TIN TỨC

Bây giờ tôi chỉ muốn nói: Cảm ơn!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-05 20:01:56
mail facebook google pos stwis
1232 lượt xem

TUẤN TRẦN

Thương gửi Thầy giáo, Nhà Phê bình Văn học Lê Thanh Nga.

Ra trường, trò vội vàng ly hương khi đã khẳng định rằng không thể có một danh phận thỏa đáng nơi quê mình. Những mùa bão đi qua, bao ngày đông tháng giá, trò mãi mê tìm danh phận, chọn bản chất... Khí thở đời sống thị thành ăn ngấm với nhiều nỗi nhọc nhằn khôn tả, ắt hẳn đã làm cho trò không thể là cậu thanh niên ngỗ ngược, sống không tiết độ như ngày còn trên giảng đường – Đã từng gây ra bao nỗi chán chường cho thầy cô và bạn bè.

Trò vẫn nhớ như in cái ngày thầy trò biết đến nhau, thông qua một "sự cố" trong cuộc thi nghiệp vụ Sư Phạm của Khoa. Phút chốc xốc nổi của trò đã tạo ra một ấn tượng nội tâm bất khiết, nhưng qua đó trò hiểu được thầy mình bao dung tới độ nào. Sau “sự vụ”, TS. Ngô Quỳnh Nga đã tâm sự với trò và có chia sẻ rằng, trong trò có hình bóng của Thầy - ở cái "khí khái": "Hi vọng Tuấn sẽ điều hòa bản ngã và ý thức hơn trong học tập và rèn luyện đạo đức để sau này làm nên nhiều việc hữu ích". Trò nào dám nhận, khi biết bao "cổ tích" được truyền miệng về hình ảnh một Lê Thanh Nga thông tuệ, duyên dáng và đã kinh qua những trải nghiệm tứa máu để trở thành vị Tiến Sĩ Lý luận phê bình trẻ nhất xứ Nghệ hồi ấy. Còn trò, nói ra thật đáng hổ thẹn, như lời nhận xét của một giảng viên Khoa giáo dục trường ta: "Thành phần dặt dẹo".

Năm năm xa quê, khi ra đi chẳng lời tạ từ, thời gian đằng đẵng trò bặt vô âm tín. Trò thật tội lỗi. Nhưng thầy biết chăng, trò vẫn kết nối với cô - vợ thầy. Vẫn luôn hỏi về “thầy tui” có còn ngấm rượu hay chăng, có chăm vẽ thư họa như thưở trước, hoặc biết cách giúp vợ sửa ống nước hay chưa… Nay vườn nhà có trồng nhiều hoa? cu cậu lớn lên viêm xoan đã đỡ lành hơn chưa?... Trò vẫn hướng về thầy, về ngọn đồi yên ắng bất động gần nhà, về mẹ cha đã già đang như cái bóng vào ra trong căn nhà mái lá đơn sơ…

Có lần đã từng tâm sự với cô về thời gian trò viết cuốn sách đầu tay, trò bị chảy máu cam nhiều ngày, những giọt máu đổ rơi tanh tưởi trên tay phím. Viết quả là đau đớn khôn tả… Qua đó, cô cũng nói về ngày mới chớm yêu, tới thăm gác xép của thầy và thấy những vệt máu như ai rảy lên tường. Hóa ra là có những đêm như thế, những đêm cam nhẫn bấy trần: đói và đau đời chữ nghĩa thầy đã hắt hơi ra máu… Trò hiểu rằng “Kafka” đã khiến thầy đổ máu. Cái luận văn mà dễ gì ai viết được trong thời buổi “chữ nghĩa giả trá” lên ngôi này, đã làm thầy bị thương. Trò biết rằng trong cơn đói bụng oằn thắt thầy vẫn đi tìm cầu sự no lòng suốt ngày dài đêm thâu ở thư viện thủ đô.

Một cậu học trò sớm thấm đau nghiệp văn chương đã trở nên “quái kiệt”, lánh mình trên Đại Huệ để “cưỡng cầu” cái đẹp nhói tim của thi ca thế gian trăm vạn quyển. Rồi ngày ra trường loay hoay, lật trở tìm cầu công việc,… Người con xứ Nghệ chỉ bữa đói bữa no lại thêm bị “trừng phạt” cho cái định mạng với văn chương và kịch nghệ, sẽ thêm đắng đót muôn phần. Nhưng sau biết bao biến đổi bể dâu, bao gắng gỏi phi thường, thầy tôi đã đánh một mốc son chói sáng trên con đường học vấn của mình, trở thành TS văn học khi còn rất trẻ. Quả là đớn đau mà xứng đáng. Phải chăng! Mọi điều lớn lao trên đời đều được đánh đổi bằng nỗi đau khổ vĩ đại khôn tả - như tiếng chim kia hót lên vài khúc gắt gao trang trọng trong bụi mận gai… Trò thương thầy biết mấy, một con người nhỏ nhắn mà ngang bạo, đã qua nhiều thăng giáng đời người, đối diện với sống còn vẫn một đường cao thượng mà đi. Trò mong mau chóng hết năm học để trở lại quê hương. Ngày hạnh ngộ với thầy, mình cụng ly và tỉ tê về chuyện của trò, những ngọn núi, những gió sương, bao ưu phiền chuốc sầu mà trò đã đi qua… Ngay lúc này trò khát khao chực trào hai tiếng quê hương…

Bốn năm trên giảng đường trò cứ để tâm trí bay theo đám mây qua bục giảng, rụng đi xiết bao “lời vàng ý ngọc” của một thế hệ gia công sư phạm mẫu mực hiếm có và không thể tìm lại được. Những ngày tháng tha phương, đày mình trong giếng đời trũng sâu mưu cầu dục vọng, thực lòng không còn nhiều thời gian để chăm sóc sự học, sự đọc...

Thầy biết đó, trò cũng chỉ là một hồn thơ bọt bèo, mong manh và chỉ muốn được mong manh, nhưng “thập tải phong trần” buộc nam nhân phải xốc liệt, điên cuồng để gánh ghì số phận, lắm lúc uột èo, hư nát, chênh chao trên khung trục tình - tiền - quyền. Trò sao quên được hương quê vị quán, đồi thông rú Chúa. Chẳng quên được con đường tắt ngang giữa đồng quê ám mộng đã nhiều hơn một lần trò cắp rượu đến ê a chuyện đời và thơ với Thầy. Có lúc thầy trò ta đôi mắt trâng trớ, trầm ngâm thầm thỉ thầy kể về người thầy khả kính của mình với những bài học giá máu, thấm nhuần tư cách của một chuyên gia văn học mẫu mực trên nhiều phương diện… Và giờ thầy đã là một người học trò xuất sắc của thầy mình.

Có phải thế này chăng như một nhà văn đã nói: “Anh giúp tôi thì người khác sẽ giúp anh” – Đó là quy luật muôn thưở. Giáo dục bao đời rễ đắng nhưng quả ngọt và văn học sẽ giúp người ta nhận ra được một kiếp sống ngắn ngủi đâu dễ dàng chi. Để rồi chính cái sống thật khó, thật khổ, thật nhọc nhằn đó mà ta biết sống sao cho xứng đáng, cho an trú và trọn vẹn trong hiện tại. Và trò hứa với thầy nguyện “sinh nghề tử nghiệp”, sống là con đẻ của giáo dục, chết làm “linh thần” trên cánh đồng chữ nghĩa…

Trong lòng trò luôn canh cánh về những hồi ức hoa niên đẹp đẽ đã qua, đeo ách đủng đẳng những lời cảm ơn và xin lỗi chưa kịp tỏ bày. Còn lại đó những mặc cảm khó đòi, những nỗi niềm thương nhớ giảng đường và thầy cô mà trước kia có những oán giận lòng riêng trò cố chấp chưa tiện để về. Nay đã đến lúc trò thắm lại một miền neo đậu, tìm đến thầy thỏa nỗi nặng lòng tri âm…

Thưa thầy! Nay trò viết đôi dòng cảm - hiểu, yêu, trân trọng và nhớ… Vì duyên cớ của một buổi trưa hiếm có, trò rảnh tay không bận bịu giấy tờ sách vở. Thời khí Sài Gòn cũng có chút bức bối lúc giữa ngọ. Nhưng có lẽ đường sách Nguyễn Huệ, dòng chảy văn chương và những thi dân, văn dân phóng thoáng dào dạt, chí tình chí nghĩa đã nhuốm đọng, vuốt dịu bầu không. Ăn trưa cùng nhà văn Tống Phước Bảo, trong cuộc trò chuyện về chữ nghĩa, Bảo có nhắc tới TS Lê Thanh Nga, một “nghệ nhân” thật trìu mến và dễ thương. Giây phút đó, đột nhiên như có điều chi cán qua tâm trí trò, và… cay mắt mọng mi. Thầy mình, người mà năm năm rồi mình không dám nhắc đến tên, sợ đứa trẻ hư này sẽ làm cấu uế danh dự của một con người chí kính - người đã sửa phạt mình bằng chỉ một lời "đau đáu": "Cho cậu mười năm, mười năm mà không sống cho ra con người, không trồng được một cái cây hay trở thành một giáo viên công lập thì xem như thầy trò ân đoạn nghĩa tuyệt". Chỉ có giáo viên công lập mơi có thể neo buộc cái bản chất “rừng rú” của tôi cho bớt đi cái “tùy tiện”, “chểnh mảng” - có thể thầy nghĩ vậy. Thực tế, sự nghiệp công lập cũng là nỗ lực vươn tới của trò.

Trò đã ôm mang lời phán bảo của thầy ra Bắc vào Nam để luôn dẻo dai nín chịu và nỗ lực sống sót... Dẫu giữa cái bề bộn cuộc sống, trong cơn rất đau thương lắm lúc trò hằn học và điên hận, “con sói đồng hoang” lại đánh động thời không trong địa mộ tâm linh trò, để trò đã từng rít lên như đang bị giết thịt. Nhưng trò chưa rời nghề một giờ nao, vẫn ngày hai buổi tới trường, đọc và viết như bền bỉ hơn mỗi ngày để tất cả niềm hận nỗi yêu giết chết trang giấy với đời sống trắng, bảo chứng cho rằng trò đã cố gắng đủ nhiều để tự “chữa thương” và không phụ công thầy đã từng dạy dỗ, để tâm và có lẽ thầy còn nhớ ít nhiều về cậu học trò phách lối thưở nào.

Thưa thầy! Trò nhớ thương cái hình dáng nhỏ nhắn, lăn lẳn, cái đầu nhẵn nhụn uẩn súc kim cổ  và cái miệng lắm lời duyên dáng, hóm hỉnh của Thầy. Hình ảnh một người nghệ sĩ/ nhân với tư thái rất dân gian đã thể hiện một cách có lý trong cái ôn nhu, từ ái, cẩn trọng của một nhà giáo. Thầy là dòng suối hiền hòa chảy tự nhiên từng đường ăn ý ở. Không cần tô lục chuốt hồng, là hữu xạ tự nhiên hương, cái cười đó rất hiền, cái cử động của đồng tử, mắt, môi, khóe miệng,… tất cả đều khiến người đối diện cảm thấy đời nhẹ khôn kham… Vì có khiêm tốn chiều kích nên thầy đi thật nhanh, hòa lẫn vào đám sinh viên chẳng nhận ra người thầy tuổi tác đâu nữa. Mọi cử chỉ đều rất tháo vát, bặt thiệp, tạo cảm sự thân gần ngay từ lần đầu tiếp xúc. Chính những điều đó đã làm cho người bạn - Nhà văn của trò hôm nay nhắc tới thầy bằng cách như nẩy nở trong lòng một niềm vui tha thiết...

Thầy cho trò mười năm, trò cũng chẳng biết năm năm tới trò sẽ trở nên như thế nào. Hiện tại trò vẫn chưa thể an trú nơi thân mình, đôi lúc chập chờn dại khôn... Nhưng sau những vấp váp thế lộ trò đã bớt đi chút ít “trí mờ nghiệp nặng”. Đã biết vấn trách mình và bớt đi những phức cảm vĩ cuồng, những lộ cuồng tàng ngạo với đời sống và nhân sinh. Trò vẫn thực hành yêu thương mỗi ngày, giống như thầy đã từng, thầy còn nhớ chăng khoảnh khắc giao thì năm đó, chuyển gió trở mùa thầy đã luồn tay vào vạt áo của trò để xem mặc đã đủ ấm chưa. Cái tế vi trong cách quan tâm đó, âm thầm như ngọn gió lan thấm vào tận đáy lòng rồi lại gửi hương ngược hướng tỏa bay. Thầy tôi, như một bài thơ nhưng rất sống động thực cảnh. Ngọn lửa yêu nghề, quý chữ nghĩa và tận hiến cho giáo dục nước nhà nói chung cũng như dạy học/ đào tạo giáo viên Ngữ Văn nói riêng luôn được đốt đuốc cho cháy rực.

TP. Hồ Chí Minh, 28/03/2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm