TIN TỨC

Nhẹ nhàng bài ca cuộc sống nơi “Những cơn mưa thu” của Thanh Tám

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-19 22:53:20
mail facebook google pos stwis
425 lượt xem

ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Thanh Tám, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Lai Châu là cây viết truyện ngắn khá quen thuộc với bạn đọc. Một số truyện ngắn của Thanh Tám đã được đăng tải trên các trang báo sang trọng Báo Văn nghệ, Trang báo điện tử Vanvn.vn của Hội Nhà văn Việt Nam. Một trong những truyện ngắn của em, tôi tin rằng nhiều người thiện cảm, đó là truyện ngắn Những cơn mưa thu. Một câu chuyện gọn gàng, xinh xắn, gợi trong lòng độc giả những ấm áp, yêu thương như giọng văn nhẹ nhàng, truyền cảm của tác giả vậy.

 

Nhà văn Đỗ Nguyên Thương

 

Truyện ngắn Những cơn mưa thu đã in ở Tạp chí Văn nghệ Lai Châu mở đầu bằng hình ảnh “Mưa rả rích kéo dài cả tháng. Những cơn mưa rừng như thế này làm cho tiết trời ngày hạ trở lên lành lạnh”, từ giọng văn, hình ảnh đến ngôn ngữ, gợi lên trong lòng người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, thanh tao. Bỗng nhiên, tôi bỗng nhớ câu văn của Thạch Lam trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, đoạn mở đầu cũng êm ả “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru” … Truyện ngắn Những cơn mưa thu của Thanh Tám mở ra trong không gian mưa thu, mưa rừng với hình ảnh nhân vật Dịu, Dịu đang khóc vì nhớ mẹ, muốn gửi gắm qua câu chữ “tất cả những cảm xúc của người con xa xứ về người mẹ thân yêu ở miền mây trắng nơi quê nhà”. Mẹ Dịu đã mất, lẽ thường vợ chồng Dịu và con gái sẽ về quê thắp hương ngày giỗ mẹ. Nhưng lần này, chỉ Khâm (chồng Dịu) và con gái về quê. Dịu không về được vì lý do sức khỏe, lại đang thời kỳ thai nghén. Ai là phụ nữ hẳn đều hiểu, thông cảm sâu sắc cho lý do này, nghén là một giai đoạn trong thai kỳ, thường là trong ba tháng đầu. Khi đó, phụ nữ nào nghén nhẹ cũng mệt mỏi, nghén nặng thì nôn, không muốn ăn. Đã hai tháng nay, Dịu ở vào tình trạng đó, “không nuốt nổi một chút thức ăn nào vào bụng. Chỉ cần thức ăn đi qua họng thì lập tức nó quay lại nơi bắt đầu và trào ra. Đến cả sữa Dịu cũng không uống được” nên đành lỡ ngày “húy nhật” của mẹ. Dịu tha hồ khóc khi vắng chồng con, tha hồ khóc bởi nhớ thương và thấy mình có lỗi với mẹ. Vâng, cảm giác tội lỗi ấy cũng là một lẽ thường tình. Nhất lại là tình cảm mẫu tử, giữa mẹ và con gái, yêu thương, gắn bó có một không hai trong cuộc đời này. Và thổn thức trong mưa rừng mùa thu, Dịu nhớ lại những kỷ niệm của 10 năm trước, khi đó Miền anh trai Dịu và Khâm (khi đó là bạn Miền, nay là chồng Dịu) cùng nộp đơn lên dạy học ở Lai Châu, sau khi nộp đơn nhiều nơi ở các tình miền xuôi mà không được tuyển dụng “các tỉnh miền xuôi dư thừa giáo viên do đào tạo ồ ạt” và cả hai anh được nhận công tác tại Lai Châu. Mảnh đất đó, trong ý thức của người dân miền xuôi nói chung và bố mẹ Dịu nói riêng, là một vùng núi xa lắc. Thời đó, giao thông chưa thuận tiện bởi đường sá chưa tốt, cho nên cái cảm giác xa vời vợi càng ám ảnh cha mẹ của Dịu. Chính vậy, “các cụ” giận anh Miền, giận cả Khâm bởi Khâm là người thông báo cho Miền biết thông tin anh xem được trên ti vi là Lai Châu đang thiếu giáo viên, đang có nhu cầu tuyển dụng… Khi nhận giấy báo trúng tuyển, Miền vui bao nhiêu thì cha mẹ anh buồn và lo lắng bấy nhiêu. Mẹ thương con đi xa tận tỉnh biên giới, cha vừa thương vừa lo một nỗi lo rằng con trai đến nơi rừng thiêng nước độc, chuyện vợ con sẽ ra sao khi gia đình anh đang ở tình trạng “độc đinh”. Mẹ khóc cả tuần, cha giận lây sang cả anh Khiêm. Những nỗi lo và sự phản ứng có vẻ tiêu cực ấy lại chính là thước đo tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái. Hiểu tấm lòng cha mẹ, nhưng hai thanh niên Miền và Khiêm vẫn quyết chí ra đi, lập nghiệp ở một tỉnh vùng biên giới.

Rồi một ngày không xa, Dịu lại đi học sư phạm, sau chuyến thăm anh trai ở Lai Châu, thấy tình đồng nghiệp, tình thầy trò, tình làng nghĩa xóm của cư dân nơi anh trai công tác rất ấm áp, Dịu đã nghe theo các anh, nghe theo tiếng gọi của trái tim mình và lại lên Lai Châu dạy học, rồi nên duyên vợ chồng với Khâm. Anh Miền cũng yên bề gia thất tại mảnh đất biên giới Lai Châu. Sau khi mẹ mất, anh Miền muốn đón cha lên nhưng cha anh từ chối vì còn ở quê chăm lo hương khói cho mẹ, chỉ mong các con giỗ tết về thăm là vui rồi.

Câu chuyện được kể với giọng điệu nhẹ nhàng, chân chất. Cốt truyện gọn, bố cục mạch lạc, tình huống không gay cấn nhưng có sự hấp dẫn đối với độc giả. Người đọc hồi hộp cùng Dịu khi Dịu chưa biết thưa chuyện với cha mẹ như thế nào bởi phản ứng khá dữ dội của cha mẹ khi con trai lên Lai Châu dạy học, giờ Dịu lại lên Lai Châu…Người đọc vui cùng niềm vui của Dịu khi ước mơ thành hiện thực. Đất Lai Châu mến khách, học sinh Lai Châu ngoan ngoãn, đáng yêu. Và Lai Châu, trở thành nơi gắn bó với anh em Dịu, vợ chồng Dịu, vợ chồng anh Miền.

Yêu nghề, yêu trẻ nên Miền, Khâm, Dịu vừa dạy, vừa dỗ học sinh, vừa làm công tác tuyên truyền với phụ huynh học sinh “đến nhà học sinh vận động bố mẹ bọn trẻ cho bọn trẻ đến lớp vào đầu năm học mới”. Các thầy cô miền xuôi lên lập nghiệp vùng cao còn lên nương cắt lúa, thu ngô giúp phụ huynh, tạo thiện cảm để “dân vận” cho học sinh được đi học. Sự kiên nhẫn và kỳ công còn thể hiện rõ rệt khi các thầy cô đến tận nhà phụ đạo kiến thức cho học sinh, bất chấp thời tiết mưa hay nắng. Không chỉ dạy trẻ, anh Miền còn đi dạy phổ cập cho thanh niên chưa tốt nghiệp trung học cơ sở.

Dịu nhớ lại ngày ấy, khi Dịu lên thăm anh trai vào một ngày Lai Châu mưa như thác đổ, anh Miền và thầy hiệu trưởng đi dạy phổ cập, cô tranh thủ đọc sách, rồi có lúc cùng anh trai đi dạo quanh bản làng, trong sắc đẹp của hoàng hôn, gặp các chị phụ nữ dân tộc Lự răng đen nhánh như hạt na, thân thiện, gần gũi. Rồi tình yêu nghề của anh Miền, anh Khâm đã truyền lửa cho Dịu. Sau khi tốt nghiệp, cô lên Lai Châu cùng hai anh, bởi lời căn dặn và cái bắt tay thật chặt của anh Khâm, Anh nói nhỏ: “Em đi đường bình an. Năm học mới, các trò nhỏ được gặp lại cô Dịu!” với ánh mắt chứa chan hy vọng… và chính những cặp mắt trong veo của bọn trẻ ở bản Ma Sao, cặp mắt hiền hiền chứa chan hi vọng của anh Khâm cứ bám chặt lấy Dịu… và bởi duyên kỳ ngộ, họ cùng trở thành công dân tốt, giáo viên tâm huyết, trách nhiệm nơi vùng cao, được học sinh tin yêu, phụ huynh quý mến.

Trong đêm mưa rừng, Dịu nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp, mặc mưa rơi, tâm trạng khá dần lên với những hy vọng tươi sáng bởi “Dịu biết, chỉ ít ngày nữa thôi thì những cơn mưa dai dẳng kia sẽ kết thúc nhường không gian cho mùa thu rộn rã tiếng trống ếch khai trường”. Vâng, đã là quy luật “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Bất luận trong hoàn cảnh nào, chỉ cần con người ta có niềm tin thì tương lai sẽ tươi sáng. Tiếng trống khai trường là âm thanh của rộn rã niềm vui cuộc sống. Kết thúc truyện ngắn như vậy, Thanh Tám gieo vào lòng người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, một niềm tin vào ngày mai tươi sáng, giúp người đọc hiểu và thêm yêu mảnh đất, con người Lai Châu.

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm