TIN TỨC

Trái tim còn đập ngoài hoang dã

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-15 16:56:20
mail facebook google pos stwis
2922 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Gần 20 năm, sau những tập phê bình văn học nảy lửa, nhà thơ Trần Mạnh Hảo mới có dịp tái ngộ công chúng thi ca bằng một tuyển tập dày 500 trang, do nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ấn hành.

Mức độ nổi tiếng của nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì không cần phải bàn cãi. Ông tung tẩy ở nhiều thể loại thơ với những thành tựu không thể phủ nhận về lục bát hoặc tứ tuyệt. Riêng thể loại trường ca, nhà thơ Trần Mạnh Hảo rất được yêu mến qua “Mặt trời trong lòng đất” (1981) “Ba cặp núi đôi và một hòn núi lẻ” (1986) và “Đất nước hình tia chớp” (1994).

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo là một cá tính văn chương. Sự ngạo nghễ có chút cắc cớ “Sao cha mẹ đặt tên con là Hảo/ Đất nước mình người tốt trốn vào đâu” cũng khiến ông vướng mắc không ít hệ lụy và thị phi. Thế nhưng, vượt qua tất cả, Trần Mạnh Hảo vẫn có thể vãn hồi tình cảm của đám đông bằng chính tài thơ của mình.

Những bài thơ đầu tiên viết từ năm 17 tuổi, đã chứng minh Trần Mạnh Hảo có thiên bẩm thi sĩ: “Khi vui mười ngón chia đều/ Hai bàn tay vỗ lên nhiều bài ca/ Lạ lùng quá bàn tay ta/ Nắm vào là đất, mở ra là trời”. Suốt hơn nửa thế kỷ qua, Trần Mạnh Hảo vẫn viết không ngừng. Vì vậy, tuyển thơ Trần Mạnh Hảo chỉ 500 trang cũng đã phải đắn đo và gạn lọc rất nhiều. Bởi lẽ, chỉ cần in lại tất cả những tập thơ trước đây của ông cũng đã thành một tuyển tập ngàn trang.

Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo, do hai nhà thơ Lê Minh Quốc và Trương Nam Hương xung phong chăm chút morat, hầu như không có bố cục gì. Bài thơ viết cách đây 55 năm được in lẫn với những bài thơ mới viết trong đợt ứng phó Covid-19. Tác giả cố tình sắp xếp như vậy chăng? Có thể, bởi nhà thơ Trần Mạnh Hảo thừa tự tin để biết rằng độc giả của mình thì họ thưởng thức từng bài thơ một cách ngẫu hứng mà vẫn giữ nguyên cảm xúc hâm mộ dạt dào.

Cả đời thơ Trần Mạnh Hảo gói ghém trong một tuyển tập, thì không thể đọc nhanh và đọc vội. Tuy nhiên, đọc chậm sẽ nhận ra chân dung Trần Mạnh Hảo khá rõ ràng. Thi ca có cái kỳ diệu ấy. Nếu đã là nhà thơ đích thực, dù viết đề tài gì hay phản ánh góc độ nào thì cuộc đời và cốt cách của tác giả vẫn không cách nào che giấu được.

Có thể dùng ba đoạn thơ khác nhau để hiểu quan hệ của Trần Mạnh Hảo với mẫu thân, từ lúc ông chào đời “Đêm chiến tranh mẹ sinh con trong tiếng gầm đại bác/ Sông Hồng đau đẻ quặn phù sa/ Sông Đáy bị tiếng súng trường xé rách/ Chợt lặng im trăng nõn mọc sau nhà” đến khi ông vào bộ đội “Mẹ ở lại với mái nhà giột nóc/ Ếch tháng ba kêu xót ruột người già/ Mẹ khóc, mùi hoa xoan cũng khóc/ Đêm đen từ tro bếp lạnh đen ra”, và khi ông mồ côi “Con không bằng một vạt cỏ tươi/ Cỏ làm chăn đắp ấm mộ Người/ Mẹ nuôi con, chưa từng nuôi cỏ/ Báo hiếu mẹ giờ chỉ cỏ thôi”.

Năng lực sáng tạo tiêu biểu nhất của nhà thơ là khả năng sử dụng hình ảnh. Trần Mạnh Hảo rất giàu hình ảnh và không ngần ngại tung tẩy hình ảnh trên hành trình sáng tạo, từ không gian thân thuộc “Đêm tôi học Sử trong nhà/ Nghe sóng sông Hồng như tay lật sách” đến dặm dài trải nghiệm “Hoa súng nở ngoài ao bí mật/ Tôi tập đi theo cô Tấm cô Kiều/ Tôi được vịn vào câu ca dao lấm đất/ Tổ quốc là một chỗ hẹn người yêu”.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo được xếp vào thế hệ chống Mỹ cứu nước. Ngay từ giai đoạn chiến đấu ở miền Đông Nam bộ, Trần Mạnh Hảo đã có những câu thơ bay bổng như “Ai xui tiếng chim gù/ Kéo trời lên xanh thẳm”. Thế nhưng, bom đạn tàn khốc đã khiến ông xót xa “Anh thương em, anh thương đồng đội/ Suốt một thời mưa giội nắng nung/ Đêm ngủ đất, cánh tay làm chiếc gối/ Bắt con cua đỡ đói lửa đêm rừng/ Khi ngã xuống chẳng một lời trăn trối/ Giấu tên mình vào với vạn tên chung”. Và những ký ức một thời áo lính theo ông đến tuổi già, ám ảnh: “Đồng đội ngả thành gốc cây ụ mối/ Trong đất còn mơ sống cuộc đời thường/ Tình yêu ấy bây giờ ai phản bội/ Mùi hoa rừng sao lại dối lừa ong?”.

Trần Mạnh Hảo quan niệm: “Nhà thơ là ông già nghìn tuổi/ Ở trong đứa trẻ mới ra đời/ Trí khôn mà giống niềm thơ dại/ Như mắt tinh đời hóa khóe môi” nên ông cũng viết khá nhiều thơ chia sẻ thao thức với các bậc thi nhân tiền bối. Ông đau đáu cùng Bạch Cư Dị “Lá vàng thay trăng đổ/ Trường Giang thành rượu khướt con đò” và ông đắm đuối cùng Nguyễn Du thương nàng Kiều “Ta nhờ vãi Giác Duyên ngồi gác/ Đón em về từ cuối màn sương”.

Rất khéo léo trong tư duy hình ảnh, thơ Trần Mạnh Hảo vượt trội nhiều người nhờ sức khái quát. Ví dụ, ông viết về những dòng sông Nam bộ phóng túng “Những dòng sông như những người chạy bộ/ Cứ đuổi theo bóng dáng chân trời/ Sông khỏe quá chạy hoài thành châu thổ/ Chạy qua rồi sông để lại lúa khoai” hoặc viết về con sông ở Bắc Trung bộ “Sông Lam ăn cát mà xanh, uống trời mà mát/ Trăng chảy hết lòng sâu quyết liệt cả cơ hàn/ Người giàu có nên đất nghèo khô khát/ Kìa gió Lào thổi cong sông Lam”.

Thậm chí, khi đi nước ngoài, Trần Mạnh Hảo cũng có sự phô diễn kiểu riêng ông. Một lần nhìn Trung Hoa qua cửa sổ máy bay thì ông phát hiện “Kìa sông Hoài dưới mười nghìn mét lừ đừ vệt máu bầm quá khứ/ Tam giáo vỡ đê trời chìm nghỉm những pho kinh/ Giáo gươm Đường Tống tang thương trổ bừng bừng thi tứ/ Sông máu núi xương Trung Hoa nhấp nhô chằng chịt chữ tượng hình”, hoặc một lần tình cờ phát hiện con kiến trong ba lô mình mang từ Việt Nam sang xứ sở bạch dương đã biến mất thì ông cồn cào “Nước Nga rộng, chắc là kiến đi lạc/ Tôi ngồi lo rụng hết lá ngô đồng/ Tổ quốc có bao giờ người hóa thân thành kiến/ Lặng lẽ bò qua sự vĩ đại của mình/ Như những đứa con vượt Trường Sơn ra thế giới/ Không còn thích đóng vai người hùng cứu chuộc hành tinh”.

Cách nói uyển chuyển và hào hoa cũng là ưu điểm của Trần Mạnh Hảo ở mảng thơ tình. Bên cạnh những bài thơ viết cho vợ mình – Tôn Nữ Giáng Tiên với tinh thần tôn thờ như “Một bàn tay chìa ra ánh trăng/ Một gương mặt ngủ rồi tôi mới gặp/ Một bờ môi chưa có thật trên đời/ Một da thịt không phải là da thịt/ Một mùi hương ở chỗ có em ngồi” thì Trần Mạnh Hảo cũng rất đắm đuối trong các bài thơ viết cho bóng hồng hư ảo nào đó.

Thiếu nữ lãng mạn không thể không xao xuyến trước những câu thơ của Trần Mạnh Hảo, lúc mông lung “Cỏ xanh hết một gầm trời đắm đuối/ Dáng em gầy thon lại cả mùa xưa/ Mưa bụi yêu trời đất cũng không vừa/ Em dắt cỏ tìm tôi chưa kịp gió”, lúc ỡm ờ “Em là trái sầu riêng đánh đu cùng mùa hạ/ Trái em rơi lúc chẳng ai ngờ/ Lúc mặt đất và anh đi ngủ cả/ Đêm trong làng hòn sỏi cũng nằm mơ” và cả lúc xa vắng “Dòng đời con nước vèo qua/ Trái tim mắc cạn trong tà áo bay/ Cỏn con một sợi lông mày/ Mà đem cột trái đất này vào anh”.

Những năm 30 tuổi, Trần Mạnh Hảo thổ lộ “Trưa lặng tiếng gà như kẹo kéo/ Cuốn anh chặt lại với dòng kinh/ Đến quá nửa đời anh mới hiểu/ Những cái vu vơ cột chặt mình”. Và thực sự, ông không thể nào tránh được những cái vu vơ của nhân gian bủa vây tâm hồn thi sĩ, để thường xuyên rung động “Nửa đêm đi ngược về xưa/ Thoảng mùi hương lạ em vừa quá giang” để thường xuyên đau đáu “Xin quá khứ đừng bắt anh nhốt lại/ Trong giấc mơ anh thèm được làm người/ Thèm được khóc được cười như trẻ dại/ Ai đã làm thời đại hóa đười ươi?”.

Trần Mạnh Hảo bây giờ đã 73 tuổi “Ngẩng đầu trời vẫn mênh mông/ Cúi xuống chợt thấy anh không còn gì/ Anh còn con đường chưa đi/ Anh còn vạt cỏ sắp ghì ôm anh”. Ông đã từng ru con “Mai này con lớn nên người/ Hoa hèn cỏ nội ai lời bướm ong/ Ngủ như bông súng ngoài đồng/ Xé bùn lên vẫn sợ lòng bùn đau” và ông đã từng cõng cháu “Mai này ông khuất trăng sao/ Gửi lưng cho giấc chiêm bao cõng dùm”. Thế nhưng, sự rạo rực của ông vẫn nguyên vẹn trước thi ca “Trái tim còn đập ngoài hoang dã/ Rét mướt xin thề cưới gió đông”.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo sớm tạo được giọng điệu trong làng thơ. Ông luôn chinh phục công chúng bằng ngọn lửa rừng rực cháy bỏng. Ngay cả cách ông đại ngôn hay cách ông điệu đà, cũng có ấn tượng không nhầm lẫn với ai. Tuyển thơ Trần Mạnh Hảo là một cơ hội để độc giả được đọc lại và được hiểu thêm một gương mặt thi ca hàng đầu văn học Việt Nam đương đại “Trót hò hẹn với mênh mông/ Một đời ngóng vọng mây lồng xanh cao”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm