TIN TỨC

Đọc tập thơ Dọc đường máu của Vương Cường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-02-28 11:50:24
mail facebook google pos stwis
2171 lượt xem

Tiến sĩ Vương Cường là một cựu chiến binh, nguyên giảng viên nhiều năm làm công tác nghiên cứu và quản lý khoa học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ông đồng thời là nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với số lượng tác phẩm đã in gồm 5 tập thơ, 3 tập tiểu luận và tản văn. Thơ và các tiểu luận của Vương Cường không còn xa lạ với độc giả yêu thơ, vì đều có giọng điệu riêng, vả chăng vì chính ông đã tuyên bố “Thơ chỉ cho phép đi một mình, không đi tập thể”;Với thơ, không có sinh sản vô tính”.

Nhà thơ Vương Cường và tập thơ "Dọc đường máu".

Tập thơ Dọc đường máu (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024) là tác phẩm thơ mới nhất của Vương Cường và là tập thơ chào mừng kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam (1975 - 2025). Dọc đường máu là một bản trường ca bi tráng, khắc họa chân thực và đầy xúc động về cuộc chiến tranh, về những người lính và ký ức không thể phai nhòa của một thế hệ đã đi qua lửa đạn. Với ngôn ngữ sắc bén, hình ảnh giàu sức gợi và cảm xúc chân thành, tập thơ không chỉ là lời tri ân dành cho những đồng đội đã ngã xuống mà còn là một chứng tích sống động về cuộc chiến khốc liệt nhưng hào hùng. Tập thơ này không chỉ là hồi ức, mà còn là lời nhắc nhớ, để chúng ta không quên những trang sử bi tráng của dân tộc, quả đúng như tôi đã viết về anh trong cuốn “102 mảnh ghép văn nhân” (Nxb Hội Nhà văn, 2017): “Là tiến sĩ mang tâm hồn thi sĩ/ Anh sợ lãng quên một thuở bi hùng”.

Tập thơ bao quát nhiều chủ đề về chiến tranh và người lính, nhưng nổi bật nhất vẫn là về Ký ức chiến trường, Tình đồng đội, Nỗi đau hậu chiến Triết lý nhân sinh. Tác giả sử dụng một lối thơ giàu hình ảnh, cô đọng nhưng sắc sảo. Ông kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, giữa hồi ức và hiện thực, giữa những chi tiết sống động và những liên tưởng triết lý. Câu thơ của ông không quá cầu kỳ, không lên gân, nhưng luôn chạm đến tận cùng cảm xúc người đọc. Nhịp điệu thơ biến đổi linh hoạt, có lúc chậm rãi như lời kể chuyện, có lúc dồn dập như nhịp chân hành quân.

Ví dụ, trong bài "Khi ấy mặt trời chưa lên" (trang 35), nhịp thơ chậm rãi, trầm lắng như lời kể chuyện:

"Chỉ có ánh sáng vừa lên
mới trông rõ giải sao trong khói bom
không đứng yên, mang tâm hồn chiến sỹ
mới trông rõ dòng sông Đồng Nai
lấp loáng chảy ngang..."

Ngược lại, trong bài "Quỹ đạo hình sin" (trang 24), nhịp thơ dồn dập, căng thẳng, như hơi thở gấp gáp của chiến trận:

"Bom nổ nhấc xe lên, đặt xuống
Quỹ đạo hình sin có bước nhảy giữa chừng
Khói bom ùa vào buồng lái tối sầm
cái gạt nước bị thương quét bụi
khoảng thấy trước chỉ một tầm tay với
đoàn xe không đèn lầm lũi chạy trong đêm."

Câu thơ của ông không hoa mỹ cầu kỳ, nhưng lại có sức lay động không nhỏ. Chẳng hạn, trong bài "Ngã xuống trước bình minh" (trang 33), ông viết:

"Đã vượt qua cả ngàn cây số đạn bom
bạn ngã xuống giữa rừng cao su Bà Rịa
Đành chịu lỗi với mẹ..."

Những câu thơ như vậy thể hiện sự giản dị nhưng đầy đau đớn và chân thực về chiến tranh.

Bên cạnh giá trị nội dung và nghệ thuật, tập thơ còn mang đến một không gian ký ức sống động, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về tinh thần bất khuất của những người lính năm xưa. Có thể khẳng định, Dọc đường máu là một tập thơ rất đáng được trân trọng về người lính Cụ Hồ.

Thơ Vương Cường không chỉ là hồi ức, mà còn là lời nhắc nhớ, để chúng ta không quên những trang sử bi tráng của dân tộc. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu chùm 5 bài thơ rút từ tác phẩm này.

Nguyên Hùng chọn và giới thiệu.

 

Cặp mắt cô giao liên mở ra lần cuối

Cặp mắt ấy mở ra
bầu trời thêm vào hai ngôi sao mới
em thu hết những mái nhà khổ đau nặng trĩu
dòng sông, những con cò lặn lội
cánh đồng, những bông lúa sót
em lắng nghe tiếng hát ầu ơ
thuở nhỏ của bà
em thu về và mang đi
những cột khói hình nấm tàn phá quê nhà

Em có làm thơ đâu
nhưng em là thi sỹ
đôi bàn chân len lỏi giữa rừng sâu
chiếc võng mắc chông chênh bên bờ suối
vừng trăng xanh tỏa mát góc rừng

Những cột khói hình nấm rung lên dữ dội
em quay lại phía sau
những binh đoàn theo chân em ra trận
mảnh đất đòi tự do
mảnh đất đòi giải phóng
những dấu chân lỗ chỗ in dày
trên đất nước thân yêu
đã thành tiếng gọi em
từ bao giờ hỡi em gái giao liên - thi sỹ?

Em khát khao cuộc sống
từng nhành lá cũng thành thơ, thành nhạc
mái nhà lá đơn sơ mộc mạc
bếp lửa hồng ai đó nhen nhóm nhau
tôi muốn nói rất nhiều
bằng sự lặng im
vết thương em xuyên suốt cả đoàn quân

Ơi cặp mắt em giao liên – thi sỹ
đã khép lại rồi trong tay chúng tôi
những người chiến sỹ
không phải bầu trời tắt hai ngôi sao
mà rực cháy một trời rực rỡ
những binh đoàn nhận thêm ánh sáng từ em
ra trận

Những cột khói hình nấm sẽ tan
những cột khói hình nấm sẽ tan!
mai đây đất nước rợp trắng cánh cò
trời xanh chim dệt
vĩnh biệt em - cuộc đời mến yêu
cả nước nhớ em
người im lặng ngã xuống dọc đường

Ơi giọt nắng ban mai trong suốt
tôi muốn tạc tượng đài em
giữa lồng lộng Trường Sơn...


Trường Sơn 3/ 1975

 

Ngã xuống trước bình minh 

Đã vượt qua cả ngàn cây số đạn bom
bạn ngã xuống giữa rừng cao su Bà Rịa


Đành chịu lỗi với mẹ

Ngày mai
chiến dịch cuối cùng sẽ mở
chắc mẹ ở nhà dõi theo
chờ
máu chảy theo hình chữ S
chảy đến mỗi ngõ nhà…

 

Khi ấy mặt trời chưa lên

Chỉ có pháo bắn thật gần
mới được cười thoải mái
bom nổ loạt thật dài
mới hát hết một câu
pháo sáng vãi đúng đầu
mới nhìn rõ mặt nhau
mới nhìn rõ những cái đầu
mọc lên từ cát
giống một vườn cây ươm 

Chỉ có dứt hẳn tiếng pháo tiếng bom
mới nghe tiếng gào của dòng sông chảy xiết
tiếng quẫy nước phải rất tinh mới nghe thấy được
trong chớp lửa nhập nhòe chúng tôi vượt sông 

Chỉ có ánh sáng vừa lên
mới trông rõ giải sao trong khói bom
không đứng yên, mang tâm hồn chiến sỹ
mới trông rõ dòng sông Đồng Nai
lấp loáng chảy ngang
và đội hình chúng tôi vượt qua hàng dọc
thành một dấu cộng
mặt trời khi ấy chưa lên 

Mặt trời sẽ lên thôi
chúng tôi đẩy mặt trời lên
để nhìn rõ Sài Gòn phía trước
để viên đạn bay đi khỏi lạc
bầy chim xòe quạt đón mặt trời 

Sài Gòn ơi!
hồi hộp kia rồi
qua họng súng bồn chồn trên sóng nước
mặt trời khi ấy vẫn chưa lên...

Vượt sông Đồng Nai
30/ 4/ 1975

 

Người chết hai lần, cuộc đi chưa trọn

Giờ anh không thắp được nén hương
trên nấm mộ của mình
như bốn mươi hai năm về trước

Lính vận tải khiêng anh về, một chân cụt tận gốc
đồng đội mang vùi xuống đất
không quan tài
không vải lượm
không cần cành lá che mặt
không cần mảnh sắt tây lương khô han rỉ
khắc mộ chí
không cần đắp đất vồng lên
dán cỏ
không sơ đồ
không giỗ chạp
mộ chân
coi như không mộ

Đồng đội cõng anh ra thăm
anh thắp một nắm hương
rải một ôm hoa dại
anh vái trời
anh vái đất
anh khóc, trách phần cơ thể không chờ nhau
biết cuộc tiễn đưa mấy người có được
anh tiễn đưa chân mình

Giờ người thân lượm anh bằng vải đỏ
mặt đánh phấn
cùng nằm bên anh
là đôi nạng gỗ
mấy tấm huân chương
một nắm đất
một mảnh trời xanh
một góc thành Quảng Trị
tiễn anh, gió đưa bài ca một thuở
tiễn anh, nắng đưa nét vàng hắt hiu một thuở
tiễn anh, có những người lính già, mắt đục

Ai được chết hai lần?
ai được khóc mình khi mình đã chết?
ai được chạy trong đời một chân?
ai đã đi là đi sau hết?
ai tưởng đến lượt mình
lại hóa ra không?

Thôi từ giã một đời đi sau
cuộc tìm kiếm lại mới bắt đầu
người chết hai lần
cuộc đi chưa trọn…

 

Cõng bạn đi chơi

Nằm giữa cánh rừng sâu không tên
hay dưới đáy sông Thạch Hãn
úp mặt vào bùn
mày nhìn thấy gì đâu
đôi chân đứt lìa mấy đoạn
mày có đi được đâu

Đêm đêm trăng khuất bóng hiên nhà
gió giật đùng đùng trong cơn mê dại
cái miệng mày bê bết máu
tao có ngủ được đâu

Thức cõng mày đi mấy vòng cho đã
mày hăm hở đến nhà người yêu
gặp bà già nhăn nheo tóc bạc
trong đáy mắt có vài vết sẹo
vết sẹo nước mắt bào không khô

Mày xăm xăm chạy ùa tìm mẹ
cả bố mẹ mày đã ra gò mả
hai nắm đất lặng im
hai nắm đất một thời biết khóc
đêm đêm thả nước mắt vào mưa
thả buồn vào gió
thả mong chờ vào hư vô

Mày loạng choạng vào bàn thờ thắp hương
lại gặp mình ngồi cười sau nải chuối

Thôi mày về đi
cái thằng hai mươi tuổi
tao thương mày
mày chẳng biết thương tao…


4/ 2016

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm