TIN TỨC

Trái tim còn đập ngoài hoang dã

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-15 16:56:20
mail facebook google pos stwis
3005 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Gần 20 năm, sau những tập phê bình văn học nảy lửa, nhà thơ Trần Mạnh Hảo mới có dịp tái ngộ công chúng thi ca bằng một tuyển tập dày 500 trang, do nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ấn hành.

Mức độ nổi tiếng của nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì không cần phải bàn cãi. Ông tung tẩy ở nhiều thể loại thơ với những thành tựu không thể phủ nhận về lục bát hoặc tứ tuyệt. Riêng thể loại trường ca, nhà thơ Trần Mạnh Hảo rất được yêu mến qua “Mặt trời trong lòng đất” (1981) “Ba cặp núi đôi và một hòn núi lẻ” (1986) và “Đất nước hình tia chớp” (1994).

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo là một cá tính văn chương. Sự ngạo nghễ có chút cắc cớ “Sao cha mẹ đặt tên con là Hảo/ Đất nước mình người tốt trốn vào đâu” cũng khiến ông vướng mắc không ít hệ lụy và thị phi. Thế nhưng, vượt qua tất cả, Trần Mạnh Hảo vẫn có thể vãn hồi tình cảm của đám đông bằng chính tài thơ của mình.

Những bài thơ đầu tiên viết từ năm 17 tuổi, đã chứng minh Trần Mạnh Hảo có thiên bẩm thi sĩ: “Khi vui mười ngón chia đều/ Hai bàn tay vỗ lên nhiều bài ca/ Lạ lùng quá bàn tay ta/ Nắm vào là đất, mở ra là trời”. Suốt hơn nửa thế kỷ qua, Trần Mạnh Hảo vẫn viết không ngừng. Vì vậy, tuyển thơ Trần Mạnh Hảo chỉ 500 trang cũng đã phải đắn đo và gạn lọc rất nhiều. Bởi lẽ, chỉ cần in lại tất cả những tập thơ trước đây của ông cũng đã thành một tuyển tập ngàn trang.

Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo, do hai nhà thơ Lê Minh Quốc và Trương Nam Hương xung phong chăm chút morat, hầu như không có bố cục gì. Bài thơ viết cách đây 55 năm được in lẫn với những bài thơ mới viết trong đợt ứng phó Covid-19. Tác giả cố tình sắp xếp như vậy chăng? Có thể, bởi nhà thơ Trần Mạnh Hảo thừa tự tin để biết rằng độc giả của mình thì họ thưởng thức từng bài thơ một cách ngẫu hứng mà vẫn giữ nguyên cảm xúc hâm mộ dạt dào.

Cả đời thơ Trần Mạnh Hảo gói ghém trong một tuyển tập, thì không thể đọc nhanh và đọc vội. Tuy nhiên, đọc chậm sẽ nhận ra chân dung Trần Mạnh Hảo khá rõ ràng. Thi ca có cái kỳ diệu ấy. Nếu đã là nhà thơ đích thực, dù viết đề tài gì hay phản ánh góc độ nào thì cuộc đời và cốt cách của tác giả vẫn không cách nào che giấu được.

Có thể dùng ba đoạn thơ khác nhau để hiểu quan hệ của Trần Mạnh Hảo với mẫu thân, từ lúc ông chào đời “Đêm chiến tranh mẹ sinh con trong tiếng gầm đại bác/ Sông Hồng đau đẻ quặn phù sa/ Sông Đáy bị tiếng súng trường xé rách/ Chợt lặng im trăng nõn mọc sau nhà” đến khi ông vào bộ đội “Mẹ ở lại với mái nhà giột nóc/ Ếch tháng ba kêu xót ruột người già/ Mẹ khóc, mùi hoa xoan cũng khóc/ Đêm đen từ tro bếp lạnh đen ra”, và khi ông mồ côi “Con không bằng một vạt cỏ tươi/ Cỏ làm chăn đắp ấm mộ Người/ Mẹ nuôi con, chưa từng nuôi cỏ/ Báo hiếu mẹ giờ chỉ cỏ thôi”.

Năng lực sáng tạo tiêu biểu nhất của nhà thơ là khả năng sử dụng hình ảnh. Trần Mạnh Hảo rất giàu hình ảnh và không ngần ngại tung tẩy hình ảnh trên hành trình sáng tạo, từ không gian thân thuộc “Đêm tôi học Sử trong nhà/ Nghe sóng sông Hồng như tay lật sách” đến dặm dài trải nghiệm “Hoa súng nở ngoài ao bí mật/ Tôi tập đi theo cô Tấm cô Kiều/ Tôi được vịn vào câu ca dao lấm đất/ Tổ quốc là một chỗ hẹn người yêu”.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo được xếp vào thế hệ chống Mỹ cứu nước. Ngay từ giai đoạn chiến đấu ở miền Đông Nam bộ, Trần Mạnh Hảo đã có những câu thơ bay bổng như “Ai xui tiếng chim gù/ Kéo trời lên xanh thẳm”. Thế nhưng, bom đạn tàn khốc đã khiến ông xót xa “Anh thương em, anh thương đồng đội/ Suốt một thời mưa giội nắng nung/ Đêm ngủ đất, cánh tay làm chiếc gối/ Bắt con cua đỡ đói lửa đêm rừng/ Khi ngã xuống chẳng một lời trăn trối/ Giấu tên mình vào với vạn tên chung”. Và những ký ức một thời áo lính theo ông đến tuổi già, ám ảnh: “Đồng đội ngả thành gốc cây ụ mối/ Trong đất còn mơ sống cuộc đời thường/ Tình yêu ấy bây giờ ai phản bội/ Mùi hoa rừng sao lại dối lừa ong?”.

Trần Mạnh Hảo quan niệm: “Nhà thơ là ông già nghìn tuổi/ Ở trong đứa trẻ mới ra đời/ Trí khôn mà giống niềm thơ dại/ Như mắt tinh đời hóa khóe môi” nên ông cũng viết khá nhiều thơ chia sẻ thao thức với các bậc thi nhân tiền bối. Ông đau đáu cùng Bạch Cư Dị “Lá vàng thay trăng đổ/ Trường Giang thành rượu khướt con đò” và ông đắm đuối cùng Nguyễn Du thương nàng Kiều “Ta nhờ vãi Giác Duyên ngồi gác/ Đón em về từ cuối màn sương”.

Rất khéo léo trong tư duy hình ảnh, thơ Trần Mạnh Hảo vượt trội nhiều người nhờ sức khái quát. Ví dụ, ông viết về những dòng sông Nam bộ phóng túng “Những dòng sông như những người chạy bộ/ Cứ đuổi theo bóng dáng chân trời/ Sông khỏe quá chạy hoài thành châu thổ/ Chạy qua rồi sông để lại lúa khoai” hoặc viết về con sông ở Bắc Trung bộ “Sông Lam ăn cát mà xanh, uống trời mà mát/ Trăng chảy hết lòng sâu quyết liệt cả cơ hàn/ Người giàu có nên đất nghèo khô khát/ Kìa gió Lào thổi cong sông Lam”.

Thậm chí, khi đi nước ngoài, Trần Mạnh Hảo cũng có sự phô diễn kiểu riêng ông. Một lần nhìn Trung Hoa qua cửa sổ máy bay thì ông phát hiện “Kìa sông Hoài dưới mười nghìn mét lừ đừ vệt máu bầm quá khứ/ Tam giáo vỡ đê trời chìm nghỉm những pho kinh/ Giáo gươm Đường Tống tang thương trổ bừng bừng thi tứ/ Sông máu núi xương Trung Hoa nhấp nhô chằng chịt chữ tượng hình”, hoặc một lần tình cờ phát hiện con kiến trong ba lô mình mang từ Việt Nam sang xứ sở bạch dương đã biến mất thì ông cồn cào “Nước Nga rộng, chắc là kiến đi lạc/ Tôi ngồi lo rụng hết lá ngô đồng/ Tổ quốc có bao giờ người hóa thân thành kiến/ Lặng lẽ bò qua sự vĩ đại của mình/ Như những đứa con vượt Trường Sơn ra thế giới/ Không còn thích đóng vai người hùng cứu chuộc hành tinh”.

Cách nói uyển chuyển và hào hoa cũng là ưu điểm của Trần Mạnh Hảo ở mảng thơ tình. Bên cạnh những bài thơ viết cho vợ mình – Tôn Nữ Giáng Tiên với tinh thần tôn thờ như “Một bàn tay chìa ra ánh trăng/ Một gương mặt ngủ rồi tôi mới gặp/ Một bờ môi chưa có thật trên đời/ Một da thịt không phải là da thịt/ Một mùi hương ở chỗ có em ngồi” thì Trần Mạnh Hảo cũng rất đắm đuối trong các bài thơ viết cho bóng hồng hư ảo nào đó.

Thiếu nữ lãng mạn không thể không xao xuyến trước những câu thơ của Trần Mạnh Hảo, lúc mông lung “Cỏ xanh hết một gầm trời đắm đuối/ Dáng em gầy thon lại cả mùa xưa/ Mưa bụi yêu trời đất cũng không vừa/ Em dắt cỏ tìm tôi chưa kịp gió”, lúc ỡm ờ “Em là trái sầu riêng đánh đu cùng mùa hạ/ Trái em rơi lúc chẳng ai ngờ/ Lúc mặt đất và anh đi ngủ cả/ Đêm trong làng hòn sỏi cũng nằm mơ” và cả lúc xa vắng “Dòng đời con nước vèo qua/ Trái tim mắc cạn trong tà áo bay/ Cỏn con một sợi lông mày/ Mà đem cột trái đất này vào anh”.

Những năm 30 tuổi, Trần Mạnh Hảo thổ lộ “Trưa lặng tiếng gà như kẹo kéo/ Cuốn anh chặt lại với dòng kinh/ Đến quá nửa đời anh mới hiểu/ Những cái vu vơ cột chặt mình”. Và thực sự, ông không thể nào tránh được những cái vu vơ của nhân gian bủa vây tâm hồn thi sĩ, để thường xuyên rung động “Nửa đêm đi ngược về xưa/ Thoảng mùi hương lạ em vừa quá giang” để thường xuyên đau đáu “Xin quá khứ đừng bắt anh nhốt lại/ Trong giấc mơ anh thèm được làm người/ Thèm được khóc được cười như trẻ dại/ Ai đã làm thời đại hóa đười ươi?”.

Trần Mạnh Hảo bây giờ đã 73 tuổi “Ngẩng đầu trời vẫn mênh mông/ Cúi xuống chợt thấy anh không còn gì/ Anh còn con đường chưa đi/ Anh còn vạt cỏ sắp ghì ôm anh”. Ông đã từng ru con “Mai này con lớn nên người/ Hoa hèn cỏ nội ai lời bướm ong/ Ngủ như bông súng ngoài đồng/ Xé bùn lên vẫn sợ lòng bùn đau” và ông đã từng cõng cháu “Mai này ông khuất trăng sao/ Gửi lưng cho giấc chiêm bao cõng dùm”. Thế nhưng, sự rạo rực của ông vẫn nguyên vẹn trước thi ca “Trái tim còn đập ngoài hoang dã/ Rét mướt xin thề cưới gió đông”.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo sớm tạo được giọng điệu trong làng thơ. Ông luôn chinh phục công chúng bằng ngọn lửa rừng rực cháy bỏng. Ngay cả cách ông đại ngôn hay cách ông điệu đà, cũng có ấn tượng không nhầm lẫn với ai. Tuyển thơ Trần Mạnh Hảo là một cơ hội để độc giả được đọc lại và được hiểu thêm một gương mặt thi ca hàng đầu văn học Việt Nam đương đại “Trót hò hẹn với mênh mông/ Một đời ngóng vọng mây lồng xanh cao”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm