TIN TỨC

Thạch Lam: Bóng hoàng lan xao động

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-03-25 09:45:05
mail facebook google pos stwis
2631 lượt xem

“Nga đến, trên con đường lát gạch Bát Tràng rêu phủ dưới vòm sáng vắt ngang mái tóc. Thanh từ trên tràng kỷ lẳng lặng ngồi dậy, cố giấu đi phút xáo động của niềm hân hoan. Là nàng, người con gái vẫn nhặt hoa hoàng lan với chàng thuở nhỏ….”. Những dòng văn nhẹ như áng thơ ấy dẫn Thanh bước vào tình yêu tuổi trẻ, dẫn ta bước vào thế giới trong như một mảnh trời xanh của Thạch Lam.

Chất thơ trong từng trang viết

Tấu khúc của văn chương là một bản cello với những giai âm đa tầng. Chúng rung lên như một chiếc lá giữa những đợt chuyển mình của gió, dìu dặt đón lấy hơi thở của đất trời rồi thả mình chao liệng giữa thinh không. Trong đó, tôi nghĩ những nốt trầm nhẹ bẫng dành riêng cho Thạch Lam, ông gảy nên nốt Đô rồi thả tay đến âm Rê, sẽ sàng chuyển sang Mi, còn Sol sẽ là bậc âm cao nhất, cũng là bậc âm cuối cùng. Có người bảo thứ văn ấy nhẹ như những cánh bướm non khẽ đậu trên trang giấy, chúng đậu vào lòng người bằng thế giới nghệ thuật được khúc xạ qua lăng kính của ông.


Nhà văn Thạch Lam.

Khác với những cây bút của “Tự lực văn đoàn”, đề tài quen thuộc của Thạch Lam không phải những cảnh sống được thi vị hóa, những mơ ước thoát ly, những phản kháng yếu ớt trước sự trói buộc của lề thói đạo đức phong kiến như “Đoạn tuyệt”, “Hồn bướm mơ tiên”… Thạch Lam, trái lại, đã hướng ngòi bút về những phận đời bé mọn trong xã hội. Họ là người trí thức, người nông dân, người lao động phải vật lộn giữa hiện thực và ước mơ. Đó là hai đứa trẻ thức đợi đoàn tàu trên một phố huyện nghèo (Hai đứa trẻ), là tình yêu chớm nở giữa Thanh và Nga (Dưới bóng hoàng lan), là cô Tâm hàng xén, đôi hàng gánh cong xuống và rên rỉ (Cô hàng xén), là mùa đông xứ Bắc, hai chị em Sơn lén mẹ lấy áo bông cũ tặng cái Hiên đang tím tái vì gió lạnh (Gió lạnh đầu mùa),…

Thật ra, mỗi nhà văn đều có những không gian nghệ thuật của riêng mình. Mạc Ngôn có vùng quê Cao Mật tiêu điều, rách nát, ám ảnh trong những niềm “hoan lạc”, Nguyễn Tuân có không gian ký vãng được dựng nên từ hồi ức và cái đẹp cổ kính, với Thạch Lam nơi ông thả những suy nghĩ xuống trang giấy là phố huyện Cẩm Giàng. Dưới ánh trăng lợt lạt màu xám bạc như gương mặt của thị xã, ông lắng nghe cuộc đời.

Màu xanh trong văn Thạch Lam tĩnh lặng, như thứ mực xanh lắng lại dưới đáy của một ly nước mát. Từ đó, những miền đời cô tịch dần hiện lên trên bức phông nền không gian, thời gian. Khung cảnh thường thấy là những làng quê xứ Bắc, những khu chợ tồi tàn với bầu trời ảm đạm của tiết đông mưa phùn, những phố huyện nghèo khổ, thê lương. Trữ tình, ấm áp và nhẹ nhàng, thế giới ấy bất chấp những khái niệm về cốt truyện thông thường, đã kể những chuyện tình ngọt ngào nhất thế gian mà cũng buồn bã nhất thế gian.

Một thứ văn chương với những vực xoáy, những run rẩy, những cuồng nhiệt, những rụt rè, những tàn phai. Lam không bắt ta bước vào một mê cung ngột ngạt, một cuộc rượt đuổi điên cuồng nhưng những tình tiết dù nhỏ nhặt vẫn làm người đọc phải bồi hồi, suy ngẫm. Đan xen vào những ký ức buồn vui của tuổi mới lớn, trong sáng và mong manh như những hạt sương là ký ức tuổi thơ, tình yêu thời son trẻ, tình cảm gia đình và cả những rung động ngây ngô những năm thiếu thời. Phải thôi, vì từ niên thiếu, Thạch Lam đã gắn đời mình vào đời của những người nghèo sớm bị đẩy vào miền lãng quên của thời cuộc.


“Gió lạnh đầu mùa” là tập truyện ngắn đầu tiên của Thạch Lam, xuất bản năm 1937.

Ở không gian nghệ thuật ấy luôn có sự xuất hiện giữa ánh sáng và bóng tối. Trong Hai đứa trẻ, những đốm vàng le lói mà Thạch Lam vẽ là sự tàn lụi chăng? Không, chúng là những vì sao. Lam đi bắt sao. Ông không vẽ về lãng quên vì cuộc đời đã quá nhiều những bi ai, đoạn tuyệt, con người thì chẳng nên để cuộc đời nhuốm màu xám tro. Nên Lam không than khóc, ông cho chúng ta chút ánh sáng le lói về đời. Thạch Lam là vậy, một mình một kiểu theo lối rẽ riêng.

Giữa nhịp đời đen tối, nhàn nhạt, chỉ có bóng đêm, Thạch Lam vẫn vẽ ánh sáng, rồi vẽ những vệt sáng qua khung cửa sổ, vẽ cỏ cây, vẽ những con người khốn khổ háo hức đợi đoàn tàu, sự sống tràn vào trang viết của Thạch Lam, phố huyện bừng sáng, cuộc đời căng mọng, ước mơ lại đâm chồi. Ông vẽ những căn nhà với những bóng hoàng lan, những tấm rèm phơ phất, những cuộc tình tươi đẹp, người chủ của những căn nhà ấy hẳn là rất yêu đời, chỉ khi yêu đời người ta mới trang hoàng nhà cửa. Chán đời người ta chẳng thiết tha.

Văn chương khiến “người gần người” hơn

Trong những tác phẩm của mình, Thạch Lam khiến tôi nhớ đến Fyodor Dostoevsky như một người thầy với triết lý nổi tiếng “Cái đẹp cứu rỗi thế giới!”. Dostoevsky viết trang nhật ký của kẻ mộng mơ, ông từng sa vào nỗi cô đơn, vào bệnh tật, vào những cơn thiếu ngủ, vào những tranh đấu bên trong bản ngã của con người. Và một trong hai văn hào vĩ đại nhất nước Nga đã viết thế này: “Con người thỉnh thoảng, bằng một tình cảm phi thường và nồng nhiệt, họ yêu sự đau khổ: đó chính là sự thật.” Theo Dostoevsky, sự đau khổ luôn đeo đuổi chúng ta, cuộc đời chỉ là một tiến trình thay đổi trọng tâm của nỗi đau chứ không thể nào di dời nỗi đau, sẽ luôn có thứ gì đó làm chúng ta đau đớn.

Còn với Nguyễn Tường Vinh “Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật bình thường. Công việc của nhà văn là phải hiểu cái đẹp ở chính chỗ mà người ta không ngờ tới”, song chính bản thân Thạch Lam cũng từng tâm sự rằng: “Xét cho cùng, ở đời ai cũng khổ. Người khổ cách này, người cách khác. Bí quyết là biết tìm cái vui trong cái khổ. Vì chỉ sống thôi cũng đã quý lắm rồi. Người ta không bao giờ nên phí phạm cái sống, coi thường cái sống”.

Thạch Lam là một thi sĩ, ngay cả khi viết truyện ngắn ông cũng là một thi sĩ hơn là một văn gia, và ông đã làm đúng như những gì Dostoevsky đặt ra. Mỗi truyện ngắn của ông như một bài thơ về những thân phận nhỏ bé, côi cút và bất hạnh, gợi sự thương cảm, xót xa sâu sắc của tình người. Ông nuốt hết mọi chất độc, ông căng hồn mình như một cánh diều no gió rồi lắng nghe cuộc đời thổi vào đó những hợp âm.

Nhưng nếu không như thế, Lam sẽ không thể viết ra những câu văn đầy chất thơ, rằng “bóng tối dịu và man mát loáng qua những màu sắc rực rỡ”, “sương mù xuống phủ cả cánh đồng, và gió lạnh nổi lên: Tâm thu vạt áo lại cho đỡ rét, lần theo bờ cỏ đi”, rằng “con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu”.

Xúc cảm ấy chỉ có thể bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê. Thạch Lam biến đổi những chất liệu thô từ hiện thực thành hình tượng, những chất liệu thị giác thành chất liệu xúc giác, ông đi từ thế giới này sang thế giới kia như đã biết lối tắt dẫn hiện thực vào giấc mơ, ông là một nhà văn lãng mạn đích thực.

Phạm Quỳnh, chủ báo Nam Phong từng viết: “Người ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim. Người Tàu định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhưng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy”.

Trong những năm 1930, cái nghịch lý hiển nhiên, sự đối thoại trực diện của chủ nghĩa lãng mạn với một nề nếp thơ ca chở đạo đã tạo ra một cơn địa chấn, khai nguyên một ngôn ngữ mới. Trên quãng đôi mươi, Thạch Lam bước vào văn đàn với tất cả mộng ước và nhạy cảm của một tâm hồn yêu sự sống. Tương tự tư tưởng của các cây bút cùng thời, ông vắt ra từ thế giới nội tâm của con người những đớn đau, quằn quại.

Ông coi văn chương là cái đẹp man mác len lỏi khắp thế gian. Nhưng hơn tất cả chúng phải là một thứ khí giới “thanh cao và đắc lực”, vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm “trong sạch và phong phú hơn”. Ta đọc văn ông như nghe một chiếc đĩa than trên máy hát, chạy hết lớp giai điệu này đến lớp giai điệu khác, miên man, trầm bổng nhưng vẫn đủ khiến ta tỉnh táo để trăn trở và suy tư.

Đã mấy chục năm trôi qua, trong dòng chảy văn chương cuộn xoáy, đôi người đã đến, đôi người rời đi. Nhưng Thạch Lam vẫn là một dấu ấn đặc biệt, nhẹ nhàng như bóng hoàng lan nhưng vẫn khiến tôi xáo động cõi lòng.

Tôi ước sao có thể ôm lấy cuộc sống một cách thắm thiết như anh, Thạch Lam ạ. Thật may, anh bảo luôn có hoàng lan cho những kẻ muốn nhìn chúng.

 Phan Thiên Di/VNCA

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm