TIN TỨC

Trịnh Vĩnh Đức – Người đi tìm cái đẹp trong con chữ văn chương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-05-07 23:50:32
mail facebook google pos stwis
2868 lượt xem

Lê Xuân

Dù chưa một lần được gặp nhà giáo, nhà thơ, nhà Phê bình văn học Trịnh Vĩnh Đức nhưng chỉ đọc những bài thơ, những tiểu luận văn học đăng tải trên trang Vanvn.vn của Hội nhà văn Việt Nam do anh viết, tôi đã bị ám ảnh. Và từ đó những đàm đạo về dạy văn và nghề văn luôn gắn kết chúng tôi như hai anh em thân thiết. Với công việc bận rộn trong công tác quản lý đã một thời đi qua, anh vẫn giành thời gian cho thơ văn, nghiên cứu lịch sử, văn hóa của quê hương Hoằng Hóa và xứ Thanh với một tấm lòng sâu nặng. Tập “Tri âm cùng con chữ” (Tiểu luận – Phê bình, NXB Hội Nhà văn- 2021) là tác phẩm thứ ba sau “Lịch sử Đảng bộ Hoằng Sơn – 2013” và tập thơ “Hương biển – 2018”. Trịnh Vĩnh Đức đã thử sức mình trên nhiều thể loại: thơ, tản văn, bút ký, khảo cứu và Phê bình văn học… Nhưng theo tôi, anh thành công hơn cả là ở mảng Tiểu luận và Phê bình văn học.

Phần lớn các nhà Phê bình văn học đều có làm thơ, và chính tư duy hình tượng trong thơ đã giúp cho những trang viết về Phê bình văn học mang đậm chất văn, không bị cuốn đi bởi tư duy lô gíc đầy tính luận lý. Được đào tạo tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cùng với sự đam mê học hỏi và sáng tạo nên cái khung tri thức về Lý luận phê bình của anh khá vững chắc, làm bệ phóng cho những bài Phê bình vừa có sự vận dụng lý thuyết vừa có sự cảm nhận về tác phẩm, tác giả một cách tinh tế mang dấu ấn Trịnh Vĩnh Đức.


Nhà phê bình Trịnh Vĩnh Đức ở Thanh Hóa.

Tập Tiểu luận và Phê bình văn học “Tri âm cùng con chữ” là tác phẩm đầu tay về Phê bình văn học của nhưng anh đã tỏ ra khá vững chắc về bút pháp và khá nhạy bén để tìm ra cái riêng của mình. Tôi nghĩ làm nghiên cứu phê bình văn học vất vả vô cùng. Người thì tán dương, người thì khắt khe khó đồng cảm do quan điểm cá nhân khác nhau của mỗi người. Song, với Trịnh Vĩnh Đức bản lĩnh nghề nghiệp đã đưa anh dấn thân vào ma trận chữ nghĩa. Trong đó không thể không nói đến công phu mà anh nghiên cứu thực hiện trong quá trình đi tìm cái đẹp nghệ thuật trong văn bản. Tôi đồng cảm với một số nhà phê bình có tiếng đã từng tâm sự: “Viết phê bình đúng thì dễ, còn hay thì khó”. Vậy Trịnh Vĩnh Đức viết “Tri âm cùng con chữ” với phong cách nào? Tôi nghĩ trước hết anh viết bằng ý thức và trách nhiệm cao với tác phẩm. Bằng con đường tìm ra nét đẹp nghệ thuật để rồi đồng sáng tạo với tác giả, tác phẩm, theo sát mạch chảy, hơi thở văn học đương đại. Từ đó tìm ra cách diễn ngôn riêng phù hợp với học thuật một cách nghiêm túc. Anh thường gắn lý thuyết về cái nhìn trực giác văn bản nghệ thuật với tác phẩm nghiên cứu. Cách phê bình của anh, thường nghiêng về thi pháp học. Với 18 bài viết về các tác giả, tác phẩm văn học thuộc dòng đương đại, anh đã có những hiểu biết sáng tạo nhất định qua cách nhìn đánh giá chân dung tác phẩm nghệ thuật của mỗi nhà văn, nhà thơ, có khá nhiều ưu điểm từ một góc nhìn. Trong đó, có những tác giả được phủ sóng khá rộng trên diễn đàn văn học mấy chục năm qua như Nguyễn Bính, Nguyễn Minh Châu, Hà Minh Đức, Văn Giá, Chu Văn Sơn. Và một số tác giả ở các tỉnh có đóng góp nhiều cho văn học địa phương, tạo thêm hiệu ứng mới được nhiều bạn đọc biết đến như Từ Nguyên Tĩnh, Lê Xuân, Nguyễn Minh Khiêm, Huy Trụ…


Bìa tập tiểu luận và phê bình văn học “Tri âm cùng con chữ” của Trịnh Vĩnh Đức.

Các bài viết đó đã cho ta thấy một sức đọc rất nghiêm cẩn của anh và một sự cảm nhận văn chương nhanh nhạy, luôn phát hiện được những “điểm sáng thẩm mỹ” trong tác phẩm và những điểm mạnh hoặc những mặt còn hạn chế ở mỗi tác giả. Viết về những tập thơ, tập truyện cho hay đã khó, nhưng khi viết về chân dung một nhà phê bình văn học thì lại càng khó hơn. Anh đã dày công để tìm hiểu về hoàn cảnh xuất thân, quá trình sống và viết của tác giả và những tác phẩm mà nhà phê bình đã công bố. Điều quan trọng là phải nắm được đúng phong cách, quan điểm về văn chương và cuộc sống của nhà phê bình ấy, để rồi “Lấy hồn ta để hiểu hồn người” như nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nói. Có thể xem các bài viết của anh là một “lát cắt” về chân dung văn học của các tác giả mà anh yêu mến, quý trọng.

Đáng chú ý, các tác giả Nguyễn Bính, Nguyễn Minh Châu, Hà Minh Đức, Văn Giá, Chu văn Sơn đã có nhiều bài viết của các nhà Phê bình văn học, nhưng Trịnh Vĩnh Đức đã không bị “cái bóng” của những bài viết hạng “cây đa cây đề” ấy che khuất mà anh luôn tìm được những điểm mới để “điểm nhãn”. Viết về Nguyễn Bính, anh đã tinh tế nhận xét: “Với tôi, Nguyễn Bính là thi sĩ thổi ngọn lửa quê ấm áp và say tình nhất. Ông có chất lãng du, lãng mạn lên bổng xuống trầm trong trường đời của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông… Thơ ông đậu lại ở những mảnh vườn xinh, trong những căn nhà ngõ ngách nấp sau lũy tre xanh hoặc lấp ló trong những hội làng hẹn chờ em qua ngõ” (Trang 5). Với cách hành văn giàu chất thơ và nhịp điệu như vậy, khi đọc lên ta có cảm tưởng như đọc một đoạn “thơ văn xuôi” phù hợp với phong cách thơ Nguyễn Bính.

Khi viết về các nhà Phê bình văn học Hà Minh Đức, Văn Giá, Chu Văn Sơn, Lê Xuân, Lê Xuân Soan, Thy Lan… anh tìm hiểu khá kỹ về thân thế sự nghiệp, các tác phẩm của các tác giả này, để từ đó nêu bật những mặt thành công của mỗi tác giả. Trong bài “Văn Giá – một đời dạy và viết” anh như tìm được người thầy, người bạn đồng môn với mình, cùng dạy học và viết văn. Anh nhận xét khá tinh về cái tài, cái đức của một nhà giáo khi dạy văn và viết văn; “Trong đời dạy học, nhà văn, nhà giáo Văn Giá luôn quan tâm về cái chung của chất lượng giáo dục nước nhà… Văn học nhà trường nên có sự liên thông tương tác với nền văn chương đương đại… phải được đặt trong bối cảnh xã hội hôm nay, và phải nhìn rõ sự dịch chuyển tương ứng với thời đại” (Trang 22). Văn Giá là một tác giả đa tài trên nhiều lĩnh vực: thơ ca, phê bình, khảo cứu… nhưng thành công hơn cả là những bài Phê bình văn học. Anh đã nghiên cứu và tiếp cận nhiều trường phái văn học, nhiều lý thuyết về thi pháp Đông Tây khác nhau nhưng luôn có sự sáng tạo để vận dụng vào thực tế giảng dạy ở Việt Nam và cho ra đời những công trình nghiên cứu phê bình được đông đảo bạn đọc yêu thích, chấp nhận. Trịnh Vĩnh Đức đã khái quát ngắn gọn mà đầy đủ về năng lực sáng tạo của Văn Giá: “PGS – TS Văn Giá đã được giới học thuật xem như một hiện tượng sắc sảo trong hoạt động nghiên cứu phê bình hiện nay. Và những lớp học trò ông dạy coi Văn Giá như một thần tượng. Những kiến giải về văn chương trong nhận diện, phân tích khái quát của Văn Giá tinh và lạ, sắc sảo và uyên thâm. Đặc biệt cách phê bình văn học “lấy người để hiểu văn, lấy văn để hiểu người” có sức lôi cuốn lớn” (Trang 24).

Với nhà Phê bình văn học Chu Văn Sơn, Trịnh Vĩnh Đức đã “điểm nhãn” để chỉ ra cái tinh hoa nổi bật ở mỗi bài viết là “chất văn và giọng điệu riêng” trong mỗi tiểu luận về chân dung văn học. Chu Văn Sơn cũng một đời dạy và viết như Văn Giá, nhưng con người tài hoa này đã “ra đi” quá sớm để lại bao nuối tiếc cho học trò và bạn đọc. Và anh khẳng định: “Trong hành trình xuất chữ của mình, văn chương Chu Văn Sơn khá điển hình trong tư duy nghệ thuật, trong sự tri giác về sự vật và hiện tượng đến độ tinh xảo có chất tài năng đích thực” (Trang 55).

Còn với nhà nghiên cứu Phê bình văn học nổi tiếng Hà Minh Đức anh đã tìm thấy chất Thanh trong các bài viết. Nhân vật xứ Thanh, hiện tượng xứ Thanh trong trường kỳ lịch sử. Tất cả đã hiện nguyên trong tác phẩm của Hà Minh Đức đã được anh luận giải, bình phẩm khá minh triết lôi cuốn. Riêng với lớp trẻ xứ Thanh, Trịnh Vĩnh Đức vẫn dành thời gian đọc kỹ và sâu. Thể hiện trong bài viết về tác phẩm “Mạch ngầm con chữ” của nhà phê bình trẻ Thy Lan rất giàu cảm xúc. Vừa trân trọng vừa gợi mở khám phá những ưu điểm mà Thy Lan có được. Hình như, anh đã giành nhiều tình cảm ưu ái cho cây viết nữ đa giọng điệu này qua những bình phẩm khá tinh tế ở bài “Giải mã thơ qua mạch ngầm con chữ” (Tác phẩm đạt giải B của Liên hiệp toàn quốc các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và giải C của Hội đồng Lý luận Văn học Nghệ thuật Trung ương). Những nhận xét tinh tế, hàm súc nêu bật được giá trị tác phẩm phê bình của Thy Lan: “Khám phá các cấu trúc hình tượng nghệ thuật, nhà phê bình văn học Thy Lan đã bắt đúng “mạch ngầm” của thi ca và những câu chuyện văn xuôi ngọt đắng, tình đời để “thổi hồn”vào con chữ làm cho tác phẩm văn học thêm lung linh, sống động. Và những con chữ ấy lại hiện lên lớp phù sa văn chương màu mỡ để chị thăng hoa trong ngòi bút, góp thêm cho đời những gia vị ngọt ngào trong đời sống văn học hiện nay (Trang 129).

Về mảng nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian qua tác phẩm “Cảm nhận về vẻ đẹp văn hóa, văn nghệ dân gian Nam Bộ” của nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Lê Xuân – người con của xứ Thanh, sống và làm việc trên đất Cần Thơ, nơi “gạo trắng nước trong”, Trịnh Vĩnh Đức tỏ ra rất am tường, có vốn văn hóa dày dặn khi nghiên cứu tác phẩm này. Sự bình phẩm, luận giải hiểu sâu và kỹ đã giúp người đọc yêu mến, hiểu sâu hơn về vùng đất vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. Nhà văn Lê Xuân đã chỉ ra những nét tiêu biểu, khu biệt hay giao thoa giữa văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ trong dòng chảy của văn nghệ dân gian các vùng miền của đất nước trên một số mặt: “Những nét đặc trưng của văn hoá khu vực Đồng bằng sông Cửu Long khá phong phú. Nó được thể hiện rõ ở phong tục tập quán, ở lễ hội, ở tính cách con người. Song, nét khu biệt hơn cả, được phản ánh khá trung thực qua kiến trúc đình chùa gắn với các lễ hội, qua văn minh ẩm thực và đờn ca tài tử”. Tác phẩm của Lê Xuân đã góp phần quảng bá các giá trị về văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam nói chung và văn hóa, văn nghệ dân gian Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng tới các đọc giả trong và ngoài nước, về vùng đất còn rất trẻ và giàu tiềm năng này mà các nhà khảo cứu văn hóa, văn nghệ dân gian cần quan tâm, khai thác hơn nữa. Tác phẩm của anh đã góp phần lưu giữ những giá trị truyền thống về văn nghệ dân tộc, truyền bá cho các thế hệ con cháu mai sau.

Ngoài những bài viết về các nhà Phê bình văn học, Trịnh Vĩnh Đức giành phần lớn số trang để “khắc họa chân dung nghệ thuật” mười ba nhà thơ mà anh yêu mến qua các thi phẩm nổi bật, như: Nguyễn Bính, Từ Nguyễn Tĩnh, Nguyễn Minh Khiêm, Huy Trụ, Trần Đàm, Lê Xuân Đồng, Phạm Văn Dũng. Với các nhà thơ, anh đã góp tiếng nói đồng sáng tạo đã đưa thơ Hữu Thỉnh, Văn Đắc, Từ Nguyên Tĩnh, Lê Quang Sinh, Huy Trụ, Nguyễn Minh Khiêm, Mạnh Lê… đến với người đọc qua những trang viết rất trang trọng đầy chất thơ.

Những bài viết của anh giàu chất văn và đầy chất trí tuệ, bắt mạch được cái hồn của mỗi nhà thơ để rồi cộng hưởng thêm nhịp điệu mới. Điều đáng nói ở Trịnh Vĩnh Đức là luôn sáng tạo và đổi mới trong cách viết, đem lại cảm xúc mới cho tác giả và tác phẩm. Nếu như ta soi chiếu ở hai góc độ, lý thuyết và sáng tạo thì những trang viết phê bình của Trịnh Vĩnh Đức thể hiện tính chuyên nghiệp trong nghiên cứu phê bình. Trong bài viết về thơ Nguyễn Minh Khiêm, anh tìm ra phong cách của tác giả. Trên cái thế mạnh nhìn sâu rộng về văn hóa xứ Thanh, và qua thi pháp học, anh đã giải quyết những vùng sáng ấn tượng trong thơ Nguyễn Minh Khiêm. Từ đó giúp người đọc hình dung đối chiếu với các tác giả viết trường ca Việt hiện nay để đồng cảm với việc định danh thơ Nguyễn Minh Khiêm trên thi đàn. Thơ Nguyễn Minh Khiêm theo xu hướng hiện đại đã có nhiều tác phẩm chạm vào nét hoa văn theo dòng chảy của thơ ca Việt. Tính hiển lộ phát sáng trong thơ anh được ngấm sâu vào chiều dài lịch sử, đánh thức những khát vọng lớn lao hôm nay và cả những vọng âm quá khứ.

Vốn là người yêu thơ và làm thơ, Trịnh Vĩnh Đức đã rất tinh phát hiện ra những điểm mạnh và hạn chế của mỗi nhà thơ mà anh tâm đắc, bắt trúng mạch cảm xúc của hồn thơ và những tín hiệu nghệ thuật trong từng con chữ, trong mỗi nhân vật trữ tình để chỉ ra sự thành công của nhà thơ ấy, đem lại sự thích thú hưng phấn cho những ai chưa được đọc, để rồi họ sẽ tìm đọc thi phẩm đó.

Với thơ Huy Trụ, anh đã cảm thức thơ trữ tình Huy Trụ bằng bài viết có sức lôi cuốn, tìm ra chất riêng, đặc biệt là thơ lục bát và thơ tự do. Trịnh Vĩnh Đức đã có con mắt thẩm bình để chỉ ra những tiết tấu, vần điệu trong mỗi bài thơ viết theo phong cách truyền thống: “Chất trữ tình trong thơ Huy Trụ không chỉ là những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật mà còn gắn với cái đẹp có nhạc cùng cách phối âm, ngắt nhịp khá hay… Anh đã giành một không gian khá rộng cho những vần thơ lục bát tỏa sáng Huy Trụ khi viết về đề tài tình yêu”.

Riêng về thơ Từ Nguyên Tĩnh, anh đã hiểu rất kỹ về phong cách thơ ông. Văn phong anh viết giàu cảm xúc, đã chạm vào trái tim bạn đọc với một lối viết vừa ngẫu hứng, vừa chân thực, lãng mạn, hiện rõ thế mạnh của thơ từ Nguyên Tĩnh, một cây bút đa tài ở nhiều lĩnh vực. Một nhà thơ có phong cách viết lạ. Chất giao cảm thơ ông có hồn, có chiều sâu triết học. Nổi hơn cả là tính tự sự, lắng sâu, hàm ẩn nhiều nghĩa, đa sắc, đa thanh.

Với nhà thơ Trần Đàm, anh thấu cảm thơ ông trong một bài viết khá tài hoa. Bài anh viết về tập thơ “Lời yêu” của nhà thơ Trần Đàm đã chắp cánh cho thơ ông lên một tầm cao mới, góp phần đưa độc giả yêu thơ ông hơn. Về lĩnh vực nhiếp ảnh, nghệ sĩ Trần Đàm cũng rất thành công. Anh đã có nhận xét tinh tế qua những kiến thức về ảnh và hội họa như một nhiếp ảnh gia khá điêu luyện: “Mỗi bức ảnh ông chụp đều ngưng đọng những giọt mồ hôi, thấm đẫm vị mặn của sức lao động trí tuệ với bàn tay tài hoa của một đời nghệ sĩ. Ảnh của ông có sóng vỗ khi cảm hứng sáng tạo vươn tới cao trào, có khi như một con thuyền thô sơ không cần trang điểm vẫn tiến đến bến vinh quang…. Ảnh của Tràn Đàm sắc sảo mà không sắc lạnh, không bi lụy giữa đời thường, không mềm yếu trước kẻ mạnh, có khí chất quật cường, vóc dáng kiêu hãnh vươn xa.”

Song hành cùng các nhà thơ trên, hai gương mặt thơ dồi dào cảm xúc là Lê Xuân Đồng và Phạm Văn Dũng cũng được Trịnh Vĩnh Đức luận bình sắc bén, thể hiện sự đọc và cảm nhận các tác phẩm của hai nhà thơ này khá sâu sắc, thông hiểu nội dung và nghệ thuật đạt đến độ nhuần nhị, đã tìm được cái hay cái đẹp thông qua thi pháp học soi chiếu tác phẩm đầy mỹ cảm. Từ đó khẳng định trong đường thơ của hai tác giả này có sự vươn lên mạnh mẽ trong vườn thơ xứ Thanh hiện nay.

Trịnh Vĩnh Đức không những tỏ ra sành điệu trong thưởng thức và thẩm định thơ mà anh còn có “con mắt xanh” khi bàn về truyện ngắn, bút ký trong các bài viết về Nguyễn Minh Châu, Hà Minh Đức, Lê Xuân Soan. Với tiểu luận về “Nguyễn Minh Châu tư duy về cái đẹp trong truyện ngắn sau năm 1975” là một bài hay và sắc sảo, có cái nhìn thông tuệ về tác phẩm từ một điểm nhìn. Những luận đề, luận điểm, những dẫn chứng anh đưa ra có chất riêng trong bút pháp, đã đưa Nguyễn Minh Châu càng sáng hơn trên diễn đàn văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới. Nếu không có cái nhìn tinh xảo trong thế giới quan về nhân vật và sự kiện, giữa cái hữu hình và vô hình của thế giới nghệ thuật, có lẽ không thể có một bài viết như thế. Đến với nhà nghiên cứu phê bình Lê Xuân Soan qua tác phẩm “Từ Trong bụi phấn” anh đã phát hiện ra vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn của một nhà giáo cả đời say sưa dìu dắt học trò, và đã khắc họa chân dung nghệ thuật qua tác phẩm của một nhà nghiên cứu giàu năng lượng Lê Xuân Soan đối với văn học xứ Thanh thấm đẫm tình quê.

Với những nhà thơ trẻ của xứ Thanh, anh luôn chỉ ra những điểm mạnh và những mặt còn hạn chế của mỗi tác giả để họ phát huy mặt mạnh và khắc phục những mặt còn hạn chế, tạo thêm cơ hội cho họ vươn ra biển lớn văn chương. Trịnh Vĩnh Đức không đao to búa lớn như kiểu một số người cho Phê bình văn học phải như “một ngọn roi” quất cho “con ngựa sáng tác” phi nhanh… mà anh luôn kết hợp hài hòa kiểu phê bình trực giác với phê bình theo các hệ thẩm mỹ khác nhau để làm bài viết vừa có tính lý luận của chiều sâu trí tuệ kết hợp với cảm xúc thăng hoa khi bắt gặp ý thơ, lời văn tâm đắc. Nhận xét chung về thơ Thanh Hóa đầu thế kỷ XXI, anh đã có cái nhìn đa chiều: “Trong xu hướng đổi mới, tôi nhận ra một điều họ đã xác lập nên một giọng điệu ngôn ngữ có yếu tố riêng và lạ. Nhưng không quên chủ động, dấn thân, tìm tòi, sáng tạo để nhìn nhận đánh giá về con người và cuộc sống, kể cả nghịch lý trong xã hội. Tuy nhiên những tác phẩm thơ dưới dạng phê phán sự vô cảm của con người trước thế giới tự nhiên đang bị tàn phá nghiêm trọng về môi trường chưa được chú trọng” (Trang 86). Nhiều bài thơ ca ngợi cái đẹp, cái tốt đôi khi còn dễ dãi. Và những bài thơ chống tham nhũng, tiêu cực, chống cái ác, cái xấu để từ đó khẳng định, tôn vinh cái đẹp, cái tốt hướng người đọc tới Chân, Thiện, Mỹ thì thơ xứ Thanh còn quá ít.

Tại hội nghị về Phê bình văn học ở Tam Đảo, nhà thơ Hữu Thỉnh – Nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đã nói “Hiện nay chúng ta đang đốt đuốc đi tìm các nhà phê bình”. Trước hiện tượng nhiều bài phê bình văn học dạng báo chí đang có phần lấn át các bài phê bình mang tính hàn lâm, khoa học đối với nền văn học nước nhà, thì những bài về Phê bình văn học của Trịnh Vĩnh Đức trong “Tri âm cùng con chữ” rất bổ ích cho người sáng tác và cho bạn đọc.

Xứ Thanh là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, tự hào đã có các nhà Phê bình văn học được định danh như Lã Nguyên (La Khắc Hòa), Đỗ Ngọc Yên, Chu Giang (Nguyễn Văn Lưu), Chu Văn Sơn, Đỗ Ngọc Thống, Lê Xuân, Nguyễn Thanh Tâm, Lưu Đức Hạnh… thì nay đội ngũ ấy lại có thêm một cây Phê bình văn học giàu năng lượng là Trịnh Vĩnh Đức, đang tiếp cận từng bước theo con đường ấy, dẫu biết rằng đó là con đường còn lắm chông gai. Theo tôi được biết thì anh còn hai tác phẩm sắp trình làng trong thời gian tới là một tập Bình thơ và một tập Tiểu luận và Phê bình văn học mang tên “Điểm hẹn văn chương”. Hy vọng anh sẽ có nhiều thành công hơn trên lĩnh vực Phê bình văn học đầy lao tâm khổ tứ nhưng rất đáng tự hào này.

Cần Thơ, 02/4/2022

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm