn Đảo. Tôi biết trong thâm tâm ba nghĩ gì và tôi thực hiện chuyến đi này. Cha mẹ không từ con. Quê hương luôn dang rộng vòng tay chào đón những người con xa xứ tìm về. Tôi đã giúp ba tìm về nơi ba muốn đến”. Ở bài ký này tác giả vận dụng thủ pháp: nghe, kể, nhìn, cảm đan xen, không một chút hư cấu. Cái tình chân thành là “điểm sáng” thẩm mỹ, là điểm nhấn trong bài ký. Những gì chị nghe, thấy, và cảm nhận, được sàng lọc chi tiết đưa vào bài viết, chứ không phải là một bản ghi chép chỉ kể lại lịch trình địa lý đi từ Nam ra Bắc như một bài báo đơn thuần.

      Với tập truyện ký “Biển về bên sông” chị đã cho người đọc thấy được nhiều cảnh đời, có lúc như “Cái cơi đựng trầu” không biết “Lá rụng về đâu” mà “Vì đâu nên nỗi”. Có khi lại thấy “Nước mắt quanh mi” và khi “Ngoảnh lại là người dưng”. Những thân phận người mưu sinh, người áo rách, những phận bạc, những ước mơ mong manh… Và những lời của má nói với con, những “Tiếng gọi ân tình” “Chạm tới tim mình” đều rưng rưng một nỗi niềm nhung nhớ theo con chữ đến với trái tim. Đặc biệt hai lá thư ở cuối tập sách “Thư cho em” như những lời gan ruột chắt ra từ những trăn trở, với những niềm vui và nỗi đau được viết sau chuyến đi thực tế Sóc Trăng và An Giang gửi cho người em đất Bắc.

      Ở truyện ngắn nào, bài ký nào của Cao Thanh Mai ta cũng thấy ánh lên vẻ đẹp nhân sinh cao cả qua giọng kể nhỏ nhẹ rất có duyên của người con gái mang hai dòng máu Nam – Bắc này. Tác phẩm góp phần thôi thúc ta phải làm gì để sống tốt hơn, phải đẩy lùi cái ác, cái xấu như những thứ rác rưởi đang lấn vào cuộc sống chúng ta. Cho dù, như chị nói “Sống play rất khó”.

     Đọc “Biển về bên sông” ta bị ám ảnh bởi truyện của chị viết về mảnh đất và con người nhiều vùng miền, đặc biệt là con người Nam Bộ rất sống động. Văn mạch, ngôn từ khá chuẩn mực, vì bản thân tác giả là một giáo viên Văn đam mê văn chương từ nhỏ. Giọng văn trong trẻo cuốn hút, thỏ thẻ ngọt ngào như “nước dừa xiêm” của người con gái Nam Bộ thật dễ thương. Ở mỗi truyện ký là một “lát cắt” của cuộc sống đương đại. Hình ảnh con người và thiên nhiên trong truyện mang đậm hồn cốt miệt vườn Nam Bộ đậm sắc thái dân tộc, đã tạo được dư ba cho người đọc. Tôi vẫn tin đường văn của Cao Thanh Mai sẽ còn tiến xa hơn nữa ở những tác phẩm tiếp theo. /.

                                                                                                                                                                                                                     Lê Xuân

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm