TIN TỨC

Đọc tập thơ Dọc đường máu của Vương Cường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-02-28 11:50:24
mail facebook google pos stwis
1967 lượt xem

Tiến sĩ Vương Cường là một cựu chiến binh, nguyên giảng viên nhiều năm làm công tác nghiên cứu và quản lý khoa học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ông đồng thời là nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với số lượng tác phẩm đã in gồm 5 tập thơ, 3 tập tiểu luận và tản văn. Thơ và các tiểu luận của Vương Cường không còn xa lạ với độc giả yêu thơ, vì đều có giọng điệu riêng, vả chăng vì chính ông đã tuyên bố “Thơ chỉ cho phép đi một mình, không đi tập thể”;Với thơ, không có sinh sản vô tính”.

Nhà thơ Vương Cường và tập thơ "Dọc đường máu".

Tập thơ Dọc đường máu (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024) là tác phẩm thơ mới nhất của Vương Cường và là tập thơ chào mừng kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam (1975 - 2025). Dọc đường máu là một bản trường ca bi tráng, khắc họa chân thực và đầy xúc động về cuộc chiến tranh, về những người lính và ký ức không thể phai nhòa của một thế hệ đã đi qua lửa đạn. Với ngôn ngữ sắc bén, hình ảnh giàu sức gợi và cảm xúc chân thành, tập thơ không chỉ là lời tri ân dành cho những đồng đội đã ngã xuống mà còn là một chứng tích sống động về cuộc chiến khốc liệt nhưng hào hùng. Tập thơ này không chỉ là hồi ức, mà còn là lời nhắc nhớ, để chúng ta không quên những trang sử bi tráng của dân tộc, quả đúng như tôi đã viết về anh trong cuốn “102 mảnh ghép văn nhân” (Nxb Hội Nhà văn, 2017): “Là tiến sĩ mang tâm hồn thi sĩ/ Anh sợ lãng quên một thuở bi hùng”.

Tập thơ bao quát nhiều chủ đề về chiến tranh và người lính, nhưng nổi bật nhất vẫn là về Ký ức chiến trường, Tình đồng đội, Nỗi đau hậu chiến Triết lý nhân sinh. Tác giả sử dụng một lối thơ giàu hình ảnh, cô đọng nhưng sắc sảo. Ông kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, giữa hồi ức và hiện thực, giữa những chi tiết sống động và những liên tưởng triết lý. Câu thơ của ông không quá cầu kỳ, không lên gân, nhưng luôn chạm đến tận cùng cảm xúc người đọc. Nhịp điệu thơ biến đổi linh hoạt, có lúc chậm rãi như lời kể chuyện, có lúc dồn dập như nhịp chân hành quân.

Ví dụ, trong bài "Khi ấy mặt trời chưa lên" (trang 35), nhịp thơ chậm rãi, trầm lắng như lời kể chuyện:

"Chỉ có ánh sáng vừa lên
mới trông rõ giải sao trong khói bom
không đứng yên, mang tâm hồn chiến sỹ
mới trông rõ dòng sông Đồng Nai
lấp loáng chảy ngang..."

Ngược lại, trong bài "Quỹ đạo hình sin" (trang 24), nhịp thơ dồn dập, căng thẳng, như hơi thở gấp gáp của chiến trận:

"Bom nổ nhấc xe lên, đặt xuống
Quỹ đạo hình sin có bước nhảy giữa chừng
Khói bom ùa vào buồng lái tối sầm
cái gạt nước bị thương quét bụi
khoảng thấy trước chỉ một tầm tay với
đoàn xe không đèn lầm lũi chạy trong đêm."

Câu thơ của ông không hoa mỹ cầu kỳ, nhưng lại có sức lay động không nhỏ. Chẳng hạn, trong bài "Ngã xuống trước bình minh" (trang 33), ông viết:

"Đã vượt qua cả ngàn cây số đạn bom
bạn ngã xuống giữa rừng cao su Bà Rịa
Đành chịu lỗi với mẹ..."

Những câu thơ như vậy thể hiện sự giản dị nhưng đầy đau đớn và chân thực về chiến tranh.

Bên cạnh giá trị nội dung và nghệ thuật, tập thơ còn mang đến một không gian ký ức sống động, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về tinh thần bất khuất của những người lính năm xưa. Có thể khẳng định, Dọc đường máu là một tập thơ rất đáng được trân trọng về người lính Cụ Hồ.

Thơ Vương Cường không chỉ là hồi ức, mà còn là lời nhắc nhớ, để chúng ta không quên những trang sử bi tráng của dân tộc. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu chùm 5 bài thơ rút từ tác phẩm này.

Nguyên Hùng chọn và giới thiệu.

 

Cặp mắt cô giao liên mở ra lần cuối

Cặp mắt ấy mở ra
bầu trời thêm vào hai ngôi sao mới
em thu hết những mái nhà khổ đau nặng trĩu
dòng sông, những con cò lặn lội
cánh đồng, những bông lúa sót
em lắng nghe tiếng hát ầu ơ
thuở nhỏ của bà
em thu về và mang đi
những cột khói hình nấm tàn phá quê nhà

Em có làm thơ đâu
nhưng em là thi sỹ
đôi bàn chân len lỏi giữa rừng sâu
chiếc võng mắc chông chênh bên bờ suối
vừng trăng xanh tỏa mát góc rừng

Những cột khói hình nấm rung lên dữ dội
em quay lại phía sau
những binh đoàn theo chân em ra trận
mảnh đất đòi tự do
mảnh đất đòi giải phóng
những dấu chân lỗ chỗ in dày
trên đất nước thân yêu
đã thành tiếng gọi em
từ bao giờ hỡi em gái giao liên - thi sỹ?

Em khát khao cuộc sống
từng nhành lá cũng thành thơ, thành nhạc
mái nhà lá đơn sơ mộc mạc
bếp lửa hồng ai đó nhen nhóm nhau
tôi muốn nói rất nhiều
bằng sự lặng im
vết thương em xuyên suốt cả đoàn quân

Ơi cặp mắt em giao liên – thi sỹ
đã khép lại rồi trong tay chúng tôi
những người chiến sỹ
không phải bầu trời tắt hai ngôi sao
mà rực cháy một trời rực rỡ
những binh đoàn nhận thêm ánh sáng từ em
ra trận

Những cột khói hình nấm sẽ tan
những cột khói hình nấm sẽ tan!
mai đây đất nước rợp trắng cánh cò
trời xanh chim dệt
vĩnh biệt em - cuộc đời mến yêu
cả nước nhớ em
người im lặng ngã xuống dọc đường

Ơi giọt nắng ban mai trong suốt
tôi muốn tạc tượng đài em
giữa lồng lộng Trường Sơn...


Trường Sơn 3/ 1975

 

Ngã xuống trước bình minh 

Đã vượt qua cả ngàn cây số đạn bom
bạn ngã xuống giữa rừng cao su Bà Rịa


Đành chịu lỗi với mẹ

Ngày mai
chiến dịch cuối cùng sẽ mở
chắc mẹ ở nhà dõi theo
chờ
máu chảy theo hình chữ S
chảy đến mỗi ngõ nhà…

 

Khi ấy mặt trời chưa lên

Chỉ có pháo bắn thật gần
mới được cười thoải mái
bom nổ loạt thật dài
mới hát hết một câu
pháo sáng vãi đúng đầu
mới nhìn rõ mặt nhau
mới nhìn rõ những cái đầu
mọc lên từ cát
giống một vườn cây ươm 

Chỉ có dứt hẳn tiếng pháo tiếng bom
mới nghe tiếng gào của dòng sông chảy xiết
tiếng quẫy nước phải rất tinh mới nghe thấy được
trong chớp lửa nhập nhòe chúng tôi vượt sông 

Chỉ có ánh sáng vừa lên
mới trông rõ giải sao trong khói bom
không đứng yên, mang tâm hồn chiến sỹ
mới trông rõ dòng sông Đồng Nai
lấp loáng chảy ngang
và đội hình chúng tôi vượt qua hàng dọc
thành một dấu cộng
mặt trời khi ấy chưa lên 

Mặt trời sẽ lên thôi
chúng tôi đẩy mặt trời lên
để nhìn rõ Sài Gòn phía trước
để viên đạn bay đi khỏi lạc
bầy chim xòe quạt đón mặt trời 

Sài Gòn ơi!
hồi hộp kia rồi
qua họng súng bồn chồn trên sóng nước
mặt trời khi ấy vẫn chưa lên...

Vượt sông Đồng Nai
30/ 4/ 1975

 

Người chết hai lần, cuộc đi chưa trọn

Giờ anh không thắp được nén hương
trên nấm mộ của mình
như bốn mươi hai năm về trước

Lính vận tải khiêng anh về, một chân cụt tận gốc
đồng đội mang vùi xuống đất
không quan tài
không vải lượm
không cần cành lá che mặt
không cần mảnh sắt tây lương khô han rỉ
khắc mộ chí
không cần đắp đất vồng lên
dán cỏ
không sơ đồ
không giỗ chạp
mộ chân
coi như không mộ

Đồng đội cõng anh ra thăm
anh thắp một nắm hương
rải một ôm hoa dại
anh vái trời
anh vái đất
anh khóc, trách phần cơ thể không chờ nhau
biết cuộc tiễn đưa mấy người có được
anh tiễn đưa chân mình

Giờ người thân lượm anh bằng vải đỏ
mặt đánh phấn
cùng nằm bên anh
là đôi nạng gỗ
mấy tấm huân chương
một nắm đất
một mảnh trời xanh
một góc thành Quảng Trị
tiễn anh, gió đưa bài ca một thuở
tiễn anh, nắng đưa nét vàng hắt hiu một thuở
tiễn anh, có những người lính già, mắt đục

Ai được chết hai lần?
ai được khóc mình khi mình đã chết?
ai được chạy trong đời một chân?
ai đã đi là đi sau hết?
ai tưởng đến lượt mình
lại hóa ra không?

Thôi từ giã một đời đi sau
cuộc tìm kiếm lại mới bắt đầu
người chết hai lần
cuộc đi chưa trọn…

 

Cõng bạn đi chơi

Nằm giữa cánh rừng sâu không tên
hay dưới đáy sông Thạch Hãn
úp mặt vào bùn
mày nhìn thấy gì đâu
đôi chân đứt lìa mấy đoạn
mày có đi được đâu

Đêm đêm trăng khuất bóng hiên nhà
gió giật đùng đùng trong cơn mê dại
cái miệng mày bê bết máu
tao có ngủ được đâu

Thức cõng mày đi mấy vòng cho đã
mày hăm hở đến nhà người yêu
gặp bà già nhăn nheo tóc bạc
trong đáy mắt có vài vết sẹo
vết sẹo nước mắt bào không khô

Mày xăm xăm chạy ùa tìm mẹ
cả bố mẹ mày đã ra gò mả
hai nắm đất lặng im
hai nắm đất một thời biết khóc
đêm đêm thả nước mắt vào mưa
thả buồn vào gió
thả mong chờ vào hư vô

Mày loạng choạng vào bàn thờ thắp hương
lại gặp mình ngồi cười sau nải chuối

Thôi mày về đi
cái thằng hai mươi tuổi
tao thương mày
mày chẳng biết thương tao…


4/ 2016

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm