TIN TỨC

Cuốn tiểu thuyết hay về hòa hợp dân tộc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-06 21:34:02
mail facebook google pos stwis
968 lượt xem

PGS.TS VŨ NHO (Văn nghệ Công an)

Với nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư, tôi đã từng khâm phục viết về tập truyện ngắn của chị. Đó là một trong ít nhà văn nữ mà tôi đánh giá cao về sức viết và sự tinh tế của tác phẩm. Cần nhắc lại ở đây những thành quả trước khi nhà văn công bố cuốn tiểu thuyết độc đáo, thú vị về sự hòa hợp sau chiến tranh của hai phía cuộc chiến: 8 tập truyện ngắn; 2 tập truyện ngắn thiếu nhi; 5 tiểu thuyết; 1 kịch bản phim truyện nhựa; 1 kịch bản phim truyền hình dài tập.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng danh giá: 2 Giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (năm 1985 và 1987); 2 Giải thưởng của Đài Tiếng nói Việt Nam (năm 2002 và 2003); 1 Giải thưởng của Báo Phụ nữ Thủ đô (năm 2010); 1 Giải Khuyến khích, 1 Giải C của Bộ Công An (năm 2022).

*

Khi viết cuốn tiểu thuyết này, tác giả đã có bề dày sự nghiệp và sự trưởng thành của bút pháp. Dĩ nhiên, ai cũng biết trong văn chương, không nhất thiết cuốn sau hay hơn cuốn trước, vượt trội cuốn trước. Nhưng với nhà văn Anh Thư thì những ưu điểm của các cuốn đã viết đều bộc lộ đầy đủ và làm nên cái hay vượt trội của cuốn sách này.

Cuốn sách lấy cảm hứng từ một chi tiết có thật: Năm 1983, có hai người nước ngoài đã vượt biển vào Việt Nam để tìm kiếm kho báu trên đảo Hòn Tre, một sự kiện gây xôn xao và gợi mở những câu chuyện về bí ẩn lịch sử lẫn khát vọng khám phá những giá trị ẩn giấu của một quốc gia bên bờ biển.

Cứ ngỡ câu chuyện sẽ là cuộc tìm kho báu li kì, hấp dẫn thường gặp trong văn học Việt Nam và thế giới. Nhưng không phải vậy. Đấy chỉ là cảm hứng khơi nguồn sáng tạo. Nội dung cuốn sách là câu chuyện của những người Việt Nam ở hai phía cuộc chiến, là giai đoạn khó khăn, phức tạp khi chiến tranh kết thúc, đất nước bị bao vây, cấm vận, hàng loạt người “vượt biên” bỏ nước ra đi. Tác phẩm khắc họa sâu sắc hình ảnh những người cha như ông Mười, ông Ba; người mẹ, người vợ như bà Hạnh An mẹ của Cát Bình, bà Lê Thị Diệu Mai mẹ của cô Út; những người con như Út, Cát Bình,… Họ là “báu vật” thực sự của dân tộc - với tình yêu thương, sự hy sinh và sức mạnh vượt qua mọi nghịch cảnh.

Đồng thời, cuốn sách cũng mở ra một thế giới tâm linh huyền bí, nơi những linh hồn tổ tiên và các thế lực siêu nhiên hiện diện, như một lời nhắc nhở về mối liên kết thiêng liêng giữa con người và cội nguồn.

Cái khó của nhà văn Việt Nam nói chung và Anh Thư nói riêng là viết về những người nước ngoài, những người thuộc nền văn hóa và tín ngưỡng khác, xa lạ với chúng ta nhưng Anh Thư đã vượt qua một cách ngoạn mục: Hai nhân vật thanh niên là Mike và Robert, hai ông bố của hai gia đình có truyền thống khác nhau là Vanderbilt và Tony; rồi trường đại học mà hai cậu theo học, làm quen nhau rồi cùng nhau đi tìm kho báu. Tất cả đều hợp lý và hấp dẫn.

Trong câu chuyện về người lính Mỹ và người lính Việt Cộng cũng rất nhân văn: Em trai của bố Mike từng được Trần Hòa Bình, con trai của Đại tá Trần Hạnh không bắn khi bị thương nặng. Hòa Bình hy sinh. Ông bố của Mike chôn cất người lính này, vẽ sơ đồ nấm mộ và giữ bức thư người lính ấy gửi cha mình. Cả Mike và Robert đều tham gia cuộc tìm mộ cảm động đó. Đặc biệt họ tìm thấy hài cốt người lính Việt Nam Cộng hòa là Nguyễn Văn Yên cùng với hài cốt của Trần Hòa Bình. Chương 13, “Nghĩa cử”, là chương xúc động về sự hòa hợp dân tộc.

Nhà văn đã không cho bạn đọc biết sớm lai lịch ông Ba trên đảo. Dần dần người ta mới biết ông được lệnh đi công tác. Tưởng hai năm sau Tổng tuyển cử, ông sẽ về. Nhưng mãi sau chiến thắng ông mới về. Người vợ của ông đã lấy chồng khác. Hai người vượt biên bị chết. Đứa con trai là Cát Bình không nhận cha, hận ông Ba bỏ mẹ con anh ta…

Rồi câu chuyện của chú Tư trôi dạt được ông Ba cứu giúp. Hóa ra ông Tư lại chính là Thiếu tá Đinh Bá Nhất làm ở Phủ Đặc vụ của chính quyền Sài Gòn. Ông biết rõ vụ án Trần Minh Nghĩa, cha của Út, người cảm tình với Việt Cộng đã cứu giúp ông Mười. Ông Nghĩa chịu tiếng oan là bị Việt Cộng bắn chết,…

Một chi tiết đáng chú ý ở phần Vĩ thanh, khi Út vào một tiệm phở nơi thành phố nhỏ của bang Virginia. Cuộc nói chuyện kì thị giữa một Việt kiều với vợ chồng vị chủ quán và Út cho thấy tinh thần hòa hợp dân tộc không dễ dàng, vẫn còn người cố chấp.Việc Luật sư tập sự ÚT biện hộ cho người lính Việt Nam Cộng hòa Lê Văn Chất với lời lẽ chí tình, chí lí rất đáng khâm phục…

Có thể nói là tinh thần hòa giải, hòa hợp, khép lại quá khứ không chỉ của người Việt với người Việt, mà cả người Việt với người Mỹ được thể hiện tinh tế, thuyết phục. Rất đáng ghi nhận.

 

Tiểu thuyết vừa có tính chất tượng trưng, vừa có tính phiêu lưu mạo hiểm, vừa rất chân thực về những cuộc đời, những số phận của người Việt, người Mỹ trong chiến tranh. Kết hợp được nhiều chủ đề, gắn kết nhiều số phận, tác giả quả đã rất thành công trong việc khám phá “kho báu trời Nam” giới thiệu với bạn bè thế giới. Như lời của Robert nói với ông Mười: “Tuy chúng cháu chưa tìm được kho báu ấy, nhưng chúng cháu vẫn luôn cảm thấy may mắn khi được đặt chân lên đất nước Việt Nam này. Ở nơi này có những câu chuyện thật phi thường, cùng những con người thật phi thường. Chắc đây mới thực sự là một kho báu dành cho chúng cháu” (tr. 248).

Nhà văn đã giới thiệu thiên nhiên Việt Nam, con người Việt Nam, văn hóa, tín ngưỡng Việt Nam, ẩm thực Việt Nam với hai chàng thanh niên Anh và Mỹ. Và rộng ra là tất cả những người nước ngoài. Dẫu biết rằng mọi so sánh đều khập khiễng. Nhưng sao tôi cứ muốn so sánh tác phẩm văn chương này của Nguyễn Thị Anh Thư với tác phẩm video âm nhạc “Bắc Bling” của ca sĩ Hòa Minzy hợp tác với nghệ sĩ hài Xuân Hinh và nhạc sĩ Tuấn Cry .

Phải nói rằng Nguyễn Thị Anh Thư đã rất thành công khi phân tích tâm lý, khi miêu tả cảnh thiên nhiên hùng vĩ cũng như cảnh ghê sợ của cuồng phong trên biển, hay sự dữ dội, khủng khiếp trong “Hang cướp biển”, trong “Đền thần”.

Tôi từng viết về tập truyện ngắn “Bản tình ca mê đắm” của Nguyễn Thị Anh Thư như sau: “Tuy không nhiều, nhưng tác giả có sử dụng thủ pháp “truyền kì” ở một số truyện. Có người sẽ bảo đó là “liêu trai” của Bồ Tùng Linh, hoặc xa hơn là “huyền ảo Mỹ Latinh”. Tôi thì cho rằng những thủ pháp, yếu tố đó đã có trong “Việt điện U linh” của Lý Tế Xuyên, tác phẩm văn học viết đầu tiên của Việt Nam thế kỉ XIV, rồi trong truyện của Lê Thánh Tông.

Đặc biệt là “Truyền kì mạn lục”của Nguyễn Dữ”(*) . Trong tiểu thuyết này sự kì lạ kèm thêm yếu tố khoa học, tâm linh được sử dụng nhiều hơn. Từ “dãy số kì diệu của Thượng đế” trong hộp gia bảo của Robert về ngày tháng năm sinh, suy ra người thứ nhất là Robert, người thứ hai là Mike, người thứ ba là Út. Bộ ba đó kết hợp để tìm kho báu. Rồi những chữ viết tắt: KThan là đảo Cá Thần, núi N.L. là núi Ngự Long. Những dòng chữ bí hiểm trong tấm bản đồ, bài hát đồng dao của trẻ con mà cô Út thuộc, chiếc tù và mà Nhơn tặng Robert... Những lần rúc tù và theo các nốt nhạc… Tất cả làm tăng thêm sự li kì, huyền bí, hấp dẫn của câu chuyện.

Không ít những trang cảm động khiến bạn đọc rưng rưng hay người nhạy cảm thì tuôn rơi nước mắt,…

Có thể khẳng định đây là một cuốn tiểu thuyết hay của nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư. Càng có ý nghĩa khi chúng ta bước vào đúng ngày lễ Kỉ niệm 50 năm thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc!

Hà Nội, 28/3/2025

* “Cây bút văn xuôi nữ tinh tế - Nguyễn Thị Anh Thư” - Vũ Nho (Nguồn https://clbvanchuong.com/nguyen-thi-anh-thu-cay-but-nu-tinh-te-bid2885.html).

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm