TIN TỨC

Tôi được tái sinh từ hai sắc màu - Võ Kim Phượng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-01 09:37:43
mail facebook google pos stwis
1525 lượt xem

VŨ THANH HOA

Võ Kim Phượng là hội viên thế hệ 9X, lứa trẻ nhất trong Hội VHNT Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Thời cả nước phải cầm cự trong nhà vì đại dịch Covid, tôi có thời gian đọc nhiều và viết về các hội viên Hội VHNT Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và đã đưa lên vuthanhhoa.com giới thiệu chùm thơ của Phượng (tại đây).

 

PHƯỢNG ĐÃ TRỞ LẠI

Xem ra thì tuổi đời tôi cũng kha khá rồi mà tuổi nghề cũng đã lâu năm, từng được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Văn học rồi đến Trưởng Ban biên tập báo Văn Nghệ Tỉnh BR-VT, tôi lại có trang website cá nhân đã hơn chục năm nên có nhiều cơ hội, có sự quan sát đa chiều, theo dõi chặt chẽ các cây bút trong Ban Văn Học nói riêng và cả các Ban khác trong Hội VHNT Tỉnh BR-VT. Thú thực, ban đầu tôi không mấy ấn tưọng về thơ của Phượng bởi tôi không tìm thấy một góc nhìn riêng của người trẻ đúng với thế hệ mình mà thơ Phượng vẫn loay hoay trong vòng an toàn, nhè nhẹ, ru thân ru phận và cả những nỗi đau cũng nhàn nhạt, không màu, không mới.

Tôi nhớ trong một bài phỏng vấn nhà thơ Trần Nhuận Minh, Uỷ viên Hội đồng thơ - Hội Nhà Văn VN, ông đã xuất bản 49 tác phẩm trong và ngoài nước, và ông là anh ruột của nhà thơ Trần Đăng Khoa, có nhận xét rằng: “Chúng ta đang chứng kiến cuộc bàn giao không thành công giữa lớp nhà thơ đi qua chiến tranh và lớp nhà thơ sinh ra khi đất nước đổi mới. Lớp trước vào đổi mới thì có cái cũ mà đổi ra thành mới, nhưng không tạo ra được những tác phẩm mẫu mực, có tính chất mở đường. Các nhà thơ sinh ra sau chiến tranh, tự nó đã mới, không có gì phải đổi.” Chắc chắn ý kiến này còn nhiều tranh luận nhưng với nhận xét: "Các nhà thơ sinh ra sau chiến tranh, tự nó đã mới" - điều này có lẽ đúng, bởi theo tôi thấy, hệ tư duy của người trẻ, sự quan sát của người trẻ hiển nhiên là phải mới, phải lạ so với những người đi trước! Ấy thế mà đọc những câu thơ của người trẻ lại không thấy mới, không thấy đột phá, thấy na ná những bài thơ của "tiền bối" cả về ngôn từ và thi ảnh, phải chăng là một bước lùi, là đi ngược với lộ trình của chính mình?

Còn nhớ, để cử hai hội viên của Hội Bà Rịa Vũng Tàu đi dự Hội nghị những người viết văn trẻ (dưới 35 tuổi) toàn quốc lần thứ X (6-2022) Ban Chấp Hành Hội VHNT BR-VT đã rất vất vả không chỉ vì danh sách gửi muộn mà còn vì so với mặt bằng chung cả nước với 138 đại biểu tham dự, trong đó 119 đại biểu là các cây bút trẻ tiêu biểu đến từ tất cả các vùng miền trong cả nước, 19 đại biểu là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam dù tuổi đời từ 35 trở xuống nhưng khá nhiều tác giả sở hữu một hoặc nhiều giải thưởng văn chương khác nhau. Tuy tuổi đời còn trẻ nhưng có tác giả đã xuất bản bốn, năm tiểu thuyết, tập truyện ngắn hay vài tập thơ. Một số đại biểu đến từ những gia đình có truyền thống văn chương, có bố mẹ hoặc ông bà là nhà văn. Địa phương có đại biểu đông nhất là Hà Nội (27 đại biểu) và TP Hồ Chí Minh (22 đại biểu). Hội VHNT Bà Rịa- Vũng Tàu có Võ Kim Phượng và Đặng Ân đủ điều kiện về độ tuổi nhưng còn có khoảng cách xa với nhiều địa phương khác về thành tích văn học. Thấy điều kiện khó khăn, tôi phải trực tiếp xin số điện thoại Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều và nhà thơ Trần Hữu Việt lúc ấy là Trưởng ban Văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam để trình bày "hoàn cảnh của Hội VHNT Tỉnh BR-VT", may mắn được các anh thông cảm và nhiệt tình ủng hộ, hai nhà văn trẻ của BR-VT còn được Tỉnh tài trợ kinh phí, phương tiện đi lại để kịp ngày ra dự hội nghị. Nhưng rồi khi hai văn trẻ của chúng ta bay từ tầng mây xanh Đà Nẵng trở về với mảnh đất BR-VT dấu yêu, cũng chưa thấy họ bung nở rực rỡ những đóa thơ là mấy! Võ Kim Phượng "mất hút" một thời gian dài, thậm chí còn có ý định xin ra khỏi Hội! Nghe có người kể lại vậy tôi cũng giận, bảo như thế là công lao đi vận động cho các em dự Hội nghị, rồi động viên, cổ vũ cho các em sáng tác, tài trợ kinh phí cho các em đi lại của anh Hồng, anh Lương, chị Hoa đã phí phạm sao?

Rồi bẵng đi một thời gian tôi cũng còn bao việc mà quên đi mọi sự, vả lại tôi còn lạ gì các nhà văn, nhà thơ của chúng ta, cứ luôn tỏ ra "Không cần quan tâm đến thế giới nhưng thế giới phải luôn thấu hiểu mình!". Đến một ngày kia, Võ Kim Phượng nhắn trong nhóm: "Ban Văn Học có cần sự phụ giúp gì không, con sẵn sàng!" Và thấy em ấy bắt đầu "xuất đầu lộ diện" trong các buổi sinh hoạt Hội, nhóm, đồng thời các trang viết cũng dày dặn lên, sự góp mặt trên các trang Văn Nghệ cũng bắt đầu nóng lại. Tôi ngồi xa quan sát và mỉm cười: Có lẽ cô bé ấy đã trưởng thành!
 

SỰ THỐNG KHỔ TỘT CÙNG VÀ THƠ

Thế rồi một lần vô tình tôi lướt Facebook và đọc được bài thơ Phượng mới post lên:

 

HAI SẮC MÀU
 

Bằng cách nào tôi đã chui tọt vào bức tranh của anh

Tôi căng mắt nhìn anh

Anh nghiễm nhiên chơi đùa với hai sắc màu đen trắng

Anh ký họa nỗi buồn tôi đặc quánh

Ôi! Kẻ cô đơn ngạo nghễ chính mình.

 

Tự lúc nào anh đã sở hữu cả đôi mắt tôi

Đôi mắt tự do được khai sinh lúc niềm đau trở dạ

Cũng chỉ với hai sắc màu đen trắng

Anh chiếm hữu những nhiễu nhương lẫn sự thống khổ cực cùng.

 

Tôi được tái sinh từ hai sắc m

Từ đôi bàn tay gân guốc, chai sạn và thô b

Anh tạc nên bóng đêm

Anh tạo ra ánh sáng

Nhưng không cách nào phác thảo được đôi mắt

Đôi mắt kẻ mù màu đang hiện hữu trong anh.
 

V.K.P.

Phượng có ghi chú dưới bài thơ vui vui là: " P/s: Viết như này tán được họa sĩ không mấy chế ơi?" và tôi cũng comment vui là "Tán được người đọc đã, còn có khi tán họa sĩ không cần thơ đâu em! Phải dấn thân thì mới có thơ hay em ạ!" Câu này là nói vui trên mạng nhưng là đúc kết cả đời của "bà chị lớn tuổi" chứ chả đùa!

"Bằng cách nào tôi đã chui tọt vào bức tranh của anh"

Mở đầu bài thơ đã cuốn hút, có vẻ như "chui tọt" vào bức tranh nghe lạ lẫm và gây sốc, nhưng nếu dùng "ngự trị" hay "xuất hiện" thì bài thơ lại có nguy cơ… không màu!

" Tự lúc nào anh đã sở hữu cả đôi mắt tôi

Đôi mắt tự do được khai sinh lúc niềm đau trở dạ

Cũng chỉ với hai sắc màu đen trắng

Anh chiếm hữu những nhiễu nhương lẫn sự thống khổ cực cùng"

Khi nỗi đau và sự tuyệt vọng đến đỉnh, thơ sẽ cất lời. Cũng vì thế những nỗi đau vay mượn hay sự thống khổ giả tạo sẽ chỉ thành những dòng chữ nhàn nhạt, sến xẩm chứ chưa phải là thơ. Thơ không có chỗ cho sự giả trá, ngoa ngôn. Khi nào thực yêu, thực đau, thực buồn, thực tuyệt vọng, thơ sẽ đến, đi cùng và cất cánh. Cũng là anh đấy, em đấy, với những việc như những người khác đã từng là: yêu đương, nhớ nhung, trái ngang, đau khổ… nhưng nhà thơ cũng coi như “làm dâu trăm họ” thơ đã “sang sông” thì không còn của mình nữa mà “phận thơ” gửi vào người đọc và các nhà phê bình!

"Tôi được tái sinh từ hai sắc màu

Từ đôi bàn tay gân guốc, chai sạn và thô bạo

Anh tạc nên bóng đêm

Anh tạo ra ánh sáng…

Nhưng không cách nào phác thảo được đôi mắt

Đôi mắt kẻ mù màu đang hiện hữu trong anh."  

Thơ đừng nên đọc theo cách giải nghĩa, cũng không nên loay hoay tìm hoàn cảnh phát sinh hay các nhân vật liên quan... Khi nào ta thấy mình trong đó, ta thấu cảm, ta hân hoan và rơi lệ mới là lúc ta đã gặp Thơ… Bởi tất cả trạng huống của con người đều như nhau, những giác quan đều như nhau, chỉ là nói lên bằng cách nào thôi.

Không cần làm thơ đều đều, thơ không phải là món phải nấu hằng ngày, nấu khi chưa tới ắt sẽ vụng. Thơ kị huyên náo, ồn ào, phe nhóm. Thơ cần khoảng tĩnh, khoảng lắng và cả khoảng rỗng. Từ đó, thơ mới len lỏi vào từng giác quan, từng nhịp thở làm thăng hoa tâm hồn và tan chảy các tầng mĩ cảm… Có thể tác giả bài thơ này cho là mình đang khờ khạo, "mù màu"… (là tôi đoán mò thôi) nhưng tôi cứ nghĩ nếu nhà thơ mà khôn lỏi quá, thực dụng quá, tinh toán thiệt hơn quá, thơ có khi lại đi trốn mất tăm!

21/07/2024

V.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm