TIN TỨC

“Biển về bên sông” - Tập tuyện ký nhiều ám ảnh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-09 22:34:59
mail facebook google pos stwis
2222 lượt xem

  (Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cao Thanh Mai - nguyên Thượng tá, giáo viên Văn trường Quân sự QK9, đã nghỉ hưu, hội viên Hội Nhà văn Cần Thơ, rất đam mê văn chương, đã có nhiều truyện, ký đăng báo, tạp chí Trung ương và địa phương. Chị đã đoạt giải Tư với tác phẩm đầu tay “Trầu không xanh lá” (Giải thưởng viết về Nông nghiệp, Nông thôn, Nông dân Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2015). Năm 2018 chị cho ra mắt tiếp hai tập truyện ký: “Chim cánh cụt biết bay” (NXB Văn học, 2018) và tập “Biển về bên sông” (NXB Hội nhà văn - 2018). Năm 2021 lại xuất bản tiếp tập truyện ngắn “Về miền xa lắc” (NXB Quân đội nhân dân). Có thể nói trong 5 năm mà xuất bản được 4 tập truyện như vậy quả là bút lực rất dồi dao. Tập nào cũng chững chạc và để lại được dấu ấn trong lòng bạn đọc.

Nhà văn Cao Thanh Mai

       Với sáu truyện ngắn và hai mươi lăm bài ký, Cao Thanh Mai đã đề cập đến nhiều đề tài xoay quanh số phận những con người trong cuộc sống đời thường. Nhân vật đa phần là những phụ nữ, những em bé bất hạnh ở nhiều miền quê hay phố thị. Con người, cảnh vật trong truyện được hiển hiện dưới ngòi bút rất sống động qua cách kể, cách tả, cách phân tích tâm lý nhân vật và cách dẫn truyện rất tự nhiên như cuộc sống vốn có nhưng được chon lọc và nâng lên tầm khái quát.

      Truyện “Biển về bên sông” có thể xem là tiêu biểu cho bút pháp của tác giả. Chị đã khéo vận dụng các thủ pháp nghệ thuật, như: cách đặt tên truyện, tên nhân vật mang tính biểu trưng. Biển là tên nhân vật và Biển cũng là đại dương. Biển về bên Sông. Sông là nguồn cội là quê hương để nước chảy ra biển. Mẹ của Biển tên là Giang (sông), Ba của Biển là Hải (biển). Nhà văn Ilia Eren bua (người Nga) đã viết: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vài đại trường giang Vonga. Con sông Vonga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Từ lòng yêu sông yêu biển tác giả nâng lên tình yêu quê hương đất nước, tình yêu con người. Các nhân vật trẻ con của miền sông nước như: thằng Te, thằng Xe, thằng Tèo, thằng Biển nô đùa, nhảy nhót, bơi lội trên dòng sông thật hồn nhiên, đáng yêu. Cuộc sống buộc Biển phải xa bà, xa bạn để ra phố chợ sống với mẹ trong gian nhà trọ chặt hẹp tăm tối. Tác giả đã vẽ nên bức tranh tình người nơi phố thị thật đáng cảnh giác và nhạt nhẽo với nạn trộm cắp, lừa lọc, gái điếm… Và cuối cùng Biển đã gặp được ba nó là Hải, sau mười mấy năm xa cách mà lâu nay chịu tiếng “không cha’. Nhưng mẹ Giang có chập nhận ba hay không, câu chuyện còn bỏ lững: “Xin lỗi, anh nhầm rồi. Tôi chưa từng quen anh”. Còn Hải thì vẽ ra một cảnh đẹp có hậu: “Biển ơi, con sẽ là bờ vai cho mẹ con tựa vào. Lức nào nhớ con sông que con hãy chạy về tắm gội cho sạch bụi trần. Ở đó con sẽ thấy yên ả, thanh bình, khi những kỷ niệm của tuổi thơ ùa về, con sẽ hiểu mỗi người đều có cội nguồn., nếu ta không chê nó thì nó sẽ là bến bờ neo đậu hồn ta…Ngày nào đó ba sẽ đưa con thăm lại nơi con được sinh ra bên bờ biển xanh thẳm trải dài cát trắng. Từ sông quê ra biển lớn là cả một quá trình dài phải đánh đổi nhiều thứ”. Và kết thúc truyện theo lối bỏ ngõ (bỏ lửng) để người đọc tiếp tục “đồng sáng tạo” tìm ra ẩn số cho cuộc tình này giữa Giang và Hải.

     Cao Thanh Mai rất chú ý đến cách bố cục truyện mang tính hiện đại, khác với bố cục truyền thống có các sự kiện, sự việc bố trí theo trật tự thời gian, theo tuyến nhân vật đối lập: thiện-ác, đẹp-xấu, cao-thấp… Truyện đi từ lung khởi, dẫn dắt đến đỉnh điểm, xung đột và thường kết thúc có hậu. Thi pháp hiện đại mở rộng biên độ cho người sáng tác tự do lựa chọn thời gian, tuyến nhân vật, có thể đảo lộn nhưng phải theo một tư duy logic hợp lý. Với cách miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tác giả luôn tạo được những tình huống bất ngờ, có xung đột, kịch tính, miêu tả khi trực tiếp, khi gián tiếp dùng ngoại cảnh, hoặc nhân vật khác nhận xét để nói hộ, điều này chị tỏ ra rất vững vàng trong bút pháp.

      Những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống hôm nay đều có mặt trong truyện như: viết về sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ trong cuộc chiến mà ít người biết đến, những vết thương lòng khó giám định. Chỉ có những người trong hoàn cảnh ấy mới cảm thấy hết sự hy sinh cao đẹp và thầm lặng của người phụ nữ, nhất là những phụ nữ nông thôn chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh.

       Ở phần “Ký” mà chị gọi là “Tạp bút”, tôi rất ấn tượng với bài“Đi tìm quê cho ba”. Tác giả để lại trong lòng người đọc nhiều xúc động. Chị là người con hiếu thảo, và có một quyết tâm cao là phải tìm bằng được quê cha đất tổ ở Nam Định mà người cha già đã gần 80 tuổi vẫn chưa biết quê. Ba chị là một chiến sĩ cách mạng tù Côn Đảo, còn má mất sớm. Con tìm về quê nội của ba với quảng đường hàng ngàn cây số, bao vất vả, gian lao, dò tìm tung tích, đường xá như người mò kim đáy biển. Và ý nguyện của con như có sự linh ứng, sự mách bảo của tổ tiên, của những người cùng dòng họ trợ giúp. Và ước mơ ấy đã biến thành hiện thực. Chị ngậm ngùi kể lại: “Ba tôi là đứa con Cha Bắc mẹ Nam, lại mồ côi mẹ từ bé thiếu thốn tình cảm của người thân, nên mọi yêu thương ba dồn hết cho con, cho cháu. Ba là một chiến sĩ cách mạng từng là người tù giữa địa ngục trần gian nơi Côn Đảo. Tôi biết trong thâm tâm ba nghĩ gì và tôi thực hiện chuyến đi này. Cha mẹ không từ con. Quê hương luôn dang rộng vòng tay chào đón những người con xa xứ tìm về. Tôi đã giúp ba tìm về nơi ba muốn đến”. Ở bài ký này tác giả vận dụng thủ pháp: nghe, kể, nhìn, cảm đan xen, không một chút hư cấu. Cái tình chân thành là “điểm sáng” thẩm mỹ, là điểm nhấn trong bài ký. Những gì chị nghe, thấy, và cảm nhận, được sàng lọc chi tiết đưa vào bài viết, chứ không phải là một bản ghi chép chỉ kể lại lịch trình địa lý đi từ Nam ra Bắc như một bài báo đơn thuần.

      Với tập truyện ký “Biển về bên sông” chị đã cho người đọc thấy được nhiều cảnh đời, có lúc như “Cái cơi đựng trầu” không biết “Lá rụng về đâu” mà “Vì đâu nên nỗi”. Có khi lại thấy “Nước mắt quanh mi” và khi “Ngoảnh lại là người dưng”. Những thân phận người mưu sinh, người áo rách, những phận bạc, những ước mơ mong manh… Và những lời của má nói với con, những “Tiếng gọi ân tình” “Chạm tới tim mình” đều rưng rưng một nỗi niềm nhung nhớ theo con chữ đến với trái tim. Đặc biệt hai lá thư ở cuối tập sách “Thư cho em” như những lời gan ruột chắt ra từ những trăn trở, với những niềm vui và nỗi đau được viết sau chuyến đi thực tế Sóc Trăng và An Giang gửi cho người em đất Bắc.

      Ở truyện ngắn nào, bài ký nào của Cao Thanh Mai ta cũng thấy ánh lên vẻ đẹp nhân sinh cao cả qua giọng kể nhỏ nhẹ rất có duyên của người con gái mang hai dòng máu Nam – Bắc này. Tác phẩm góp phần thôi thúc ta phải làm gì để sống tốt hơn, phải đẩy lùi cái ác, cái xấu như những thứ rác rưởi đang lấn vào cuộc sống chúng ta. Cho dù, như chị nói “Sống play rất khó”.

     Đọc “Biển về bên sông” ta bị ám ảnh bởi truyện của chị viết về mảnh đất và con người nhiều vùng miền, đặc biệt là con người Nam Bộ rất sống động. Văn mạch, ngôn từ khá chuẩn mực, vì bản thân tác giả là một giáo viên Văn đam mê văn chương từ nhỏ. Giọng văn trong trẻo cuốn hút, thỏ thẻ ngọt ngào như “nước dừa xiêm” của người con gái Nam Bộ thật dễ thương. Ở mỗi truyện ký là một “lát cắt” của cuộc sống đương đại. Hình ảnh con người và thiên nhiên trong truyện mang đậm hồn cốt miệt vườn Nam Bộ đậm sắc thái dân tộc, đã tạo được dư ba cho người đọc. Tôi vẫn tin đường văn của Cao Thanh Mai sẽ còn tiến xa hơn nữa ở những tác phẩm tiếp theo. /.

                                                                                                                                                                                                                     Lê Xuân

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm