TIN TỨC

Đọc tập thơ Dọc đường máu của Vương Cường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-02-28 11:50:24
mail facebook google pos stwis
2489 lượt xem

Tiến sĩ Vương Cường là một cựu chiến binh, nguyên giảng viên nhiều năm làm công tác nghiên cứu và quản lý khoa học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ông đồng thời là nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với số lượng tác phẩm đã in gồm 5 tập thơ, 3 tập tiểu luận và tản văn. Thơ và các tiểu luận của Vương Cường không còn xa lạ với độc giả yêu thơ, vì đều có giọng điệu riêng, vả chăng vì chính ông đã tuyên bố “Thơ chỉ cho phép đi một mình, không đi tập thể”;Với thơ, không có sinh sản vô tính”.

Nhà thơ Vương Cường và tập thơ "Dọc đường máu".

Tập thơ Dọc đường máu (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024) là tác phẩm thơ mới nhất của Vương Cường và là tập thơ chào mừng kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam (1975 - 2025). Dọc đường máu là một bản trường ca bi tráng, khắc họa chân thực và đầy xúc động về cuộc chiến tranh, về những người lính và ký ức không thể phai nhòa của một thế hệ đã đi qua lửa đạn. Với ngôn ngữ sắc bén, hình ảnh giàu sức gợi và cảm xúc chân thành, tập thơ không chỉ là lời tri ân dành cho những đồng đội đã ngã xuống mà còn là một chứng tích sống động về cuộc chiến khốc liệt nhưng hào hùng. Tập thơ này không chỉ là hồi ức, mà còn là lời nhắc nhớ, để chúng ta không quên những trang sử bi tráng của dân tộc, quả đúng như tôi đã viết về anh trong cuốn “102 mảnh ghép văn nhân” (Nxb Hội Nhà văn, 2017): “Là tiến sĩ mang tâm hồn thi sĩ/ Anh sợ lãng quên một thuở bi hùng”.

Tập thơ bao quát nhiều chủ đề về chiến tranh và người lính, nhưng nổi bật nhất vẫn là về Ký ức chiến trường, Tình đồng đội, Nỗi đau hậu chiến Triết lý nhân sinh. Tác giả sử dụng một lối thơ giàu hình ảnh, cô đọng nhưng sắc sảo. Ông kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, giữa hồi ức và hiện thực, giữa những chi tiết sống động và những liên tưởng triết lý. Câu thơ của ông không quá cầu kỳ, không lên gân, nhưng luôn chạm đến tận cùng cảm xúc người đọc. Nhịp điệu thơ biến đổi linh hoạt, có lúc chậm rãi như lời kể chuyện, có lúc dồn dập như nhịp chân hành quân.

Ví dụ, trong bài "Khi ấy mặt trời chưa lên" (trang 35), nhịp thơ chậm rãi, trầm lắng như lời kể chuyện:

"Chỉ có ánh sáng vừa lên
mới trông rõ giải sao trong khói bom
không đứng yên, mang tâm hồn chiến sỹ
mới trông rõ dòng sông Đồng Nai
lấp loáng chảy ngang..."

Ngược lại, trong bài "Quỹ đạo hình sin" (trang 24), nhịp thơ dồn dập, căng thẳng, như hơi thở gấp gáp của chiến trận:

"Bom nổ nhấc xe lên, đặt xuống
Quỹ đạo hình sin có bước nhảy giữa chừng
Khói bom ùa vào buồng lái tối sầm
cái gạt nước bị thương quét bụi
khoảng thấy trước chỉ một tầm tay với
đoàn xe không đèn lầm lũi chạy trong đêm."

Câu thơ của ông không hoa mỹ cầu kỳ, nhưng lại có sức lay động không nhỏ. Chẳng hạn, trong bài "Ngã xuống trước bình minh" (trang 33), ông viết:

"Đã vượt qua cả ngàn cây số đạn bom
bạn ngã xuống giữa rừng cao su Bà Rịa
Đành chịu lỗi với mẹ..."

Những câu thơ như vậy thể hiện sự giản dị nhưng đầy đau đớn và chân thực về chiến tranh.

Bên cạnh giá trị nội dung và nghệ thuật, tập thơ còn mang đến một không gian ký ức sống động, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về tinh thần bất khuất của những người lính năm xưa. Có thể khẳng định, Dọc đường máu là một tập thơ rất đáng được trân trọng về người lính Cụ Hồ.

Thơ Vương Cường không chỉ là hồi ức, mà còn là lời nhắc nhớ, để chúng ta không quên những trang sử bi tráng của dân tộc. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu chùm 5 bài thơ rút từ tác phẩm này.

Nguyên Hùng chọn và giới thiệu.

 

Cặp mắt cô giao liên mở ra lần cuối

Cặp mắt ấy mở ra
bầu trời thêm vào hai ngôi sao mới
em thu hết những mái nhà khổ đau nặng trĩu
dòng sông, những con cò lặn lội
cánh đồng, những bông lúa sót
em lắng nghe tiếng hát ầu ơ
thuở nhỏ của bà
em thu về và mang đi
những cột khói hình nấm tàn phá quê nhà

Em có làm thơ đâu
nhưng em là thi sỹ
đôi bàn chân len lỏi giữa rừng sâu
chiếc võng mắc chông chênh bên bờ suối
vừng trăng xanh tỏa mát góc rừng

Những cột khói hình nấm rung lên dữ dội
em quay lại phía sau
những binh đoàn theo chân em ra trận
mảnh đất đòi tự do
mảnh đất đòi giải phóng
những dấu chân lỗ chỗ in dày
trên đất nước thân yêu
đã thành tiếng gọi em
từ bao giờ hỡi em gái giao liên - thi sỹ?

Em khát khao cuộc sống
từng nhành lá cũng thành thơ, thành nhạc
mái nhà lá đơn sơ mộc mạc
bếp lửa hồng ai đó nhen nhóm nhau
tôi muốn nói rất nhiều
bằng sự lặng im
vết thương em xuyên suốt cả đoàn quân

Ơi cặp mắt em giao liên – thi sỹ
đã khép lại rồi trong tay chúng tôi
những người chiến sỹ
không phải bầu trời tắt hai ngôi sao
mà rực cháy một trời rực rỡ
những binh đoàn nhận thêm ánh sáng từ em
ra trận

Những cột khói hình nấm sẽ tan
những cột khói hình nấm sẽ tan!
mai đây đất nước rợp trắng cánh cò
trời xanh chim dệt
vĩnh biệt em - cuộc đời mến yêu
cả nước nhớ em
người im lặng ngã xuống dọc đường

Ơi giọt nắng ban mai trong suốt
tôi muốn tạc tượng đài em
giữa lồng lộng Trường Sơn...


Trường Sơn 3/ 1975

 

Ngã xuống trước bình minh 

Đã vượt qua cả ngàn cây số đạn bom
bạn ngã xuống giữa rừng cao su Bà Rịa


Đành chịu lỗi với mẹ

Ngày mai
chiến dịch cuối cùng sẽ mở
chắc mẹ ở nhà dõi theo
chờ
máu chảy theo hình chữ S
chảy đến mỗi ngõ nhà…

 

Khi ấy mặt trời chưa lên

Chỉ có pháo bắn thật gần
mới được cười thoải mái
bom nổ loạt thật dài
mới hát hết một câu
pháo sáng vãi đúng đầu
mới nhìn rõ mặt nhau
mới nhìn rõ những cái đầu
mọc lên từ cát
giống một vườn cây ươm 

Chỉ có dứt hẳn tiếng pháo tiếng bom
mới nghe tiếng gào của dòng sông chảy xiết
tiếng quẫy nước phải rất tinh mới nghe thấy được
trong chớp lửa nhập nhòe chúng tôi vượt sông 

Chỉ có ánh sáng vừa lên
mới trông rõ giải sao trong khói bom
không đứng yên, mang tâm hồn chiến sỹ
mới trông rõ dòng sông Đồng Nai
lấp loáng chảy ngang
và đội hình chúng tôi vượt qua hàng dọc
thành một dấu cộng
mặt trời khi ấy chưa lên 

Mặt trời sẽ lên thôi
chúng tôi đẩy mặt trời lên
để nhìn rõ Sài Gòn phía trước
để viên đạn bay đi khỏi lạc
bầy chim xòe quạt đón mặt trời 

Sài Gòn ơi!
hồi hộp kia rồi
qua họng súng bồn chồn trên sóng nước
mặt trời khi ấy vẫn chưa lên...

Vượt sông Đồng Nai
30/ 4/ 1975

 

Người chết hai lần, cuộc đi chưa trọn

Giờ anh không thắp được nén hương
trên nấm mộ của mình
như bốn mươi hai năm về trước

Lính vận tải khiêng anh về, một chân cụt tận gốc
đồng đội mang vùi xuống đất
không quan tài
không vải lượm
không cần cành lá che mặt
không cần mảnh sắt tây lương khô han rỉ
khắc mộ chí
không cần đắp đất vồng lên
dán cỏ
không sơ đồ
không giỗ chạp
mộ chân
coi như không mộ

Đồng đội cõng anh ra thăm
anh thắp một nắm hương
rải một ôm hoa dại
anh vái trời
anh vái đất
anh khóc, trách phần cơ thể không chờ nhau
biết cuộc tiễn đưa mấy người có được
anh tiễn đưa chân mình

Giờ người thân lượm anh bằng vải đỏ
mặt đánh phấn
cùng nằm bên anh
là đôi nạng gỗ
mấy tấm huân chương
một nắm đất
một mảnh trời xanh
một góc thành Quảng Trị
tiễn anh, gió đưa bài ca một thuở
tiễn anh, nắng đưa nét vàng hắt hiu một thuở
tiễn anh, có những người lính già, mắt đục

Ai được chết hai lần?
ai được khóc mình khi mình đã chết?
ai được chạy trong đời một chân?
ai đã đi là đi sau hết?
ai tưởng đến lượt mình
lại hóa ra không?

Thôi từ giã một đời đi sau
cuộc tìm kiếm lại mới bắt đầu
người chết hai lần
cuộc đi chưa trọn…

 

Cõng bạn đi chơi

Nằm giữa cánh rừng sâu không tên
hay dưới đáy sông Thạch Hãn
úp mặt vào bùn
mày nhìn thấy gì đâu
đôi chân đứt lìa mấy đoạn
mày có đi được đâu

Đêm đêm trăng khuất bóng hiên nhà
gió giật đùng đùng trong cơn mê dại
cái miệng mày bê bết máu
tao có ngủ được đâu

Thức cõng mày đi mấy vòng cho đã
mày hăm hở đến nhà người yêu
gặp bà già nhăn nheo tóc bạc
trong đáy mắt có vài vết sẹo
vết sẹo nước mắt bào không khô

Mày xăm xăm chạy ùa tìm mẹ
cả bố mẹ mày đã ra gò mả
hai nắm đất lặng im
hai nắm đất một thời biết khóc
đêm đêm thả nước mắt vào mưa
thả buồn vào gió
thả mong chờ vào hư vô

Mày loạng choạng vào bàn thờ thắp hương
lại gặp mình ngồi cười sau nải chuối

Thôi mày về đi
cái thằng hai mươi tuổi
tao thương mày
mày chẳng biết thương tao…


4/ 2016

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm