TIN TỨC

Cuốn tiểu thuyết hay về hòa hợp dân tộc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-06 21:34:02
mail facebook google pos stwis
847 lượt xem

PGS.TS VŨ NHO (Văn nghệ Công an)

Với nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư, tôi đã từng khâm phục viết về tập truyện ngắn của chị. Đó là một trong ít nhà văn nữ mà tôi đánh giá cao về sức viết và sự tinh tế của tác phẩm. Cần nhắc lại ở đây những thành quả trước khi nhà văn công bố cuốn tiểu thuyết độc đáo, thú vị về sự hòa hợp sau chiến tranh của hai phía cuộc chiến: 8 tập truyện ngắn; 2 tập truyện ngắn thiếu nhi; 5 tiểu thuyết; 1 kịch bản phim truyện nhựa; 1 kịch bản phim truyền hình dài tập.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng danh giá: 2 Giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (năm 1985 và 1987); 2 Giải thưởng của Đài Tiếng nói Việt Nam (năm 2002 và 2003); 1 Giải thưởng của Báo Phụ nữ Thủ đô (năm 2010); 1 Giải Khuyến khích, 1 Giải C của Bộ Công An (năm 2022).

*

Khi viết cuốn tiểu thuyết này, tác giả đã có bề dày sự nghiệp và sự trưởng thành của bút pháp. Dĩ nhiên, ai cũng biết trong văn chương, không nhất thiết cuốn sau hay hơn cuốn trước, vượt trội cuốn trước. Nhưng với nhà văn Anh Thư thì những ưu điểm của các cuốn đã viết đều bộc lộ đầy đủ và làm nên cái hay vượt trội của cuốn sách này.

Cuốn sách lấy cảm hứng từ một chi tiết có thật: Năm 1983, có hai người nước ngoài đã vượt biển vào Việt Nam để tìm kiếm kho báu trên đảo Hòn Tre, một sự kiện gây xôn xao và gợi mở những câu chuyện về bí ẩn lịch sử lẫn khát vọng khám phá những giá trị ẩn giấu của một quốc gia bên bờ biển.

Cứ ngỡ câu chuyện sẽ là cuộc tìm kho báu li kì, hấp dẫn thường gặp trong văn học Việt Nam và thế giới. Nhưng không phải vậy. Đấy chỉ là cảm hứng khơi nguồn sáng tạo. Nội dung cuốn sách là câu chuyện của những người Việt Nam ở hai phía cuộc chiến, là giai đoạn khó khăn, phức tạp khi chiến tranh kết thúc, đất nước bị bao vây, cấm vận, hàng loạt người “vượt biên” bỏ nước ra đi. Tác phẩm khắc họa sâu sắc hình ảnh những người cha như ông Mười, ông Ba; người mẹ, người vợ như bà Hạnh An mẹ của Cát Bình, bà Lê Thị Diệu Mai mẹ của cô Út; những người con như Út, Cát Bình,… Họ là “báu vật” thực sự của dân tộc - với tình yêu thương, sự hy sinh và sức mạnh vượt qua mọi nghịch cảnh.

Đồng thời, cuốn sách cũng mở ra một thế giới tâm linh huyền bí, nơi những linh hồn tổ tiên và các thế lực siêu nhiên hiện diện, như một lời nhắc nhở về mối liên kết thiêng liêng giữa con người và cội nguồn.

Cái khó của nhà văn Việt Nam nói chung và Anh Thư nói riêng là viết về những người nước ngoài, những người thuộc nền văn hóa và tín ngưỡng khác, xa lạ với chúng ta nhưng Anh Thư đã vượt qua một cách ngoạn mục: Hai nhân vật thanh niên là Mike và Robert, hai ông bố của hai gia đình có truyền thống khác nhau là Vanderbilt và Tony; rồi trường đại học mà hai cậu theo học, làm quen nhau rồi cùng nhau đi tìm kho báu. Tất cả đều hợp lý và hấp dẫn.

Trong câu chuyện về người lính Mỹ và người lính Việt Cộng cũng rất nhân văn: Em trai của bố Mike từng được Trần Hòa Bình, con trai của Đại tá Trần Hạnh không bắn khi bị thương nặng. Hòa Bình hy sinh. Ông bố của Mike chôn cất người lính này, vẽ sơ đồ nấm mộ và giữ bức thư người lính ấy gửi cha mình. Cả Mike và Robert đều tham gia cuộc tìm mộ cảm động đó. Đặc biệt họ tìm thấy hài cốt người lính Việt Nam Cộng hòa là Nguyễn Văn Yên cùng với hài cốt của Trần Hòa Bình. Chương 13, “Nghĩa cử”, là chương xúc động về sự hòa hợp dân tộc.

Nhà văn đã không cho bạn đọc biết sớm lai lịch ông Ba trên đảo. Dần dần người ta mới biết ông được lệnh đi công tác. Tưởng hai năm sau Tổng tuyển cử, ông sẽ về. Nhưng mãi sau chiến thắng ông mới về. Người vợ của ông đã lấy chồng khác. Hai người vượt biên bị chết. Đứa con trai là Cát Bình không nhận cha, hận ông Ba bỏ mẹ con anh ta…

Rồi câu chuyện của chú Tư trôi dạt được ông Ba cứu giúp. Hóa ra ông Tư lại chính là Thiếu tá Đinh Bá Nhất làm ở Phủ Đặc vụ của chính quyền Sài Gòn. Ông biết rõ vụ án Trần Minh Nghĩa, cha của Út, người cảm tình với Việt Cộng đã cứu giúp ông Mười. Ông Nghĩa chịu tiếng oan là bị Việt Cộng bắn chết,…

Một chi tiết đáng chú ý ở phần Vĩ thanh, khi Út vào một tiệm phở nơi thành phố nhỏ của bang Virginia. Cuộc nói chuyện kì thị giữa một Việt kiều với vợ chồng vị chủ quán và Út cho thấy tinh thần hòa hợp dân tộc không dễ dàng, vẫn còn người cố chấp.Việc Luật sư tập sự ÚT biện hộ cho người lính Việt Nam Cộng hòa Lê Văn Chất với lời lẽ chí tình, chí lí rất đáng khâm phục…

Có thể nói là tinh thần hòa giải, hòa hợp, khép lại quá khứ không chỉ của người Việt với người Việt, mà cả người Việt với người Mỹ được thể hiện tinh tế, thuyết phục. Rất đáng ghi nhận.

 

Tiểu thuyết vừa có tính chất tượng trưng, vừa có tính phiêu lưu mạo hiểm, vừa rất chân thực về những cuộc đời, những số phận của người Việt, người Mỹ trong chiến tranh. Kết hợp được nhiều chủ đề, gắn kết nhiều số phận, tác giả quả đã rất thành công trong việc khám phá “kho báu trời Nam” giới thiệu với bạn bè thế giới. Như lời của Robert nói với ông Mười: “Tuy chúng cháu chưa tìm được kho báu ấy, nhưng chúng cháu vẫn luôn cảm thấy may mắn khi được đặt chân lên đất nước Việt Nam này. Ở nơi này có những câu chuyện thật phi thường, cùng những con người thật phi thường. Chắc đây mới thực sự là một kho báu dành cho chúng cháu” (tr. 248).

Nhà văn đã giới thiệu thiên nhiên Việt Nam, con người Việt Nam, văn hóa, tín ngưỡng Việt Nam, ẩm thực Việt Nam với hai chàng thanh niên Anh và Mỹ. Và rộng ra là tất cả những người nước ngoài. Dẫu biết rằng mọi so sánh đều khập khiễng. Nhưng sao tôi cứ muốn so sánh tác phẩm văn chương này của Nguyễn Thị Anh Thư với tác phẩm video âm nhạc “Bắc Bling” của ca sĩ Hòa Minzy hợp tác với nghệ sĩ hài Xuân Hinh và nhạc sĩ Tuấn Cry .

Phải nói rằng Nguyễn Thị Anh Thư đã rất thành công khi phân tích tâm lý, khi miêu tả cảnh thiên nhiên hùng vĩ cũng như cảnh ghê sợ của cuồng phong trên biển, hay sự dữ dội, khủng khiếp trong “Hang cướp biển”, trong “Đền thần”.

Tôi từng viết về tập truyện ngắn “Bản tình ca mê đắm” của Nguyễn Thị Anh Thư như sau: “Tuy không nhiều, nhưng tác giả có sử dụng thủ pháp “truyền kì” ở một số truyện. Có người sẽ bảo đó là “liêu trai” của Bồ Tùng Linh, hoặc xa hơn là “huyền ảo Mỹ Latinh”. Tôi thì cho rằng những thủ pháp, yếu tố đó đã có trong “Việt điện U linh” của Lý Tế Xuyên, tác phẩm văn học viết đầu tiên của Việt Nam thế kỉ XIV, rồi trong truyện của Lê Thánh Tông.

Đặc biệt là “Truyền kì mạn lục”của Nguyễn Dữ”(*) . Trong tiểu thuyết này sự kì lạ kèm thêm yếu tố khoa học, tâm linh được sử dụng nhiều hơn. Từ “dãy số kì diệu của Thượng đế” trong hộp gia bảo của Robert về ngày tháng năm sinh, suy ra người thứ nhất là Robert, người thứ hai là Mike, người thứ ba là Út. Bộ ba đó kết hợp để tìm kho báu. Rồi những chữ viết tắt: KThan là đảo Cá Thần, núi N.L. là núi Ngự Long. Những dòng chữ bí hiểm trong tấm bản đồ, bài hát đồng dao của trẻ con mà cô Út thuộc, chiếc tù và mà Nhơn tặng Robert... Những lần rúc tù và theo các nốt nhạc… Tất cả làm tăng thêm sự li kì, huyền bí, hấp dẫn của câu chuyện.

Không ít những trang cảm động khiến bạn đọc rưng rưng hay người nhạy cảm thì tuôn rơi nước mắt,…

Có thể khẳng định đây là một cuốn tiểu thuyết hay của nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư. Càng có ý nghĩa khi chúng ta bước vào đúng ngày lễ Kỉ niệm 50 năm thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc!

Hà Nội, 28/3/2025

* “Cây bút văn xuôi nữ tinh tế - Nguyễn Thị Anh Thư” - Vũ Nho (Nguồn https://clbvanchuong.com/nguyen-thi-anh-thu-cay-but-nu-tinh-te-bid2885.html).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm