TIN TỨC

“Thu thức giấc” của Trịnh Bích Ngân - Mùa của những rung động

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-08 08:05:06
mail facebook google pos stwis
1173 lượt xem

TRẦN HÀ YÊN
 

THU THỨC GIẤC
 

Đêm/ Vẩn đục/ Tinh tuyền

Mùa thu/ Trong tôi/ Thức giấc

 

Mùa thu/ Những mùa thu cách tôi/

Một tầm tay/ Một vòng ôm/

Mà quất quýt/ Và đắm say

 

Mùa thu trong tôi/ Chiếc lá chín vàng

Ngất ngây nụ hôn/ Của gió

 

Nụ hôn / Xuyên thời gian / Vượt qua cách trở

Mà giông bão / Và tử thần

Không thể / Tách chia

 

Đêm / Tinh tuyền /

Vẩn đục

Mùa thu / Trong tôi / Đỏ cháy

(TRỊNH BÍCH NGÂN)
 

Mùa thu, mùa của những rung động nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, đã từ lâu trở thành nguồn cảm hứng bất tận trong văn chương và thi ca. Trong bài thơ Thu Thức Giấc, trích Nghiêng về phía nỗi đau của nhà thơ Trịnh Bích Ngân, mùa thu không chỉ hiện diện như một hiện tượng thời tiết hay một khung cảnh thiên nhiên, mà còn là một miền cảm xúc sâu kín, một sự thức tỉnh của tâm hồn. Thu Thức Giấc như dòng suối chảy qua từng ngóc ngách ký ức, chạm đến trái tim người đọc bằng những hình ảnh vừa quen thuộc, vừa bất ngờ.

Bài thơ mở đầu bằng một sự đối lập đầy ám ảnh: Đêm / vẩn đục / tinh tuyền /. Sự đối lập giữa vẩn đụctinh tuyền không chỉ là một trạng thái của đêm, mà còn gợi lên sự giằng xé trong nội tâm con người. Đêm tối thường gắn với sự u uất, nặng nề của ký ức, nhưng đồng thời cũng là khoảng lặng tinh khiết, nơi con người soi chiếu vào chính mình. Cách ngắt dòng độc đáo giúp nhấn mạnh sự đối lập này, tạo ra một không gian đầy trầm tư, nơi người đọc cảm nhận rõ hơn sự xáo trộn của cảm xúc.

Câu thơ Mùa thu / trong tôi / thức giấc / cho ta thấy đây không chỉ đơn thuần là sự chuyển mùa của thiên nhiên, mà còn là một sự thức tỉnh trong tâm hồn con người. Mùa thu trong bài thơ không chỉ là một khoảnh khắc của thời gian, mà còn là biểu tượng cho ký ức, cho những cảm xúc đã từng ngủ yên nay lại bừng tỉnh. Cụm từ trong tôi thức giấc cho thấy một sự trở mình, một sự hồi sinh của những cảm xúc tưởng chừng đã bị chôn vùi theo năm tháng.

Hình ảnh những mùa thu cách tôi / một tầm tay / một vòng ôm / mang đến cảm giác vừa gần gũi, vừa xa xôi. Chỉ một tầm tay, chỉ một vòng ôm, tưởng chừng dễ dàng chạm tới, nhưng thực tế lại là một khoảng cách không thể vượt qua. Điều này khơi gợi nỗi nhớ về những mùa thu đã trôi qua, những con người đã từng hiện diện trong đời nhưng giờ chỉ còn là hồi ức. Câu thơ ngắn gọn nhưng đầy ám ảnh, như một tiếng thở dài giữa dòng chảy vô tận của thời gian.

Hình ảnh đẹp và giàu sức gợi: Chiếc lá chín vàng / ngất ngây nụ hôn / của gió mang đến một cảm giác lãng mạn, bay bổng. Chiếc lá chín vàng là biểu tượng quen thuộc của mùa thu, của sự chuyển giao giữa sống và tàn, giữa rực rỡ và héo úa. Nhưng trong bài thơ này, chiếc lá không đơn thuần chỉ rơi rụng trong lặng lẽ mà lại ngất ngây như thể đang chìm đắm trong một khoảnh khắc yêu đương đầy đam mê với gió. Ở đây, nụ hôn của gió không chỉ là sự ve vuốt của thiên nhiên mà còn là sự giao hòa của cảm xúc con người, một khoảnh khắc yêu thương nồng nàn dù biết rằng rồi sẽ tan biến.

Nhưng điều đặc biệt hơn cả là nụ hôn / xuyên thời gian / vượt qua cách trở. Không còn là một cái chạm thoáng qua giữa thiên nhiên và vạn vật, mà đó là sự bất tử của những cảm xúc chân thành. Giữa cuộc đời đầy biến động, có những điều có thể bị xóa nhòa, nhưng cũng có những tình cảm không gì có thể chia cắt, dù là giông bão / và tử thần. Đây là một trong những hình ảnh có tác dụng gợi cảm mạnh mẽ nhất của bài thơ. Câu thơ đã nhấn mạnh và khẳng định rằng: Tình yêu, ký ức và những rung động sâu lắng trong tâm hồn con người có thể vượt lên trên những rào cản khắc nghiệt nhất của thời gian và cuộc đời.

Bài thơ khép lại bằng một hình ảnh đẹp, sáng tạo đến bất ngờ: Mùa thu / trong tôi / đỏ cháy /. Nếu như mùa thu thường gợi đến sự dịu dàng, lắng đọng với sắc vàng và những cơn gió nhẹ, thì ở đây, nó lại hiện lên trong sắc màu đỏ cháy, một hình ảnh mạnh mẽ, dữ dội. Phải chăng, đây là ngọn lửa của những cảm xúc bùng nổ, của những ký ức không thể nguôi ngoai, hay chính là sức sống mãnh liệt còn rực cháy ngay cả trong những ngày thu tưởng chừng lặng lẽ?

Bằng những hình ảnh giàu sức gợi, những đối lập tinh tế và cách diễn đạt súc tích, bài thơ Thu Thức Giấc không chỉ đơn thuần là một bản nhạc thu buồn, mà còn là một lời khẳng định về sự bất diệt của những rung cảm trong tâm hồn con người. Mùa thu trong thơ không chỉ là một mùa của thiên nhiên, mà còn là mùa của ký ức, của những nỗi niềm không thể gọi tên, của những xúc cảm đã từng tưởng chừng ngủ yên nhưng vẫn âm ỉ cháy trong tâm hồn chủ thể trữ tình - nhà thơ - và trong tâm hồn của mỗi chúng ta.

Nhà thơ Bích Ngân đã khéo léo kết hợp những thủ pháp nghệ thuật độc đáo và lựa chọn ngôn từ chuẩn xác để diễn tả tâm trạng. Ngôn từ ở đây cô đọng, giàu hình ảnh. Một trong những điểm đặc biệt của bài thơ là cách tác giả sử dụng ngôn từ cô đọng, tối giản nhưng giàu sức gợi. Mỗi câu thơ ngắn, chỉ vài từ, tạo ra một nhịp điệu rời rạc, như sự ngập ngừng, như nhịp thổn thức của con tim rung động trước mùa thu. Tất cả như những mảnh ghép nhỏ nhưng lại tạo nên bức tranh cảm xúc toàn vẹn của chủ thể trữ tình. Các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng như tương phản, nhân hóa hay những hình ảnh mang tính biểu tượng… có tác dụng làm nổi bật vẻ đẹp đa chiều của mùa thu. Ví dụ như phép tương phản được sử dụng ở ngay từ đầu bài thơ. Đó là sự đối lập giữa "vẩn đục" "tinh tuyền" đã tạo nên một cảm giác vừa căng thẳng, vừa hài hòa. Đây không chỉ là sự tương phản về mặt hình ảnh, mà còn là sự đối lập giữa hai trạng thái tâm hồn: Hỗn loạn và thanh tịnh, khát khao và bình yên. Hoặc những hình ảnh có tính biểu tượng như chiếc lá chín vàng, nụ hôn của gió, mùa thu đỏ cháy…tất cả đều là những biểu tượng đầy sức gợi, mang đến những tầng ý nghĩa sâu sắc. Chiếc lá không chỉ đơn thuần là hình ảnh thực của thiên nhiên, đó là biểu tượng của thời gian, của sự đổi thay. Nụ hôn của gió là sự giao hòa giữa trời đất và con người. Việc nhân hóa các hình ảnh tự nhiên như chiếc lá, gió, mùa thu đã thổi hồn vào từng câu chữ, khiến cho thiên nhiên trở nên sống động, gần gũi hơn. Điều này cũng giúp người đọc cảm nhận được sự gắn kết mật thiết giữa con người và thiên nhiên. Không phải vô tình mà các câu thơ trong cả bài thơ đều là những câu ngắn, giàu nhạc tính. Nhà thơ không sử dụng những câu thơ kể lể, dài dòng, cũng không phô bày cảm xúc một cách lộ liễu mà gợi mở tinh tế cho sự cảm nhận. Chị không trực tiếp bày tỏ cảm xúc hay áp đặt một thông điệp cụ thể lên người đọc. Trong suốt chiều dài bài thơ, ta không thấy Bích Ngân nói “Tôi nhớ mùa thu”, hay bảo rằng “Tôi buồn” mà chị chỉ vẽ ra những hình ảnh, những sắc thái cảm xúc để người đọc tự mình cảm nhận. Chẳng hạn, khi viết: Những mùa thu cách tôi / một tầm tay / một vòng ôm, nhà thơ không nói rõ đó là nỗi nhớ về ai, về điều gì, nhưng chính sự mơ hồ ấy lại tạo nên sức mạnh. Không có những lời khẳng định rõ ràng về nỗi nhớ, tình yêu hay sự mất mát, nhưng mỗi hình ảnh lại mở ra một thế giới riêng, khiến người đọc tự soi chiếu vào mùa thu của chính mình. Đó có thể là một hoài niệm đẹp đẽ, một tiếc nuối mơ hồ, hoặc một cảm giác khát khao muốn níu giữ những điều đã qua. Người đọc có thể tự gán ghép mùa thu ấy với những gì họ đã đánh mất và đó chính là nét đẹp của sự gợi mở trong phong cách thơ của Bích Ngân. Tác giả đã để những khoảng trống cho người đọc tự mình lấp đầy.

Cũng trong bài thơ Thu Thức Giấc, người đọc dễ dàng nhận ra có sự biến đổi trong nhịp điệu, từ lặng lẽ đến bùng cháy. Đây cũng là điểm đặc sắc trong phong cách thơ của Bích Ngân nói chung và đặc biệt trong tập thơ Nghiêng về phía nỗi đau. Ngay từ đầu bài thơ, nhịp thơ đã chậm rãi, như một bước chân nhẹ nhàng bước vào không gian mùa thu. Những câu thơ ngắn, từng chữ như rơi xuống một cách dè dặt, tạo ra cảm giác suy tư: Mùa thu / trong tôi/ thức giấc. Nhưng đến cuối bài thơ, nhịp điệu trở nên dồn dập hơn, mạnh mẽ hơn: Mùa thu /trong tôi/ đỏ cháy. Hay từ sự dịu dàng, lắng đọng của thu, tác giả bất ngờ kết thúc bằng một hình ảnh đầy kịch tính, mùa thu không còn là màu vàng êm ả, mà là đỏ cháy. Đây có thể xem là cao trào cảm xúc của bài thơ. Sự đỏ cháy này không chỉ là một hình ảnh thị giác, mà còn là cảm giác của một trái tim đang rực lửa, một tâm hồn không chịu ngủ yên trong nỗi buồn mà muốn bùng cháy với những khát khao, những rung động mãnh liệt. Sự thay đổi nhịp điệu này khiến bài thơ không còn là một bản nhạc trầm buồn của mùa thu, mà có cả những nốt thăng, những khoảnh khắc bùng nổ đầy cảm xúc.

Có thể nói rằng, Thu Thức Giấc không chỉ đơn thuần là một bài thơ về mùa thu mà còn là một bức tranh cảm xúc đầy biến động của con người trước thời gian, ký ức và những rung động sâu thẳm trong tâm hồn. Mùa thu trong bài thơ không chỉ là sắc vàng của lá rơi, làn gió nhẹ thoảng qua, mà còn là một thực thể sống động, mang theo hơi thở của quá khứ, hiện tại và cả những khao khát không tên.

Nhà thơ đã tạo nên một không gian thơ đặc biệt, nơi mùa thu không chỉ gợi buồn mà còn chứa đựng sự mãnh liệt, nơi những cảm xúc tưởng như dịu dàng lại có thể đỏ cháy, nơi những ký ức tưởng như xa vời lại có thể xuyên thời gian, vượt qua cách trở. Mỗi câu thơ là một nhịp đập của trái tim, khi thì rời rạc, chậm rãi như tiếng thở dài của kẻ hoài niệm, khi thì bùng nổ, dữ dội như một ngọn lửa cảm xúc chưa bao giờ lụi tàn.

Thu Thức Giấc như một lời nhắc nhở rằng: Mùa thu không chỉ là một khoảnh khắc trong năm, mà còn là trạng thái của tâm hồn. Có những mùa thu chỉ đến một lần rồi đi, nhưng cũng có những mùa thu cứ mãi thức giấc trong lòng người, những mùa thu của tình yêu, của ký ức, của những rung cảm không thể gọi tên! Và dù mùa thu ấy dịu dàng hay rực cháy, nó vẫn mãi hiện hữu, như một phần không thể tách rời trong tâm hồn chúng ta. Và đó chính là giá trị lớn nhất của Thu Thức Giấc, một bài thơ không chỉ để đọc, mà còn để cảm!

(Bài đăng Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số tháng 4/2025)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm